Theo Thủ tướng Lê Minh Hưng, trong bối cảnh thế giới khó khăn và nhiều biến động, quý 1 năm nay, kinh tế vĩ mô cơ bản được ổn định, tăng trưởng GDP ước đạt 7,83%; có 4 địa phương tăng trưởng trên 10%; chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân tăng 3,51%. Thu ngân sách nhà nước 3 tháng ước đạt 829.000 tỉ đồng, tăng 11,4%; thu hút vốn FDI tăng mạnh; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt gần 249,5 tỉ USD, tăng 23%.
Dù vậy, Thủ tướng đánh giá “kinh tế vĩ mô chịu nhiều tác động bất lợi từ bên ngoài, mục tiêu tăng trưởng 2 con số là thách thức rất lớn”. Hoạt động sản xuất, kinh doanh một số lĩnh vực gặp nhiều khó khăn. Các động lực tăng trưởng truyền thống phát huy hiệu quả dưới mức tiềm năng, sức mua trong nước thấp, xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI. Thị trường bất động sản phục hồi chậm, tiềm ẩn rủi ro. Một số thủ tục hành chính còn rườm rà, dịch vụ công trực tuyến chưa thực sự thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp…
Nhấn mạnh mục tiêu “tăng trưởng cao, bền vững thực chất” theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng cho biết đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt. Theo đó, thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Kiên quyết không để xảy ra mất ổn định vĩ mô, khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính ngân sách nhà nước, có giải pháp dự phòng để chủ động ứng phó biến động.
Bên cạnh đó, tập trung bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cả trước mắt và lâu dài, nhất là bảo đảm nguồn cung dầu thô, khí đốt. Triệt để tiết kiệm điện, năng lượng, đảm bảo không thiếu điện trong bất cứ tình huống nào. Bảo đảm ổn định và lành mạnh hóa các thị trường trọng yếu, nhất là thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, tiền tệ. Thủ tướng cho biết đã yêu cầu hệ thống ngân hàng ổn định mặt bằng lãi suất, cả lãi suất huy động và cho vay.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh giải pháp huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Chính phủ coi đây là giải pháp đặc biệt quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Thủ tướng cũng thông tin nhiều giải pháp như tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, quyết liệt cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”. Hoàn thành rà soát, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất trong quý 2/2026; sửa đổi luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn trong năm 2026.
Nhấn mạnh yêu cầu hoàn thành cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tư pháp báo cáo và trong tháng 4 sẽ cắt giảm triệt để các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh không cần thiết. Về hạ tầng, đẩy mạnh các tuyến đường sắt đô thị Hà Nội, TP.HCM, tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc, một số tuyến trên đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. Bảo đảm tiến độ xây dựng sân bay Gia Bình, mở rộng sân bay Phú Quốc, Chu Lai, Cà Mau. Xử lý cơ bản tình trạng ô nhiễm, không khí, ngập úng tại một số TP lớn như Hà Nội, TP.HCM. Phấn đấu hoàn thành trên 100.000 căn nhà ở xã hội trong năm 2026…
Góp ý thảo luận báo cáo KT-XH tại tổ, đại biểu (ĐB) Đỗ Đức Hồng Hà, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội (đoàn Hà Nội), đề nghị Chính phủ cần có giải trình làm rõ và có giải pháp căn cơ đối với một số vấn đề cốt lõi. Đầu tiên là nghịch lý giữa tỷ lệ giải ngân đầu tư công cao nhưng lãng phí, chậm trễ trong triển khai và xử lý tài sản công. Ông dẫn số liệu báo cáo cho thấy năm 2025 ghi nhận mức giải ngân đầu tư công kỷ lục, đạt 96,7% kế hoạch, nhiều địa phương có tỷ lệ giải ngân vượt mức rất cao. Tuy nhiên, ở phần hạn chế, Chính phủ lại thừa nhận vẫn có những dự án chậm triển khai, kéo dài thủ tục, dẫn đến đội vốn và nguy cơ thất thoát.
“Có hay không tình trạng “giải ngân trên giấy” hoặc giải ngân nhanh nhưng chất lượng công trình không đảm bảo, gây lãng phí nguồn lực dài hạn?”, ông Hà nêu vấn đề và đề nghị cần công khai danh sách các bộ, ngành, địa phương chậm trễ trong sắp xếp, xử lý tài sản công dôi dư. Ông đề nghị thiết lập cơ chế hậu kiểm chặt chẽ đối với hơn 5.200 dự án đã được tháo gỡ để bảo đảm phát huy hiệu quả kinh tế thực chất.
Nêu vấn đề kỷ cương công vụ, theo ĐB đoàn Hà Nội, dù bộ máy đã được tinh gọn, giúp tiết kiệm đáng kể chi thường xuyên nhưng vẫn còn tình trạng cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. “Lãng phí thời gian và cơ hội do cán bộ đình trệ công việc là loại lãng phí nguy hiểm nhất trong các loại lãng phí”, ông nhấn mạnh và đề nghị cần có giải pháp đột phá trong năm 2026 để lượng hóa hành vi né tránh trách nhiệm thành hành vi gây lãng phí, có thể xem xét xử lý bằng chế tài mạnh, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tương tự, ĐB Nguyễn Văn Thân (đoàn TP.HCM) cảnh báo về sự lãng phí từ khoảng 3.000 dự án đang ách tắc (tổng vốn hơn 2 triệu tỉ đồng) và đề nghị phải tháo gỡ ngay những gì không vướng pháp lý nghiêm trọng. Cạnh đó, ông Thân cho rằng để mục tiêu GDP năm 2026 và các năm tiếp theo tăng trên 10%, đòi hỏi những lộ trình KPI và quyết tâm chính trị rất cụ thể. Dưới góc độ doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh, ông đề xuất dành riêng 30% gói thầu cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm trực tiếp với Nhà nước thay vì phải làm thầu phụ cho các tập đoàn lớn. Về thuế, áp dụng “thuế ấn định” (nộp môn bài) cho hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đến 5 tỉ đồng/năm. Ông khẳng định giải pháp này vừa giảm phiền hà thủ tục, vừa có thể tạo ra nguồn thu minh bạch lên tới 50.000 – 60.000 tỉ đồng mỗi năm.
ĐB Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Hải Phòng) nhận định các mục tiêu KT-XH đặt ra là rất cao, trong khi thời gian còn lại rất ngắn. Chưa kể, yêu cầu tăng trưởng 2 con số gắn với bền vững, tăng trưởng xanh và nâng cao đời sống của người dân là mục tiêu kép, sẽ rất khó khăn. Song ông cũng đánh giá có những thuận lợi nhất định, khi T.Ư và Bộ Chính trị đã ban hành hàng loạt nghị quyết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế.
Quan tâm về các giải pháp đảm bảo năng lượng, ĐB đoàn Hải Phòng đề xuất cần xem đảm bảo điện cho sản xuất là ưu tiên số một; tăng trưởng 2 con số mà thiếu điện cục bộ như mùa mưa vừa qua thì sẽ gây ảnh hưởng dây chuyền đến mọi lĩnh vực, từ công nghiệp, logistics cho đến công nghệ… Theo đó, cần chuyển tư duy từ “ngành điện tự cân đối” sang “an ninh năng lượng là hạ tầng của tăng trưởng”; đẩy mạnh các nguồn điện chạy nền và nguồn linh hoạt (như LNG hoặc pin lưu trữ quy mô lớn), thay vì chỉ dựa vào điện mặt trời và điện gió.
Cùng mối quan tâm, ĐB Phạm Thúy Chinh (đoàn Hải Phòng) đề nghị Chính phủ quan tâm hơn nữa đối với lĩnh vực dự trữ quốc gia. Theo bà Chinh, dự trữ quốc gia hiện đều chưa đạt cả về nguồn lực và tổng mức dự trữ. Đây là vấn đề cần đặt ra, nhất là với dự trữ xăng dầu. VN chỉ đang dự trữ các sản phẩm xăng dầu mà chưa dự trữ dầu thô, khi xử lý các tình huống cấp bách sẽ rất khó khăn. Nữ ĐB cho hay khi xây dựng luật Dự trữ, bà có đi khảo sát tại các địa phương liên quan và thấy còn rất nhiều vấn đề, các kho và công nghệ bảo quản đã lạc hậu, hầu hết được đầu tư từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Bà đề nghị cần quan tâm đầu tư, hiện đại hóa công nghệ bảo quản cũng như xây dựng hệ thống kho bãi, trong đó có xăng dầu.
Sáng 12/4, thảo luận tại Quốc hội về dự án Luật Thủ đô sửa đổi, Phó chủ tịch Hội Luật gia tỉnh Đồng Tháp Phạm Văn Hòa, cho rằng một trong những vấn đề nhức nhối tại Thủ đô hiện nay là ô nhiễm môi trường.
Nhiều năm nay, chất lượng không khí ở Thủ đô thường xuyên ở mức rất thấp. Báo cáo quan trắc môi trường cho thấy chất lượng không khí thường ở mức trung bình hoặc xấu. "Đây là một vấn đề bất cập lớn khi dân cư Thủ đô hiện nay đã lên đến gần 10 triệu người, chưa kể người dân từ các nơi khác đổ về", đại biểu Hòa nói.
Ông cho rằng ngoài điều kiện thời tiết khí hậu bất lợi, nguyên nhân chính thực trạng này là do con người. Thủ đô đang quá đông dân cư, tập trung quá nhiều nhà cao tầng, xí nghiệp, bệnh viện, trường học và các cơ quan Trung ương.
"Để chất lượng không khí ngày càng tốt hơn, thế hệ sau này được sống trong môi trường trong sạch, xanh và văn minh, trước tiên chúng ta phải thực hiện giãn dân", ông nhấn mạnh.
Hiện nay ở Hà Nội, bộ phận lớn người dân sinh sống trong các ngõ ngách chỉ rộng khoảng một mét, đi lại khó khăn, thậm chí không có đường ra nếu có sự cố. Điều này chưa thực sự văn minh đối với một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước.
Theo ông Hòa, ô nhiễm cũng xuất phát từ việc sử dụng quá nhiều nhiên liệu từ sinh hoạt và hoạt động nhà máy, cơ sở công nghiệp. Nhiều thế hệ lãnh đạo thành phố đã rất quyết tâm di dời các nhà máy ra khỏi nội đô, song đến nay số lượng thực hiện được vẫn còn rất ít.
Đối với nhà tập thể, chung cư cũ xuống cấp, ông đề nghị quyết liệt không sửa chữa lại mà giải tỏa để lấy không gian. Theo ông, thành phố cần "chấp nhận hy sinh và mất mát một chút" ở hiện tại để 10 năm, 20 năm sau thế hệ trẻ được hưởng thành quả.
Để làm được điều này, ông kiến nghị Chính phủ và thành phố có chính sách nhà ở xã hội cho người dân và bổ sung nhiều cơ chế đặc thù để Hà Nội có thể giãn dân ra khỏi nội đô.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi cũng cho rằng vấn đề ô nhiễm không khí và ô nhiễm sông tại Hà Nội là những vấn đề tồn tại cần sớm được giải quyết.
Về vùng phát thải và kiểm soát giao thông xanh, Trung ương trước đó yêu cầu chuyển mạnh sang giao thông công cộng khối lượng lớn, từng bước hạn chế phương tiện cá nhân. Dự thảo luật đã thể chế hóa chủ trương này khi giao HĐND thành phố quy định phạm vi, lộ trình và phí giảm phát thải.
Tuy nhiên, để tránh xáo trộn xã hội, ông đề nghị bổ sung chính sách đầu tư hạ tầng thay thế như đường sắt đô thị, xe buýt nhanh phải đi trước một bước hoặc thực hiện đồng thời với các vùng phát thải thấp. Hà Nội cần phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành 100 km đường sắt đô thị theo đúng mục tiêu của Bộ Chính trị đã đề ra.
Điểm mới của dự thảo luật là cho phép Hà Nội hỗ trợ di dời các cơ sở, làng nghề gây ô nhiễm nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư. Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Quốc hội. Tuy nhiên theo ông, vấn đề quan trọng là nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ này.
Ông đề nghị dự thảo luật cần thiết bổ sung cơ chế tài chính đặc thù, cho phép Hà Nội được giữ lại cơ bản hoặc toàn bộ số phí thu bảo vệ môi trường như phí bảo vệ môi trường khí thải và nước thải, và trích tối thiểu 20% tăng thu ngân sách từ đất để lập Quỹ phát triển xanh của Thủ đô. Đây sẽ là nguồn lực ưu tiên cho di dời và tái định cư.
Về cơ chế phối hợp liên vùng, ông đề nghị nghiên cứu chế tài tài chính liên vùng, bắt buộc các địa phương thượng nguồn và trong vùng gây ô nhiễm phải đóng góp vào Quỹ phát triển vùng Thủ đô dựa trên mức độ đóng góp tải lượng ô nhiễm. "Cần chuyển từ chia sẻ trách nhiệm chung sang chia sẻ chi phí bắt buộc", ông nói.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Tạ Văn Hạ cũng quan tâm đến vấn đề hạ tầng, quy hoạch đặc biệt là quy định liên kết, phát triển vùng Thủ đô. Theo ông Hạ, khi thiết kế và thực thi các nội dung liên kết vùng, các vấn đề xã hội như an sinh, giá cả và lao động là những "biến số" cực kỳ quan trọng.
"Nếu không chú ý, Hà Nội có thể trở thành thỏi nam châm hút người di cư quá mạnh, gây ra sự mất cân bằng", ông nói.
Lấy ví dụ tác động của giá cả và mức sống khi liên kết vùng được đẩy mạnh, giá bất động sản có thể tăng vọt, sẽ tác động đến những người có thu nhập thấp, trong đó có công nhân vốn đã rất khó khăn trong tiếp cận với nhà ở. Bên cạnh đó, ông cũng băn khoăn mức sống ở Hà Nội cao thì có xu hướng lan tỏa sang các khu vực khác, dẫn đến giá cả hàng hóa, dịch vụ tại các vùng lân cận đều tăng.
Những chính sách đặc thù dành cho Thủ đô có thể dẫn đến lao động chất lượng cao đổ dồn về Hà Nội, khiến các tỉnh lân cận gặp khó khăn trong cạnh tranh thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Vì vậy, khi quy định liên kết, phát triển vùng Thủ đô, ông đề nghị bổ sung nguyên tắc chuyển tư duy "Hà nội thành trung tâm thu hút" sang "Hà Nội là trung tâm lan tỏa". Các chính sách cần lấy người dân vùng Thủ đô làm thước đo cho mọi chính sách, mọi dự án, liên kết.
Thảo luận tổ về dự thảo Luật Thủ đô sửa đổi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng Luật Thủ đô cần được thiết kế như một thiết chế pháp lý đặc thù, đủ năng lực dẫn dắt, tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển. Thực trạng hiện nay cho thấy quy hoạch còn phân tán theo từng dự án nhà ở, thiếu đồng bộ hạ tầng, đặc biệt là giao thông và hệ thống thoát nước, dẫn đến tình trạng "xây dựng đến đâu, tắc đường đến đó".
Từ đó, ông nhấn mạnh yêu cầu phát triển các đô thị vệ tinh và các phường mới theo tiêu chuẩn hiện đại, đồng bộ về nhà ở xã hội, bệnh viện, trường học, công viên và hệ thống giao thông công cộng như đường sắt đô thị, tàu điện trên cao. Đây là điều kiện then chốt để giãn dân khu vực nội đô, giảm áp lực hạ tầng và tổ chức lại không gian đô thị một cách bền vững.
"Khi các thành phố vệ tinh có đầy đủ tiện ích và kết nối giao thông thuận tiện, người dân sẽ sẵn sàng rời bỏ những căn gác xép chật hẹp trong phố cổ để ra ngoài sinh sống", ông nói.
Ngày 9.4, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị cho biết đã có văn bản gửi Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh, báo cáo kết quả rà soát nhu cầu và phương án bố trí trụ sở làm việc tại khu vực phía nam tỉnh, đồng thời đề xuất hướng xử lý tài sản công trên địa bàn thành phố Đông Hà (cũ).
Theo đó, thực hiện kết luận của Bí thư Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát nhu cầu sử dụng trụ sở, đánh giá hiện trạng tài sản và xây dựng phương án sắp xếp phù hợp.
Theo UBND tỉnh Quảng Trị, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, khu vực phía nam (gồm phường Đông Hà và Nam Đông Hà) phát sinh nhu cầu bố trí bộ phận làm việc của một số cơ quan cấp tỉnh, nhằm bảo đảm công tác chỉ đạo, điều hành cũng như phục vụ người dân và doanh nghiệp. Qua rà soát, có 230 cán bộ, công chức thuộc 26 cơ quan, đơn vị cần được bố trí làm việc tại các trụ sở khu vực này.
Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Quảng Trị đề xuất phương án phân bổ theo 4 nhóm:
Nhóm 1 gồm các cơ quan làm việc tại trụ sở UBND tỉnh cũ (45 Hùng Vương, phường Đông Hà). Trụ sở này có 34 phòng làm việc, 5 phòng họp và 1 hội trường. Sau khi bố trí cho UBND tỉnh, Ban tiếp dân, Trung tâm Phục vụ hành chính công và Chi cục Thủy lợi và phòng, chống thiên tai, còn lại 16 phòng, dự kiến bố trí cho 64 cán bộ, công chức, viên chức thuộc các sở, ngành, như: Nội vụ, Nông nghiệp và Môi trường, Dân tộc và Tôn giáo, Xây dựng, Ngoại vụ, Tư pháp và Thanh tra tỉnh.
Nhóm 2 là các cơ quan thuộc khối Đảng, mặt trận, hội, đoàn thể và một số đơn vị khác, được đề xuất bố trí tại trụ sở Tỉnh ủy cũ (30 Hùng Vương, phường Đông Hà). Trụ sở này có quy mô 5 tầng với gần 100 phòng làm việc. Dự kiến phân bổ cho các đơn vị, như: Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo và Dân vận, Ban Nội chính, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh cùng nhiều đơn vị khác, như: Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục Dân số, Liên minh Hợp tác xã, Hội Doanh nghiệp, Hội Chữ thập đỏ, Hội Cựu chiến binh...
Nhóm 3 gồm các cơ quan, đơn vị đã được bố trí trụ sở riêng phù hợp. Cụ thể như Ban quản lý dự án Đầu tư xây dựng tỉnh làm việc tại trụ sở Sở Ngoại vụ cũ (20 Lê Đại Hành, phường Nam Đông Hà); các đơn vị sự nghiệp ngành nông nghiệp và môi trường tại trụ sở Sở Nông nghiệp và Môi trường cũ (227 Hùng Vương); các đơn vị trực thuộc Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh tại trụ sở Sở Dân tộc và Tôn giáo cũ (59 Hùng Vương); Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh chi nhánh phía nam tại trụ sở Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (250 Hùng Vương).
Nhóm 4 là các đơn vị có tính chất hoạt động đặc thù, được đề xuất tiếp tục sử dụng trụ sở hiện tại, gồm: Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh, Trường cao đẳng Y tế, Hội Đông y, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh và Trung tâm Nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Hiện, Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh Quảng Trị đang xem xét, báo cáo Thường trực Tỉnh ủy cho ý kiến chỉ đạo để triển khai thực hiện phương án này.
Ngày 8.4, ông Trần Anh Tài, Hạt trưởng hạt Kiểm lâm khu vực Chư Prông, tỉnh Gia Lai, cho biết qua công tác tuần tra từ ngày 1 - 6.4, lực lượng kiểm lâm liên tục phát hiện nhiều điểm tập kết cây rừng không rõ nguồn gốc tại các nương rẫy thuộc làng Phung, xã Ia Lâu (Gia Lai).
Theo ghi nhận, số cây rừng không rõ nguồn gốc này có đường kính nhỏ, khoảng 10 - 15 cm, đã bị cưa thành từng đoạn dài 1,5 - 2,5 m; chủng loại chủ yếu là kơ-nia, dầu… với dấu hiệu đã bị khai thác từ lâu. Qua kiểm tra, toàn bộ số gỗ này đều không có hồ sơ, giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp.
Cơ quan chức năng nhận định, do kích thước nhỏ, giá trị sử dụng thấp trong chế biến gỗ, số cây rừng không rõ nguồn gốc nhiều khả năng được khai thác để làm củi. Tuy nhiên, việc khai thác, vận chuyển và tập kết trái phép vẫn vi phạm quy định về quản lý lâm sản.
Đáng chú ý, lực lượng kiểm lâm phối hợp UBND xã Ia Lâu và công an đã tổ chức mật phục, phát hiện và bắt giữ nhiều trường hợp vận chuyển cây rừng không rõ nguồn gốc trong đêm. Một số đối tượng khi phát hiện bị kiểm tra đã nhanh chóng tẩu tán vào rẫy, gây khó khăn cho việc truy bắt.
Theo lãnh đạo UBND xã Ia Lâu, việc liên tục xuất hiện lượng lớn cây rừng không rõ nguồn gốc được vận chuyển, tập kết vào ban đêm là dấu hiệu bất thường. Qua rà soát, địa phương hiện có rất ít diện tích rừng, không còn nguồn gỗ để khai thác tại chỗ.
Hạt Kiểm lâm khu vực Chư Prông đã phối hợp các lực lượng chức năng thuê nhân công thu gom toàn bộ số cây rừng không rõ nguồn gốc, đưa về tập kết tại trụ sở UBND xã Ia Lâu để kiểm đếm, xác định khối lượng phục vụ công tác xử lý.
Ông Trần Anh Tài cho biết, các đối tượng có thể trà trộn số cây rừng không rõ nguồn gốc này với gỗ cây điều nhằm qua mặt cơ quan chức năng để tiêu thụ. Đơn vị đã kiến nghị lực lượng chức năng tỉnh Đắk Lắk phối hợp truy tìm nguồn gốc lâm sản.
Hiện cơ quan chức năng tiếp tục kiểm đếm, xác minh để làm rõ khối lượng và xử lý theo quy định pháp luật đối với số cây rừng không rõ nguồn gốc nói trên.