Sáng 12/4, thảo luận tại Quốc hội về dự án Luật Thủ đô sửa đổi, Phó chủ tịch Hội Luật gia tỉnh Đồng Tháp Phạm Văn Hòa, cho rằng một trong những vấn đề nhức nhối tại Thủ đô hiện nay là ô nhiễm môi trường.
Nhiều năm nay, chất lượng không khí ở Thủ đô thường xuyên ở mức rất thấp. Báo cáo quan trắc môi trường cho thấy chất lượng không khí thường ở mức trung bình hoặc xấu. “Đây là một vấn đề bất cập lớn khi dân cư Thủ đô hiện nay đã lên đến gần 10 triệu người, chưa kể người dân từ các nơi khác đổ về”, đại biểu Hòa nói.
Ông cho rằng ngoài điều kiện thời tiết khí hậu bất lợi, nguyên nhân chính thực trạng này là do con người. Thủ đô đang quá đông dân cư, tập trung quá nhiều nhà cao tầng, xí nghiệp, bệnh viện, trường học và các cơ quan Trung ương.
“Để chất lượng không khí ngày càng tốt hơn, thế hệ sau này được sống trong môi trường trong sạch, xanh và văn minh, trước tiên chúng ta phải thực hiện giãn dân”, ông nhấn mạnh.
Hiện nay ở Hà Nội, bộ phận lớn người dân sinh sống trong các ngõ ngách chỉ rộng khoảng một mét, đi lại khó khăn, thậm chí không có đường ra nếu có sự cố. Điều này chưa thực sự văn minh đối với một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước.
Theo ông Hòa, ô nhiễm cũng xuất phát từ việc sử dụng quá nhiều nhiên liệu từ sinh hoạt và hoạt động nhà máy, cơ sở công nghiệp. Nhiều thế hệ lãnh đạo thành phố đã rất quyết tâm di dời các nhà máy ra khỏi nội đô, song đến nay số lượng thực hiện được vẫn còn rất ít.
Đối với nhà tập thể, chung cư cũ xuống cấp, ông đề nghị quyết liệt không sửa chữa lại mà giải tỏa để lấy không gian. Theo ông, thành phố cần “chấp nhận hy sinh và mất mát một chút” ở hiện tại để 10 năm, 20 năm sau thế hệ trẻ được hưởng thành quả.
Để làm được điều này, ông kiến nghị Chính phủ và thành phố có chính sách nhà ở xã hội cho người dân và bổ sung nhiều cơ chế đặc thù để Hà Nội có thể giãn dân ra khỏi nội đô.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi cũng cho rằng vấn đề ô nhiễm không khí và ô nhiễm sông tại Hà Nội là những vấn đề tồn tại cần sớm được giải quyết.
Về vùng phát thải và kiểm soát giao thông xanh, Trung ương trước đó yêu cầu chuyển mạnh sang giao thông công cộng khối lượng lớn, từng bước hạn chế phương tiện cá nhân. Dự thảo luật đã thể chế hóa chủ trương này khi giao HĐND thành phố quy định phạm vi, lộ trình và phí giảm phát thải.
Tuy nhiên, để tránh xáo trộn xã hội, ông đề nghị bổ sung chính sách đầu tư hạ tầng thay thế như đường sắt đô thị, xe buýt nhanh phải đi trước một bước hoặc thực hiện đồng thời với các vùng phát thải thấp. Hà Nội cần phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành 100 km đường sắt đô thị theo đúng mục tiêu của Bộ Chính trị đã đề ra.
Điểm mới của dự thảo luật là cho phép Hà Nội hỗ trợ di dời các cơ sở, làng nghề gây ô nhiễm nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư. Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Quốc hội. Tuy nhiên theo ông, vấn đề quan trọng là nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ này.
Ông đề nghị dự thảo luật cần thiết bổ sung cơ chế tài chính đặc thù, cho phép Hà Nội được giữ lại cơ bản hoặc toàn bộ số phí thu bảo vệ môi trường như phí bảo vệ môi trường khí thải và nước thải, và trích tối thiểu 20% tăng thu ngân sách từ đất để lập Quỹ phát triển xanh của Thủ đô. Đây sẽ là nguồn lực ưu tiên cho di dời và tái định cư.
Về cơ chế phối hợp liên vùng, ông đề nghị nghiên cứu chế tài tài chính liên vùng, bắt buộc các địa phương thượng nguồn và trong vùng gây ô nhiễm phải đóng góp vào Quỹ phát triển vùng Thủ đô dựa trên mức độ đóng góp tải lượng ô nhiễm. “Cần chuyển từ chia sẻ trách nhiệm chung sang chia sẻ chi phí bắt buộc”, ông nói.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Tạ Văn Hạ cũng quan tâm đến vấn đề hạ tầng, quy hoạch đặc biệt là quy định liên kết, phát triển vùng Thủ đô. Theo ông Hạ, khi thiết kế và thực thi các nội dung liên kết vùng, các vấn đề xã hội như an sinh, giá cả và lao động là những “biến số” cực kỳ quan trọng.
“Nếu không chú ý, Hà Nội có thể trở thành thỏi nam châm hút người di cư quá mạnh, gây ra sự mất cân bằng”, ông nói.
Lấy ví dụ tác động của giá cả và mức sống khi liên kết vùng được đẩy mạnh, giá bất động sản có thể tăng vọt, sẽ tác động đến những người có thu nhập thấp, trong đó có công nhân vốn đã rất khó khăn trong tiếp cận với nhà ở. Bên cạnh đó, ông cũng băn khoăn mức sống ở Hà Nội cao thì có xu hướng lan tỏa sang các khu vực khác, dẫn đến giá cả hàng hóa, dịch vụ tại các vùng lân cận đều tăng.
Những chính sách đặc thù dành cho Thủ đô có thể dẫn đến lao động chất lượng cao đổ dồn về Hà Nội, khiến các tỉnh lân cận gặp khó khăn trong cạnh tranh thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Vì vậy, khi quy định liên kết, phát triển vùng Thủ đô, ông đề nghị bổ sung nguyên tắc chuyển tư duy “Hà nội thành trung tâm thu hút” sang “Hà Nội là trung tâm lan tỏa”. Các chính sách cần lấy người dân vùng Thủ đô làm thước đo cho mọi chính sách, mọi dự án, liên kết.
Thảo luận tổ về dự thảo Luật Thủ đô sửa đổi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng Luật Thủ đô cần được thiết kế như một thiết chế pháp lý đặc thù, đủ năng lực dẫn dắt, tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển. Thực trạng hiện nay cho thấy quy hoạch còn phân tán theo từng dự án nhà ở, thiếu đồng bộ hạ tầng, đặc biệt là giao thông và hệ thống thoát nước, dẫn đến tình trạng “xây dựng đến đâu, tắc đường đến đó”.
Từ đó, ông nhấn mạnh yêu cầu phát triển các đô thị vệ tinh và các phường mới theo tiêu chuẩn hiện đại, đồng bộ về nhà ở xã hội, bệnh viện, trường học, công viên và hệ thống giao thông công cộng như đường sắt đô thị, tàu điện trên cao. Đây là điều kiện then chốt để giãn dân khu vực nội đô, giảm áp lực hạ tầng và tổ chức lại không gian đô thị một cách bền vững.
“Khi các thành phố vệ tinh có đầy đủ tiện ích và kết nối giao thông thuận tiện, người dân sẽ sẵn sàng rời bỏ những căn gác xép chật hẹp trong phố cổ để ra ngoài sinh sống”, ông nói.
Các vỉa hè phải được thiết kế khu vực cho hạ tầng, không gian cho người đi bộ và thống nhất cơ quan quản lý. Đó là một điều cần có để phát triển giao thông công cộng.
Gần đây, việc một số đơn vị tự ý lắp đặt các công trình trên vỉa hè đã gióng lên hồi chuông về tình trạng xâm lấn không gian công cộng dưới danh nghĩa hạ tầng kỹ thuật. Câu chuyện không chỉ dừng lại ở vi phạm của một đơn vị, mà phản ánh một vấn đề lớn hơn: vỉa hè đang bị quản lý theo kiểu phân mảnh, thiếu một cơ chế điều phối thống nhất.
Trong thực tế, vỉa hè tại TP.HCM đang phải "gánh" quá nhiều chức năng: nơi đi bộ, chỗ đặt trụ điện, cáp viễn thông, cây xanh, biển báo, bãi giữ xe, thậm chí cả hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ. Khi mỗi ngành, mỗi đơn vị tiếp cận vỉa hè theo nhu cầu riêng của mình, không gian này dần bị chia cắt thành những "mảnh nhỏ", thiếu tính liên tục.
Nếu không có một quy chuẩn cụ thể và cơ chế kiểm soát chặt chẽ ở cấp tuyến phố, vỉa hè sẽ tiếp tục bị "băm nhỏ" bởi các loại hạ tầng kỹ thuật, làm suy giảm chức năng cốt lõi là phục vụ người đi bộ.
Theo định hướng phát triển giao thông công cộng, người dân cần tiếp cận xe buýt thông qua hệ thống đi bộ - tức là vỉa hè. Ngoài miễn phí, người dân cần xe buýt chạy nhanh, đúng giờ, có thể dự đoán được hành trình thông qua ứng dụng. Nhưng để làm được điều đó, không chỉ phụ thuộc vào điều hành tuyến, mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận trạm dừng một cách thuận tiện và an toàn. Muốn đi xe buýt thuận tiện, an toàn thì trước hết người dân phải đi bộ thuận tiện và an toàn đến trạm xe buýt.
Nếu vỉa hè vẫn tiếp tục tình trạng bị lấn chiếm hoặc đặt chướng ngại vật, bề rộng không đảm bảo, cao độ không đồng đều, thiếu lối đi liên tục, đặc biệt với người già, trẻ em và người khuyết tật cũng là cản ngại với xe buýt.
Khi việc đi bộ trở nên khó khăn, thậm chí nguy hiểm, người dân sẽ lựa chọn phương tiện cá nhân, mục tiêu phát triển giao thông công cộng vướng khó từ bước đầu tiên.
Những phân tích trên cho thấy đô thị đang thiếu một chiến lược quản lý và tổ chức không gian vỉa hè một cách tổng thể, đồng bộ. Để khắc phục, chính quyền TP.HCM cần cách tiếp cận mới.
Trước hết, vỉa hè cần được xác định rõ là không gian công cộng ưu tiên cho người đi bộ, mọi hoạt động khác, kể cả hạ tầng kỹ thuật, đều phải phục vụ và không được cản trở chức năng này. Các công trình như trụ BTS, tủ điện, cáp viễn thông cần được quy hoạch vị trí cụ thể, thậm chí từng bước ngầm hóa, thay vì lắp đặt tùy tiện.
Bên cạnh đó, thay vì chỉ dừng ở quy chuẩn chung, cần triển khai thiết kế đô thị chi tiết cho từng tuyến phố, trong đó xác định rõ cấu trúc vỉa hè, phân vùng chức năng và tiêu chí khai thác sử dụng. Đồng thời cần có một đầu mối quản lý thống nhất vỉa hè, tránh tình trạng mỗi ngành sử dụng một phần không gian mà thiếu sự phối hợp.
Cuối cùng, phát triển giao thông công cộng phải đi kèm với đầu tư hạ tầng tiếp cận, đặc biệt là cải tạo vỉa hè xung quanh các trạm xe buýt, nhà ga metro theo hướng an toàn, liên tục và thân thiện với người đi bộ.
Một đô thị hiện đại không chỉ được đo bằng những tuyến metro hay xe buýt mới mà sự thuận lợi ở những bước chân đầu tiên của người dân khi rời khỏi nhà. Nếu vỉa hè còn bị lấn chiếm, chia cắt và thiếu an toàn, thì mọi nỗ lực khuyến khích giao thông công cộng sẽ khó đạt hiệu quả.
Câu chuyện trụ BTS chỉ là một lát cắt nhỏ, nhưng là lời nhắc lớn: quản lý đô thị không thể theo từng mảng rời rạc. Muốn thành phố vận hành hiệu quả, cần bắt đầu từ những không gian nhỏ nhất - như vỉa hè - nhưng phải bằng một tư duy lớn và đồng bộ.
Quyết định của Bộ Chính trị chỉ định tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ Quốc hội nhiệm kỳ 2025 - 2030 gồm 38 nhân sự.
Chỉ định Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2025 - 2030 gồm 20 nhân sự.
Chỉ định Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIV, Bí thư Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020 - 2025, Chủ tịch Quốc hội khóa XVI Trần Thanh Mẫn giữ chức Bí thư Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Chỉ định Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIV, Phó bí thư Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020 - 2035, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội khóa XVI Đỗ Văn Chiến giữ chức Phó bí thư Thường trực Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Chỉ định Phó bí thư Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020 - 2025 Phùng Khánh Tài giữ chức Phó bí thư chuyên trách Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Chỉ định tham gia Thường trực Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2025 - 2030 gồm 7 nhân sự.
Phát biểu giao nhiệm vụ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Đảng ủy Quốc hội phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng bộ Quốc hội thực sự trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực lãnh đạo.
Mỗi ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, nhất là các nhân sự chủ chốt, phải thực sự gương mẫu, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, đề cao tính Đảng, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ Quốc hội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, tận tụy phục vụ nhân dân; có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu công tác.
Kiên quyết phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tuyệt đối không để lợi ích nhóm trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề lớn của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, tập trung lãnh đạo thực hiện tốt chức năng trọng yếu của Quốc hội theo đúng định hướng của Đảng; tháo gỡ hết các điểm nghẽn, kiến tạo phát triển, đưa thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Đảng ủy Quốc hội phải lãnh đạo, định hướng để mỗi đại biểu Quốc hội thực sự gần dân, hiểu dân, trọng dân và vì dân, không chỉ dừng ở tiếp xúc cử tri theo định kỳ, mà phải "chủ động đi vào cuộc sống", lắng nghe từ những vấn đề nhỏ nhất của người dân, doanh nghiệp.
Cần biến tiếng nói của nhân dân thành nội dung lập pháp, thành chất vấn, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; lấy niềm tin và sự cải thiện thực chất đời sống nhân dân làm thước đo cao nhất của mỗi đại biểu và của Quốc hội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ủy Quốc hội theo hướng khoa học, minh bạch, rõ trách nhiệm; chuyển mạnh từ lãnh đạo theo quy trình sang lãnh đạo theo kết quả, lấy kết quả thực chất làm thước đo.
Phải bảo đảm thực hiện đúng phương thức lãnh đạo của Đảng; phải bảo đảm vừa đúng định hướng của Đảng, vừa phát huy đầy đủ tính chủ động, sáng tạo, trách nhiệm của Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội; tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ trong các hoạt động của Quốc hội.
Ngày 11-4, thảo luận dự luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Công chứng, đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hạnh (Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM) cho hay Luật Công chứng năm 2024 quy định bắt buộc việc chụp ảnh và lưu trữ vào hồ sơ khi công chứng viên ký văn bản công chứng.
Thời điểm đó, bà nói quy định này gây nhiều phản ứng khác nhau, trong đó đồng tình vì khả năng nhận diện và xác thực nhân thân cao, đồng thời hạn chế tình trạng cạnh tranh không lành mạnh như ký khống, ký dạo.
Nhưng có ý kiến phản đối vì cho rằng đặt thêm thủ tục, thêm chi phí cho tổ chức hành nghề công chứng, ảnh hưởng đến quyền về hình ảnh của cá nhân.
Nay, bà nói cơ quan soạn thảo bỏ quy định chụp ảnh với lý do trong bối cảnh hiện nay việc định danh điện tử và sinh trắc học đã và đang triển khai rộng rãi, công chứng viên được trang bị thiết bị xác thực cá nhân để ngăn chặn giả mạo.
Việc bỏ quy định chụp ảnh, theo bà, tiếp tục tạo ra hai ý kiến phản đối và đồng tình khác nhau.
Các ý kiến đề nghị giữ lại quy định chụp ảnh vì cho rằng việc chụp ảnh mới triển khai được 9 tháng, cần có thời gian kiểm nghiệm và đánh giá.
Đồng thời thiết bị xác thực cá nhân chỉ giúp ngăn chặn tình trạng giả tạo, còn các lợi ích của việc chụp ảnh có ý nghĩa trong việc công chứng như sự minh mẫn, ý chí tự nguyện của các bên trong giao dịch thông qua hình ảnh được lưu lại trong hồ sơ.
Bà cho rằng trong điều kiện cơ sở dữ liệu đang dần hoàn thiện, việc trang bị các thiết bị xác thực cá nhân của các tổ chức hành nghề công chứng ở từng địa phương có khác nhau.
Do đó cơ quan soạn thảo nên cân nhắc quy định theo hướng mở, cụ thể, thực hiện việc chụp ảnh theo đề nghị của người yêu cầu công chứng hoặc do công chứng viên quyết định trong một số trường hợp đặc biệt.
Cũng nêu ý kiến về nội dung này, đại biểu Ly Kiều Vân (Quảng Trị) đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu giữ nguyên quy định như luật hiện hành với những lý do như sau.
Quy định việc chụp ảnh, người yêu cầu công chứng ký vào văn bản công chứng trước sự chứng kiến của công chứng viên là hoàn toàn phù hợp.
Bởi vì ngoài việc đảm bảo an toàn cho giao dịch, giúp xác định chính xác người ký, thời điểm và địa điểm ký, từ đó hạn chế tình trạng giả mạo, ký khống và phát sinh tranh chấp sau này.
Ảnh chụp còn là một dạng chứng cứ trực quan, góp phần bảo vệ người dân và công chứng viên khi phát sinh khiếu kiện.
Đồng thời nâng cao tính minh bạch, kỷ luật trong quy trình công chứng, góp phần loại bỏ những hành vi không chuẩn mực, cạnh tranh không lành mạnh của một số tổ chức hành nghề công chứng.
Bà dẫn tại báo cáo của Bộ Tư pháp về tiếp thu, giải trình bước đầu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội thảo luận tại phiên thảo luận tổ đã có giải trình về nội dung này.
Tuy nhiên bà nhận thấy nội dung này vừa được bổ sung vào luật, đã được Quốc hội thông qua năm 2024 và có hiệu lực từ ngày 1-7-2025, thời gian thực hiện chưa được một năm, do vậy cần phải đánh giá hiệu quả để làm cơ sở bỏ quy định này.