Theo Cục Khí tượng thủy văn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ứng dụng khai thác nguồn dữ liệu từ hơn 2.600 trạm quan trắc toàn quốc, kết hợp 8 trạm radar thời tiết và các mô hình dự báo số trị. Dữ liệu mưa, nhiệt độ, độ ẩm, gió được cập nhật mỗi 10 phút, cho phép người dùng theo dõi sát diễn biến thời tiết tại vị trí thực tế.
Ngoài thông tin thời tiết hiện tại, ứng dụng cung cấp dự báo đến 10 ngày, hiển thị theo chu kỳ 3 giờ. Các bản tin được xây dựng từ hệ thống tính toán của ngành khí tượng, đảm bảo độ tin cậy.
Điểm nhấn của ứng dụng là hệ thống cảnh báo thời tiết nguy hiểm theo thời gian thực. Các hiện tượng như giông, sét, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất hay bão, áp thấp nhiệt đới được cập nhật liên tục và hiển thị trực tiếp trên giao diện chính.
Trong đó, tính năng cảnh báo lũ quét và sạt lở đất được thiết kế theo vị trí địa lý, phân cấp ba mức độ rủi ro, giúp người dùng nhận diện nguy cơ và có biện pháp ứng phó. Hệ thống cảnh báo giông sét sử dụng dữ liệu định vị sét để phát hiện sớm khu vực có hoạt động điện tích mạnh.
Ứng dụng cũng cho phép tìm kiếm thời tiết tại mọi xã, phường trên cả nước, đồng thời lưu tối đa 10 địa điểm để theo dõi thường xuyên.
Cục Khí tượng thủy văn cho biết trong các phiên bản tiếp theo, ứng dụng sẽ tiếp tục được bổ sung các bản đồ cảnh báo mưa, bão và nhiều tiện ích khác nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng.
“Thời tiết Việt Nam KTTV” hiện có mặt trên iOS và Android, được cung cấp miễn phí.
Gia Chính
Tin Gốc: https://vnexpress.net/ra-mat-ung-dung-canh-bao-giong-set-lu-quet-5059374.html
Thời Sự
Dự báo dân số Việt Nam giảm mạnh: Đừng đổ lỗi cho phụ nữ ‘lười sinh con’

Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM bác bỏ quan điểm cho rằng phụ nữ TP.HCM nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung “lười sinh con”. Ông cho rằng đây là cách nhìn lệch bản chất, quy trách nhiệm cho phụ nữ thay vì nhìn thẳng vào những rào cản kinh tế - xã hội đang chi phối quyết định sinh con.
Ông nhận định phụ nữ hôm nay không quay lưng với thiên chức làm mẹ. Họ chỉ đang cân nhắc rất thực tế giữa khát vọng có con với áp lực cơm áo, nhà ở, công việc và chi phí nuôi dạy con: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
Ông Nhân nhấn mạnh mức sinh thấp không phải do phụ nữ “lười sinh con”, mà vì nhiều gia đình chưa có đủ điều kiện tối thiểu để sinh và nuôi con tử tế.
Khi người lao động chưa có mức lương đủ sống - tức mức lương thấp nhất cho phép một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con đàng hoàng, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề - thì việc họ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con là điều dễ hiểu.
Ông phân tích, ở nhiều nước, chỉ khoảng 55 - 65% lao động đạt mức lương bằng hoặc cao hơn lương đủ sống; còn lại 35 - 45% ở dưới ngưỡng này. Với nhóm thu nhập đó, chuyện sinh và nuôi đủ hai con đến 18 tuổi gần như vượt quá khả năng. Khi thu nhập không theo kịp chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và sinh hoạt, lựa chọn trì hoãn sinh con hoặc không sinh thêm không phải là sự ích kỷ, mà là một tính toán hợp lý.
Theo ông Nhân, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi bất bình đẳng giới: thời gian làm việc kéo dài, gánh nặng việc nhà và chăm con vẫn chủ yếu dồn lên vai phụ nữ. Cùng với đó là nỗi lo việc làm bấp bênh, thu nhập tăng chậm, kết hôn muộn, sinh con muộn và môi trường lao động ở nhiều nơi chưa thật sự thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.
Dẫn lại khảo sát tại Nhật Bản, ông Nhân cho biết khi hôn nhân và sinh con đi kèm gánh nặng việc nhà, chăm con, chăm sóc cha mẹ lớn tuổi và nguy cơ ảnh hưởng con đường nghề nghiệp, nhiều phụ nữ sẽ suy giảm động lực kết hôn, sinh con. Bản chất của hiện tượng ấy không phải là “lười sinh con”, mà là phản ứng trước những áp lực xã hội và bất bình đẳng giới tích tụ trong thời gian dài.
Từ những phân tích đó, ông Nhân nhấn mạnh, đừng hỏi vì sao phụ nữ “lười sinh con”, mà phải hỏi vì sao xã hội vẫn chưa tạo đủ điều kiện để họ yên tâm sinh con.
Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, nếu không giải được bài toán thu nhập thì rất khó kỳ vọng người dân sinh đủ 2 con, dù có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ khác.
Ông phân tích, năm 2023, lương tối thiểu ở TP.HCM khoảng 4,96 triệu đồng/tháng; lương đủ sống khoảng 10 triệu đồng/tháng - tức cao gấp 2,14 lần lương tối thiểu. Khoảng cách này cho thấy mức lương sàn hiện nay về cơ bản chỉ đủ để một người lao động tự nuôi bản thân, không thể nuôi con cái.
Ông nhận định, muốn một gia đình đạt mức sinh thay thế (tức sinh đủ 2 con) thì mỗi người đi làm phải đạt mức lương đủ sống, nghĩa là một cặp vợ chồng cần tổng thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng mới có cơ sở nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Để làm rõ vai trò của tiền lương, giáo sư dẫn số liệu tuyển dụng tại TP.HCM giai đoạn 2021 - 2024. Phần lớn việc làm vẫn tập trung ở nhóm thu nhập thấp, trong khi số vị trí có thu nhập cao chiếm tỷ lệ không nhiều. Từ mặt bằng lương đó, ông ước tính số con bình quân mà lực lượng lao động này có thể sinh và nuôi chỉ khoảng 1,4 - 1,45 con.
Đáng chú ý, mức sinh thực tế của TP.HCM từ 2021 - 2024 cũng chỉ quanh ngưỡng 1,4 con/phụ nữ. Theo ông Nhân, sự trùng khớp này cho thấy rất rõ: khi thu nhập chưa đạt mức lương đủ sống cho một gia đình 4 người, thì mức sinh của địa phương rất khó tăng.
Bên cạnh đó, giáo sư cho biết TP.HCM đang nỗ lực giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Theo đó, thành phố đã triển khai chính sách hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi; đồng thời hỗ trợ 2 triệu đồng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người sống tại xã đảo khi thực hiện tầm soát trước sinh và sơ sinh.
Theo ông, đây là sự khích lệ cần thiết. Tuy vậy, để cải thiện mức sinh một cách bền vững, cần đồng thời tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nền tảng, nhất là những vấn đề đang tác động trực tiếp đến quyết định sinh con của người dân.
Từ kinh nghiệm của những nước có mức sinh thấp kéo dài như Nhật Bản, Hàn Quốc, ông chỉ ra nhiều quốc gia đã chi rất lớn để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Theo ông, nguyên nhân là người trẻ vẫn phải đối mặt với hàng loạt rào cản: thu nhập không đủ nuôi 2 con, giá nhà quá cao, thiếu trường mầm non công lập, bất bình đẳng giới trong việc nhà và môi trường lao động chưa thân thiện với phụ nữ có con.
Ở chiều ngược lại, tại Indonesia, khi lo ngại mức sinh ở các đô thị lớn như Jakarta đã xuống 1,8 và có nguy cơ giảm sâu thì Indonesia bắt đầu triển khai hàng loạt chính sách thân thiện với gia đình.
Indonesia đã phát triển 3.700 trung tâm gia đình bền vững để tư vấn làm cha mẹ, khuyến khích người cha chia sẻ chăm con và việc nhà, hỗ trợ bữa ăn miễn phí cho trẻ nhỏ và học sinh, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận chính sách gia đình… Đồng thời, thúc đẩy chương trình xây 3 triệu căn nhà mỗi năm để giảm áp lực nhà ở cho người trẻ.
Từ những kinh nghiệm đó, giáo sư Nhân cho rằng muốn thay đổi mức sinh một cách bền vững thì không thể chỉ dừng ở hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo được nền tảng sống đủ vững cho người trẻ: thu nhập đủ sống, nhà ở phù hợp, dịch vụ giữ trẻ, an sinh y tế - xã hội và môi trường làm việc thân thiện với phụ nữ sinh con, nuôi con.

Góp ý dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sửa đổi chiều 10/4, đại biểu Hoàng Thị Thanh Thúy, Phó đoàn Tây Ninh, đánh giá dự luật đã bước đầu thiết lập cơ chế quản lý các khoản thu từ lễ hội, tín ngưỡng, nhưng cần bổ sung quy định chặt chẽ hơn về công khai, minh bạch tài chính của tổ chức tôn giáo.
Theo bà, đây là nguồn thu lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là với các khoản tài trợ từ nước ngoài hoặc tiền công đức chuyển qua tài khoản cá nhân, có thể phát sinh nguy cơ rửa tiền, lừa đảo.
Nữ đại biểu đề nghị tổ chức tôn giáo và các đơn vị trực thuộc khi vận động quyên góp trên không gian mạng phải sử dụng tài khoản ngân hàng đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Quy định này nhằm giúp cơ quan quản lý kiểm tra, kiểm soát dòng tiền đúng mục đích, đồng thời tạo điều kiện để người dân đối chiếu, tránh bị chiếm đoạt tài sản.
Bà cũng lưu ý phạm vi tài sản hiện không chỉ là tài sản hữu hình mà còn gồm tài sản số. Nhiều cơ sở đang sở hữu các kênh mạng xã hội có lượng theo dõi lớn, phát sinh nguồn thu từ quảng cáo, cần được đưa vào khuôn khổ quản lý.
Cùng với đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định cấm lợi dụng thuật toán mạng xã hội để lan truyền thông tin sai lệch về giáo lý, giáo luật. Theo bà, cơ chế lan truyền tự động có thể bị thao túng, biến thông tin xuyên tạc thành phổ biến, ảnh hưởng đến nhận thức tín đồ và uy tín tổ chức tôn giáo.
Dẫn số liệu từ Ban Tôn giáo Chính phủ, bà cho biết hoạt động truyền đạo, giảng pháp và thực hiện nghi lễ trực tuyến ngày càng phổ biến. Vì vậy, việc bổ sung quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là cần thiết để lấp khoảng trống pháp lý.
Hòa thượng Thích Thanh Quyết (Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam) cũng đề nghị bổ sung quy định cụ thể về nguyên tắc quản lý tài sản, đặc biệt là tiền công đức theo hướng công khai, minh bạch, chặt chẽ và bình đẳng giữa các tôn giáo. Luật cần bổ sung thiết chế phòng ngừa thất thoát, tiêu cực vì đây là vấn đề nhạy cảm được xã hội quan tâm. "Quan điểm phải rõ ràng: tiền chùa để xây nhà chùa, tiền chúa để xây nhà chúa", ông nói.
Liên quan hoạt động tôn giáo trên không gian mạng, hòa thượng Thích Thanh Quyết đề nghị quy định cụ thể tiêu chí nhận diện hành vi vi phạm và quy trình phối hợp phát hiện, xử lý nội dung trên các nền tảng xuyên biên giới, đồng thời làm rõ ranh giới giữa quyền tự do tín ngưỡng và hành vi lợi dụng tôn giáo.
Theo quy định hiện hành tại Thông tư 04/2023, tiền công đức chuyển khoản hoặc thanh toán điện tử phải được tiếp nhận qua tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại. Tiền mặt thì phải được ghi chép, kiểm đếm định kỳ và quản lý chặt chẽ. Tiền chưa sử dụng phải gửi vào tài khoản để bảo đảm an toàn, minh bạch.
Quốc hội dự kiến thông qua dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sửa đổi theo quy trình một kỳ họp.
Sơn Hà
Tin Gốc: https://vnexpress.net/de-nghi-siet-chat-quy-dinh-minh-bach-tai-chinh-cac-co-so-ton-giao-5060926.html
Thời Sự
Xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại trong kỷ nguyên mới

Đây là yêu cầu được Ủy viên T.Ư Đảng, Phó trưởng Ban Tuyên giáo - Dân vận Trung ương Trần Thanh Lâm nêu rõ tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cho các cơ quan báo chí, xuất bản và đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức, sáng 8.4.
Hội nghị diễn ra theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối hơn 40 điểm cầu trên toàn quốc với khoảng 7.000 đại biểu tham dự.
Phát biểu tại hội nghị, Phó trưởng ban Tuyên giáo - Dân vận Trung ương Trần Thanh Lâm nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, ông Lâm đề nghị cần tránh hình thức, coi việc học tập nghị quyết không chỉ là nhiệm vụ của riêng năm 2026 mà là xuyên suốt cả nhiệm kỳ.
"Không đơn thuần là ban hành hướng dẫn, kế hoạch, xây dựng chương trình hành động, mà mỗi cấp ủy viên, mỗi lãnh đạo cần thấm nhuần tư tưởng, tinh thần đổi mới, mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá trong các nghị quyết để từ đó tổ chức triển khai quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả vào đặc thù của từng lĩnh vực", ông Lâm nhấn mạnh.
Theo ông Trần Thanh Lâm, Nghị quyết Đại hội XIV đã xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm đối với báo chí, xuất bản, văn hóa văn nghệ và khoa học công nghệ. Trong đó, lực lượng báo chí, xuất bản cần quyết tâm xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại.
Với lĩnh vực văn hóa, Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị khẳng định văn hóa phải đặt ngang tầm với kinh tế và chính trị, con người là trung tâm. Đội ngũ văn nghệ sĩ được xác định là lực lượng xây dựng, bồi đắp tâm hồn dân tộc, thắp lửa khát vọng cho nhân dân, cần có cơ chế phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò này.
Đối với trí thức và nhà khoa học, Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị nhấn mạnh khoa học công nghệ là động lực chủ yếu của tăng trưởng, trong đó đội ngũ trí thức là nhân tố quan trọng nhất. Vì vậy, cần tháo gỡ các nút thắt về cơ chế, đầu tư, tự chủ để tạo môi trường sáng tạo và cống hiến.
Đặc biệt, yếu tố con người được xác định là khâu đột phá. Theo ông Lâm, mọi mục tiêu sẽ khó trở thành hiện thực nếu không có đội ngũ cán bộ báo chí, trí thức, nghệ sĩ đủ tâm và đủ tầm.
Ông cũng lưu ý, các nghị quyết chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được cụ thể hóa bằng chương trình hành động, dự án, đề án với địa chỉ rõ ràng, có thời hạn và thước đo hiệu quả cụ thể. Kết quả thực hiện chính là thước đo năng lực lãnh đạo, điều hành và trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân.
Làm rõ hơn quan điểm về báo chí, xuất bản trong văn kiện Đại hội XIV, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập Báo Nhân Dân Lê Quốc Minh cho rằng trong kỷ nguyên mới, báo chí, truyền thông phải đóng vai trò tiên phong trong định hướng, phản ánh và thúc đẩy hành động xã hội.
Theo Tổng biên tập Báo Nhân Dân, báo chí không chỉ là "người thư ký trung thành của thời đại" mà còn phải là lực lượng định hướng tư tưởng, cổ vũ tinh thần yêu nước, khơi dậy khát vọng xây dựng xã hội Việt Nam phát triển, văn minh và an toàn.
"Trong kỷ nguyên mới, yêu cầu "chuyên nghiệp" với báo chí, xuất bản, truyền thông không chỉ ở vai trò là "người thư ký trung thành của thời đại" mà đề cao tính định hướng tư tưởng, là "ngọn đuốc soi đường" cổ vũ tinh thần yêu nước, khơi dậy khát vọng xây dựng xã hội Việt Nam lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn và phát triển", ông Minh lưu ý.
Cũng theo ông Minh, đội ngũ báo chí phải thực sự là những chiến sĩ tinh nhuệ trên mặt trận văn hóa, vững vàng bản lĩnh chính trị, tinh thông nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng.
Các cơ quan báo chí cần xây dựng thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh với các nền tảng xuyên biên giới, giữ vững chủ quyền thông tin quốc gia và định hướng dòng chảy thông tin tích cực trong xã hội.
Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, báo chí cần liên tục đổi mới cách thức truyền tải thông tin, thu hút công chúng nhưng vẫn đảm bảo vai trò dẫn dắt dư luận, phản biện xã hội và không để các nền tảng không chính thống chiếm lĩnh vị trí này.
Nhấn mạnh báo chí Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt quan trọng, ông Minh cho rằng nếu tận dụng tốt cơ hội và đổi mới kịp thời, có thể xây dựng nền báo chí hiện đại, cạnh tranh cao, đóng góp tích cực cho sự phát triển đất nước. Ngược lại, nếu chậm đổi mới sẽ đối mặt nguy cơ tụt hậu và mất vai trò dẫn dắt.
"Việc quán triệt và triển khai hiệu quả các quan điểm của Đại hội XIV về báo chí, xuất bản là yêu cầu sống còn đối với mỗi cơ quan báo chí, xuất bản", Tổng biên tập Báo Nhân Dân nêu rõ.

