Những ngày qua vụ việc học sinh Trường Bình Quới Tây nghi ngộ độc thực phẩm được dư luận quan tâm. Nhiều người đặt câu hỏi sao trường không tổ chức nấu ăn bán trú tại trường?
Ngày 10.4, trả lời phỏng vấn báo chí Bà Diệp Thị Ngọc Tiên, Hiệu trưởng Trường tiểu học Bình Quới Tây, phường Bình Quới, TP.HCM, cho biết từ khi bà tiếp quản vai trò cán bộ quản lý tại trường tiểu học này thì trường đã sử dụng suất ăn bán trú từ công ty cung cấp vào trường.
“Muốn tổ chức bếp ăn bán trú tại trường cũng không thể ngày một ngày hai, một tháng hai tháng là có thể thực hiện được mà phải có được sự đồng ý của cấp trên”, bà Tiên cho hay.
Để kiểm soát chất lượng bữa ăn bán trú trong các năm vừa qua, bà Tiên cho biết, nhà trường đều có các đợt phối hợp ban đại diện cha mẹ học sinh, cùng ban giám hiệu nhà trường kiểm tra bếp ăn. Trong năm học, ban đại diện cha mẹ học sinh cũng vào trường, kiểm tra giờ ăn, xem quy trình tổ chức giờ ăn bán trú, cùng ăn thử cơm với các em học sinh. Đồng thời, cơm, đồ ăn, từ công ty giao tới không để sẵn trong khay mà vào từng lớp mới chia cho các em để đảm bảo món ăn được nóng hơn.
Bà Tiên cho hay theo quy trình từ trước đến nay, nhân viên y tế, hiệu trưởng nhà trường luôn ăn phần ăn bán trú như học sinh. Trong đó, nhân viên y tế lưu mẫu đồ ăn, thử cơm bán trú trước khi học sinh ăn. Bà Tiên thường ăn sau các em, khoảng sau 12 giờ hàng ngày.
Giá tiền ăn bán trú năm học 2025-2026 là 37.000 đồng/em/ngày (bao gồm bữa trưa và bữa xế). Thực đơn bán trú hôm 7.4 (ngày mà trong chiều tối hôm đó bắt đầu có một số học sinh bị ói, sốt…) có cơm, gà kho gừng, canh bắp cải nấu thịt, dưa leo xào và mận; bữa xế là bánh flan.
Bà Tiên cho biết nếu thời gian sắp tới được cơ quan chức năng cho phép tổ chức bán trú trở lại sẽ thắt chặt hơn nữa các khâu, triển khai các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho học sinh trong thời gian tới.
Ông Đỗ Đình Đảo, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ, P.Xóm Chiếu, TP.HCM, chia sẻ với phóng viên: “Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, nhu cầu tổ chức bán trú tại các trường phổ thông ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các đô thị lớn như TP.HCM. Bán trú không chỉ giúp học sinh thuận tiện trong sinh hoạt, học tập mà còn góp phần quản lý học sinh tốt hơn trong thời gian ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, phía sau mô hình ấy lại là hàng loạt áp lực đè nặng lên vai người đứng đầu nhà trường”.
“Áp lực đầu tiên khi tổ chức bán trú, chính là bài toán cân đối giữa chất lượng và chi phí bữa ăn”, ông Đảo nói thêm.
“Khác với các cấp học dưới, học sinh THPT có nhu cầu dinh dưỡng cao hơn, khẩu phần ăn cần đa dạng, đảm bảo năng lượng và phù hợp với lứa tuổi. Trong khi đó, mức thu tiền ăn phải được tính toán hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế của đa số phụ huynh (dao động khoảng 35.000 đồng/phần cơm bán trú). Chỉ cần một sự điều chỉnh nhỏ về giá cũng có thể tạo ra những phản ứng trái chiều. Nhà trường vì vậy luôn phải “cân đo đong đếm” vừa phải đảm bảo dinh dưỡng, vừa giữ được sự đồng thuận xã hội”, ông Đảo phân tích.
Bên cạnh đó, ông Đảo cho hay, áp lực về an toàn thực phẩm là nỗi lo thường trực, mang tính sống còn. Chỉ một sơ suất nhỏ trong khâu chế biến, bảo quản hay lựa chọn nguyên liệu cũng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe hàng trăm, hoặc cả ngàn học sinh.
Đồng thời, ông thừa nhận, công tác quản lý căn tin, bếp ăn cũng đặt ra nhiều thách thức. Việc giám sát nhân sự chế biến, quy trình vận hành, vệ sinh dụng cụ, cũng như ý thức chấp hành quy định của các đơn vị cung ứng đòi hỏi sự kiểm tra thường xuyên, liên tục. “Hiệu trưởng không chỉ là nhà quản lý giáo dục mà còn phải đóng vai trò như một “người quản lý an toàn thực phẩm” trong phạm vi trường học của mình, trách nhiệm rất lớn trước phụ huynh và xã hội”, ông Đảo nói.
Quy trình tại Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ thời gian qua là kiểm soát chặt chẽ chất lượng đầu vào thực phẩm. Bước đầu là lựa chọn nhà cung cấp uy tín, có đầy đủ hồ sơ pháp lý, chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm và có khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Hợp đồng cung ứng phải quy định cụ thể về tiêu chuẩn chất lượng, trách nhiệm và chế tài xử lý vi phạm. Song song với đó là có quy trình kiểm tra nguyên liệu đầu vào hằng ngày; lưu mẫu thực phẩm, có tổ giám sát nội bộ, có sự tham gia của đại diện ban giám hiệu, giáo viên, đại diện cha mẹ học sinh các lớp. Trường học này cũng có biểu mẫu trực tuyến cho học sinh đánh giá các tiêu chí như khẩu vị, định lượng, độ đa dạng món ăn, mức độ vệ sinh, thái độ phục vụ… “Khảo sát đảm bảo ẩn danh để học sinh dám phản ánh trung thực. Những góp ý xác đáng được trường ghi nhận, điều chỉnh kịp thời và thông tin ngược trở lại để học sinh thấy mình được lắng nghe”, ông Đảo cho biết.
Hội đồng giảng viên tại Harvard tuần này sẽ bỏ phiếu về đề xuất giới hạn số điểm A không quá 20% mỗi khóa học, nhằm kiềm chế "lạm phát điểm". Họ cũng xem xét xếp hạng sinh viên theo bách phân vị với các danh hiệu như cum laude (tốt nghiệp loại ưu), thay cho điểm GPA.
Việc này ngay lập tức tạo một cuộc tranh luận nảy lửa khắp khuôn viên trường. Theo khảo sát hơn 800 người của Hội đồng sinh viên Harvard, tới 94% phản đối. Nhiều sinh viên lo sợ môi trường vốn đã khắc nghiệt tại Harvard sẽ càng trở nên độc hại, khi mọi người phải tính toán chi li từng môn để tranh suất điểm A ít ỏi.
Giáo sư Ngôn ngữ Anh Martin Puchner ủng hộ việc áp trần, cho rằng hệ thống hiện tại đang thiếu công bằng với những sinh viên thực sự xuất sắc. Giáo sư tâm lý học Joshua Greene thì so sánh việc học hiện nay giống như cầm lái một chiếc xe mới cứng và cố gắng không để lại một vết xước nào trong suốt 4 năm.
"Bạn sẽ không dám thử thách bản thân ở những địa hình khó hay làm bất cứ điều gì thú vị vì quá sợ mất điểm A", ông nói.
Đề xuất này chỉ áp dụng với điểm A, không hạn chế điểm A-. Ban soạn thảo hy vọng điểm A- trở nên phổ biến hơn và bớt bị "kỳ thị". Giáo sư Sean Eddy cho biết sẽ chuyển phần lớn những sinh viên đạt mức "thành thạo" từ điểm A sang A-, chỉ dành điểm A cho những cá nhân "xuất chúng".
Ở góc độ sinh viên, Anthony Wang, chuyên ngành Hóa học, cho rằng cách làm này là "bình mới rượu cũ", không giải quyết được gốc rễ vấn đề. Hyunsoo Lee, đại diện hội đồng sinh viên, bổ sung rằng họ không ngại học khó hay bị điểm B, mà lo ngại về tính công bằng và chất lượng giảng dạy.
Trước những phản hồi gay gắt, Đại học Harvard quyết định lùi thời hạn áp dụng sang mùa thu năm 2027 thay vì năm nay để giảng viên có thời gian điều chỉnh chương trình học. Bà Claybaugh, Trưởng ban đào tạo đại học, cũng cho rằng con số 94% phản đối chỉ là phản ứng tức thời.
Các nhà quản lý và một số giảng viên khẳng định mục tiêu của họ là chấn chỉnh văn hóa học đường, thúc đẩy sinh viên học nghiêm túc hơn.
Thực tế, Harvard đã có những bước tiến đầu tiên. Tỷ lệ điểm A đã giảm xuống còn 53,4% trong học kỳ thu vừa qua. Trường quyết tâm thực hiện kế hoạch này, sau khi nhiều giảng viên phản ánh bị sinh viên chấm điểm đánh giá thấp, hoặc không đăng ký học chỉ vì chấm điểm khắt khe hơn đồng nghiệp.
"Thật kỳ lạ khi ở Harvard, có thể dễ dàng nhận ra ai là cầu thủ bóng rổ hay nghệ sĩ violin giỏi nhất, nhưng lại chẳng thể phân biệt được ai là người học giỏi nhất trong một lớp học", bà Claybaugh nói. "Chúng tôi phải làm những gì tốt nhất để giữ gìn danh tiếng của Harvard. Chính sinh viên là những người hưởng lợi từ nó".
Năm học trước, điểm A chiếm tới 60% tổng số điểm ở Harvard, tăng vọt so với mức 25% của khóa 2005-2006. Dù điểm ngày càng cao, trên thực tế, sinh viên học bài ít hơn. Nhiều sinh viên trốn tiết hoặc chăm chăm nhìn vào thiết bị điện tử, giả vờ đã đọc bài và không phát biểu.
Nếu kế hoạch siết điểm A được thông qua, mặt bằng điểm số sẽ quay về mức của năm 2011.
Khánh Linh (Theo The Wall Street Journal, Harvard Magazine)
Ngoài Tổng lãnh sự Pháp, ngày hội Pháp ngữ có sự tham dự của Tổng lãnh sự Thuỵ Sĩ, Canada, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF), Viện Trao đổi Văn hóa với Pháp (IDECAF) cùng các trường đại học, tổ chức du học trên thế giới.
Ngày hội Pháp ngữ được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng như: Hùng biện, tọa đàm chia sẻ cơ hội việc làm, các chương trình biểu diễn nghệ thuật và âm nhạc, triển lãm ảnh, trình chiếu phim ngắn...
Theo ông Nguyễn Bảo Quốc, Phó giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, ngày hội là một trong những hoạt động nhằm tôn vinh ngôn ngữ, văn hóa và cộng đồng các quốc gia sử dụng tiếng Pháp.
Tại TP.HCM, dạy và học tiếng Pháp đã trở thành truyền thống lâu đời. Cụ thể, từ năm 1994, tiếng Pháp bắt đầu giảng dạy tại các trường THCS. Đến năm 2006, hoạt động giảng dạy tổ chức xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12.
Ngành giáo dục thường xuyên tổ chức các hoạt động bồi dưỡng giáo viên cùng các hội thi, hoạt động trải nghiệm học tập, giao lưu văn hóa, giúp phong trào dạy và học tiếng Pháp ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Chia sẻ tại ngày hội, ông Etienne Ranaivoson, Tổng lãnh sự Pháp tại TP.HCM, cho hay, đây là lần đầu tiên Ngày hội Pháp ngữ được tổ chức trong khuôn viên một trường THPT tại TP.HCM.
Tháng 10.2024, quan hệ giữa Việt Nam và Pháp được nâng cấp thành đối tác chiến lược toàn diện, thể hiện quan hệ hợp tác sâu rộng giữa hai quốc gia, trong đó có lĩnh vực giáo dục. Trong vòng 3 năm, mạng lưới cơ sở giáo dục đã mở rộng từ 11 lên 32 cơ sở giáo dục dạy tiếng Pháp, mở ra nhiều cơ hội học tập, làm việc giữa hai quốc gia.
Theo thống kê của Tổng Lãnh sự quán Pháp tại TP.HCM, tiếng Pháp hiện nay là ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ 4 trên thế giới, đồng thời là ngoại ngữ được học nhiều thứ 2 tại Việt Nam. Trên thế giới, ngôn ngữ này có khoảng 400 triệu người đang theo học.
Theo đó, Bộ GD-ĐT cho phép tuyển sinh nhiều đợt trong năm, đa dạng phương thức và mở rộng quyền tự chủ cho nhà trường. Tuy nhiên còn những băn khoăn vì có một số điểm chưa rõ, đặc biệt liên quan đến liên thông hệ thống và đối tượng tuyển sinh.
ThS Võ Công Trí, Phó hiệu trưởng thường trực Trường cao đẳng Kỹ thuật - Du lịch Sài Gòn (TP.HCM), cho rằng dự thảo đang đi theo hướng tích cực, mở thêm dư địa cho các cơ sở đào tạo.
Các trường được phép tuyển sinh nhiều đợt trong năm sẽ chủ động hơn trong kế hoạch tuyển sinh, đồng thời tạo điều kiện để người học có thêm cơ hội lựa chọn thời điểm nhập học phù hợp với nhu cầu.
Dự thảo cho phép thí sinh nộp hồ sơ cả trực tiếp và trực tuyến. Ông Trí nhận xét nếu so với xét tuyển đại học chủ yếu theo các đợt chung và đăng ký trên hệ thống trong khung thời gian cố định, cách thức đăng ký giáo dục nghề nghiệp linh hoạt hơn, giảm áp lực về thời điểm và thủ tục cho cả người học và các trường.
"Đặc biệt dự thảo vẫn mở ra khả năng để các trường cao đẳng tham gia hệ thống tuyển sinh chung của Bộ GD-ĐT cùng với các trường đại học, qua đó giúp mở rộng khả năng tiếp cận thí sinh ngay trong giai đoạn đăng ký nguyện vọng. Các trường có thể vừa tham gia hệ thống chung để tiếp cận nguồn thí sinh rộng hơn vừa chủ động triển khai các phương thức tuyển sinh riêng của mình", ông Trí nói.
ThS Phạm Duy Đông - Phó hiệu trưởng Trường cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi (Đồng Nai) - đánh giá dự thảo trao quyền cho cơ sở đào tạo tự chủ trong việc lựa chọn phương thức tuyển sinh. Nhà trường có thể quyết định xét tuyển, thi tuyển hoặc kết hợp giữa xét tuyển và thi tuyển tùy theo đặc thù ngành nghề và định hướng đào tạo được quyền tự chủ trong cách tuyển sinh.
Ngoài ra dự thảo có đề cập số lượng tuyển sinh thực tuyển hằng năm theo từng nhóm ngành, nghề đào tạo không vượt quá 15% so với số lượng đã xác định. Đối với những ngành, nghề có tỉ lệ người học bỏ học, thôi học hoặc chuyển sang ngành khác trong hai năm liên tiếp vượt quá 20%, dự thảo cho phép cơ sở đào tạo được xác định số lượng tuyển sinh tăng thêm tối đa 15%.
Theo ông Đông, đây là cách tiếp cận "khá sát với thực tế" bởi trong quá trình học tập, đặc biệt ở năm nhất, không ít sinh viên thay đổi lựa chọn do nhiều nguyên nhân khác nhau. "Quy định này giúp các trường có dư địa để điều chỉnh kế hoạch tuyển sinh, tránh tình trạng thiếu hụt người học ở một số ngành, nghề", ông Đông nhận xét.
TS Đặng Minh Sự - Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM - nói dự thảo quy chế lần này có nhiều điểm tích cực, đặc biệt ở việc tăng tính linh hoạt và mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên ông cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện một số nội dung để đảm bảo tính đồng bộ trong toàn hệ thống.
Chẳng hạn vấn đề liên thông và tích hợp với hệ thống tuyển sinh chung của Bộ GD-ĐT cùng các trường đại học. Theo ông, dự thảo hiện mới dừng ở mức khuyến khích, chưa làm rõ việc tham gia hệ thống này là bắt buộc hay tự nguyện đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Do vậy, ông Sự đề xuất cần quy định rõ lộ trình tham gia hệ thống tuyển sinh chung theo hướng bắt buộc nhằm đảm bảo sự thống nhất trong toàn hệ thống. Đồng thời cần xây dựng cơ chế chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học để hạn chế trùng lặp trong tuyển sinh, mở rộng nguồn thí sinh cho cả hai hệ thống.
ThS Ngô Thị Quỳnh Xuân, Hiệu trưởng Trường cao đẳng Du lịch Sài Gòn (TP.HCM), nói khâu phân nhóm ngành cần được xem xét điều chỉnh phù hợp thực tiễn đào tạo. Cụ thể, theo khoản 4 điều 3 của dự thảo, các trường chỉ được tự điều chỉnh số lượng tuyển sinh giữa các ngành cụ thể (mã cấp IV) khi các ngành này thuộc cùng một nhóm ngành (mã cấp III) và cùng trình độ đào tạo.
Trong khi đó theo danh mục hiện hành, lĩnh vực du lịch - dịch vụ lại đang bị tách thành hai nhóm riêng biệt gồm nhóm Du lịch (mã 68101) và nhóm Khách sạn, nhà hàng (mã 68102). Theo bà, cách phân nhóm này khiến các trường không thể linh hoạt điều tiết chỉ tiêu giữa các ngành có tính chất liên thông rất cao.
Ví dụ không thể giảm chỉ tiêu ngành hướng dẫn du lịch để tăng cho quản trị khách sạn dù thực tế đây là các lĩnh vực gắn bó chặt chẽ trong cùng một hệ sinh thái dịch vụ.
Bà Xuân kiến nghị về lâu dài có thể rà soát và điều chỉnh danh mục ngành, nghề đào tạo theo hướng gộp các lĩnh vực du lịch và khách sạn - nhà hàng vào cùng một nhóm ngành (mã cấp III).
Trường hợp chưa thể điều chỉnh ngay cần bổ sung cơ chế mở trong quy chế tuyển sinh, cho phép các cơ sở đào tạo được tự chủ điều chỉnh chỉ tiêu giữa các nhóm ngành (mã cấp III) nếu cùng thuộc một lĩnh vực lớn (mã cấp II).