Hôm nay (13.4), ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức hội thảo khoa học “Dạy và học toán trong kỷ nguyên công nghệ”, quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước. Tại đây, GS Vũ Hà Văn, khoa Toán ĐH Hồng Kông, Viện Nghiên cứu dữ liệu lớn Trường ĐH VinUni, đã có chia sẻ về việc dạy và học toán trong kỷ nguyên công nghệ.
Ngay phần đầu chia sẻ, ông đặt vấn đề bằng câu hỏi: “Học toán (gì) để làm gì? Dạy toán như thế nào?”. Từ những câu chuyện từ cuộc sống, ông cho biết từng nghe nhiều người than phiền học tích phân, đạo hàm nhưng không thấy ứng dụng trong cuộc sống. Tuy nhiên, ít ai hỏi rằng cần học cụ thể nội dung gì ở môn này.
GS Văn nhìn nhận đây là thiếu sót bởi toán là lĩnh vực rộng, gồm nhiều chuyên ngành nhỏ, tương tự thể thao. Ai cũng biết chơi thể thao có lợi cho sức khỏe, nâng cao tinh thần, tuổi thọ, nhưng quan trọng là phải chọn môn phù hợp và có lợi nhất. “Nếu ở làng chài thì rõ ràng nên học bơi lội để phục vụ cho công việc, cuộc sống”, ông ví dụ.
Theo GS Văn, tầm quan trọng của toán học đã được khẳng định trong thực tế phát triển khoa học công nghệ toàn cầu. “Toán học là nền tảng của nhiều ngành khoa học và công nghệ. Toán học cũng là cơ sở kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao – yếu tố then chốt để Việt Nam bắt kịp xu thế toàn cầu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo”, GS Văn nhấn mạnh.
Chia sẻ theo góc nhìn cá nhân, GS Văn cho rằng: “Toán học không chỉ là tập hợp các công thức tính toán, mà là cách ta nhìn nhận thế giới”.
Trong bài nói chuyện, GS Văn giải đáp câu hỏi “toán học có quan trọng trong thời của AI và dữ liệu lớn?” bằng cách dẫn lời khuyên của các CEO công nghệ hàng đầu thế giới với sinh viên. Trong đó, Elon Musk (CEO Tesla) và Jensen Huang (CEO NVIDIA) cho rằng: “Trong kỷ nguyên AI, sinh viên nên tập trung vào việc học toán và vật lý thay vì học lập trình. AI rồi sẽ lập trình tốt, con người phải hiểu khoa học”…
Gần 30 năm làm việc, trao đổi ở những ngôi trường hàng đầu trên thế giới, ông chỉ ra vấn đề trong thực tế dạy và học toán trong ĐH hiện nay, không chỉ ở Việt Nam. Ông nói: “Đa phần vẫn học toán để qua môn, đối phó là chính. Ngay cả trong các trường ĐH ở Mỹ, phần lớn sinh viên vẫn học toán với tư duy này”.
Theo ông, bất cập này do nội dung đào tạo dàn trải, giáo trình cũ kỹ, phương pháp giảng dạy nặng về truyền thụ lý thuyết. Chương trình toán ở phổ thông và ĐH hiện nay có nhiều nội dung không cần thiết, không cập nhật nhu cầu thực tế công nghệ, công nghiệp.
“Có một số lý thuyết phải dạy vài tháng sinh viên mới hiểu, thông thạo. Nhưng công bằng mà nói, nếu không đi làm cho NASA thì chắc không bao giờ chúng ta dùng”, ông nói. “Ngược lại, trong đời sống hàng ngày có những nhu cầu liên quan đến toán học cơ bản như đầu tư tài chính, cần hiểu lý thuyết phương sai nhưng đa số lại lơ mơ”, GS Văn chia sẻ.
Nghịch lý này cũng xảy ra ở một số ngành nghề đòi hỏi toán học đỉnh cao. Ông kể câu chuyện tuyển chọn ứng viên cho chương trình kỹ sư AI của VinIF. Hầu hết sinh viên chuyên ngành liên quan đến toán, tốt nghiệp các ĐH danh tiếng, điểm trung bình toán rất cao nhưng vẫn cần khoảng 4 tháng đầu để học lại một số môn cơ sở.
Khẳng định nhân lực ngành toán sẽ là điểm tựa để quốc gia thực hiện các mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên mới, GS Văn cho rằng đổi mới giáo trình và phương pháp giảng dạy là nhu cầu bức thiết. “Không chỉ Việt Nam, nhiều nước trên thế giới cũng đang chạy đua cách tân chương trình toán”, ông nói.
Kết thúc bài nói chuyện, GS Vũ Hà Văn khẳng định: “Trong kỷ nguyên số, sự phát triển của AI, Data Science, học máy dựa trên nền tảng một số ngành toán học. Đổi mới cách dạy và học toán đang trở thành bài toán tầm quốc gia”. Câu hỏi của ông kết thúc bài nói chuyện nhưng gợi mở nhiều chia sẻ từ hội thảo: “Vậy chúng ta cần thay đổi những gì?”.
GS-TS Đặng Đức Trọng, Khoa Toán-Tin học Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM, cho rằng việc đổi mới phương pháp giảng dạy toán cần bắt đầu từ việc thay đổi vai trò của người học trong lớp học. “Thay vì truyền thụ kiến thức một chiều, giảng viên cần ‘ủy nhiệm’ quá trình học cho sinh viên thông qua các phương pháp kích thích tư duy độc lập và khả năng tự khám phá. Chúng ta cần tạo ra những tình huống mà ở đó sinh viên buộc phải suy nghĩ, phải tự chứng minh, thậm chí đối diện với những bài toán chưa có lời giải rõ ràng. Chính quá trình đó mới hình thành năng lực nghiên cứu thực sự”, GS-TS Đặng Đức Trọng nói.
Nội dung trên nằm trong đề án phát triển Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT) giai đoạn 2026-2035, được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt cuối tháng 3.
Mục tiêu là đưa PTIT thành đơn vị chủ lực trong hệ sinh thái khoa học công nghệ quốc gia, gồm dẫn dắt về trí tuệ nhân tạo (AI), tiên phong trong các ngành công nghệ mới, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và hình mẫu đại học số.
Với các ngành công nghệ mới, PTIT sẽ mở ngành và đào tạo nhân tài, phát triển nghiên cứu chuyên sâu trong một số lĩnh vực như AI, bán dẫn, UAV và robot tự hành, hàng không vũ trụ, kinh tế tầm thấp, tài sản số.
Hiện, trường tuyển sinh nhiều ngành liên quan như Trí tuệ nhân tạo, Trí tuệ nhân tạo vạn vật, Công nghệ vi mạch bán dẫn hay Công nghệ tài chính.
Với AI, học viện sẽ hình thành 8-10 nhóm nghiên cứu, 20 chuyên gia đạt trình độ khu vực, xây dựng các phòng thí nghiệm chuyên sâu để đạt vị thế trong nhóm đại học hàng đầu châu Á.
Đề án cũng đặt mục tiêu PTIT thành trung tâm hạ tầng và năng lực AI dùng chung quy mô quốc gia; đầu mối quốc gia về kiểm thử, đánh giá và chuẩn hóa AI; là lực lượng nòng cốt trong phát triển chuyên sâu mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt.
Ngoài ra, cơ sở này cần tăng năng lực thương mại hóa tài sản trí tuệ. Dự kiến tới năm 2035, trường đạt 100-120 đơn đăng ký sở hữu trí tuệ mỗi năm, hình thành 30-50 doanh nghiệp khoa học công nghệ, nguồn thu từ thương mại hóa công nghệ tối thiểu đạt 20% vào năm 2030.
"Việc đặt mục tiêu về nguồn thu không chỉ góp phần đa dạng hóa nguồn lực tài chính, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình đại học truyền thống sang đại học đổi mới sáng tạo", nhà trường nhìn nhận.
PTIT cũng định hướng xây dựng mô hình Đại học số mở (MOOC) đa ngôn ngữ với các khóa học trực tuyến linh hoạt, cá nhân hóa lộ trình học tập. Mục tiêu là một triệu người học qua hệ thống này vào năm 2030.
Kinh phí đề án từ nguồn ngân sách nhà nước, của trường, nguồn tài trợ.
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông có lịch sử từ năm 1953, quy mô đào tạo hiện tại là gần 30.000 người học.
Trong quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học tầm nhìn đến năm 2050 của Chính phủ, đây là một trong 5 đại học được định hướng phát triển thành cơ sở trọng điểm quốc gia về kỹ thuật, công nghệ có chất lượng và uy tín ngang tầm khu vực.
Ngày 10-4, Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM phối hợp cùng Tòa án nhân dân khu vực 1 - TP.HCM tổ chức tọa đàm "Tòa án điện tử trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam".
PGS.TS Ngô Hữu Phước, Phó trưởng khoa phụ trách khoa luật kinh tế, Trường đại học Kinh tế - Luật, cho rằng tòa án điện tử cần được nhìn nhận như một mô hình vận hành tư pháp mới, trong đó toàn bộ quy trình tố tụng được thiết kế lại trên nền tảng số.
Theo ông, tòa án điện tử có thể chia thành ba cấp độ gồm số hóa dữ liệu, thực hiện các giao dịch tố tụng trực tuyến và cấp độ cao nhất là tái cấu trúc toàn diện theo nguyên tắc "digital by design" (tạm dịch: thiết kế số ngay từ đầu).
Ở cấp độ cuối cùng, công nghệ đi vào lõi vận hành của tòa án, từ quản lý dữ liệu, kết nối liên thông, hỗ trợ tra cứu, cho tới ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các tác vụ tư pháp.
Theo ông, muốn xây dựng tòa án điện tử thì phải có khung pháp lý đồng bộ, hạ tầng công nghệ đủ mạnh, dữ liệu được chuẩn hóa và bảo mật.
Quan trọng hơn cả, đội ngũ thẩm phán, thư ký, cán bộ tư pháp phải được đào tạo bài bản về năng lực số, từ kỹ năng vận hành hệ thống đến khả năng đánh giá chứng cứ điện tử, tổ chức phiên tòa trực tuyến và xử lý các tình huống phát sinh trong môi trường số.
Ông Nguyễn Cao Trí, Tòa án nhân dân khu vực 1 - TP.HCM, chia sẻ một trong những chuyển động rõ nhất là quá trình từng bước số hóa quy trình tố tụng, từ tiếp nhận đơn, quản lý hồ sơ cho đến tổ chức xét xử.
Nhờ sử dụng phần mềm quản lý án, hệ thống lưu trữ dữ liệu điện tử và các công cụ hỗ trợ điều hành, thời gian xử lý, hạn chế sai sót và tăng khả năng theo dõi tiến độ giải quyết vụ việc đã giảm đáng kể.
Một khó khăn được ông Trí nhấn mạnh là yếu tố con người. Theo ông, không phải cán bộ nào cũng sẵn sàng thích ứng ngay với môi trường làm việc số, trong khi kỹ năng công nghệ thông tin giữa các vị trí còn chưa đồng đều.
Vì vậy xây dựng tòa án điện tử cần đi cùng chiến lược đào tạo liên tục, giúp đội ngũ thẩm phán, thư ký và cán bộ tư pháp vừa sử dụng thành thạo công cụ, vừa thay đổi tư duy làm việc theo hướng phù hợp với mô hình tư pháp số.
Trường hướng tới nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự, đặt mục tiêu tăng mạnh đội ngũ giảng viên trình độ cao, phấn đấu tăng gấp đôi số lượng tiến sĩ với việc bổ sung thêm gần 250 tiến sĩ. Trong đó 50% đạt học hàm giáo sư, phó giáo sư và nâng gấp đôi số lượng công bố quốc tế trong 5 năm tới.
Thông tin được PGS.TS Trần Lê Quan - Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM) - công bố trong chiến lược phát triển đến năm 2030 của trường trong định hướng tăng trưởng chung của Đại học Quốc gia TP.HCM.
Hoạt động nghiên cứu của trường cũng ghi nhận những bước tiến đáng kể. Số lượng công bố quốc tế tăng trưởng ổn định 10-15% mỗi năm với gần 4.000 bài báo được công bố trên cơ sở dữ liệu Scopus trong 5 năm qua.
Khoảng 1.200 đề tài khoa học các cấp với tổng kinh phí hơn 200 tỉ đồng đã được trường triển khai hiệu quả.
Nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm, nhóm nghiên cứu mạnh, sáng chế và sản phẩm chuyển giao công nghệ đã ra đời, góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn cho địa phương và doanh nghiệp.
"Với chiến lược này, Trường đại học Khoa học tự nhiên đặt mục tiêu trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu, góp phần nâng tầm chất lượng giáo dục và khoa học Việt Nam trong giai đoạn tới", ông Quan nhấn mạnh.
Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM) hiện có 1.070 viên chức, người lao động. Trong đó có 10 giáo sư, 66 phó giáo sư, 246 tiến sĩ và 404 thạc sĩ đang công tác tại 10 khoa, 11 phòng chức năng, thư viện, 8 trung tâm, 1 viện và 8 phòng thí nghiệm.
Tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ chiếm hơn 60% và đang tiếp tục có xu hướng tăng trong những năm tới. Đến nay, quy mô đào tạo của trường đạt gần 18.000 sinh viên đại học cùng khoảng 2.500 học viên sau đại học và nghiên cứu sinh.
Trường đào tạo 31 chương trình đại học, 37 chương trình thạc sĩ và 31 chương trình tiến sĩ, trải dài 8 lĩnh vực trọng điểm như: khoa học tự nhiên, khoa học sự sống, kỹ thuật, công nghệ thông tin, toán - thống kê, môi trường và giáo dục.
Hệ sinh thái hợp tác quốc tế của trường ngày càng mở rộng với gần 60 đối tác và hơn 120 thỏa thuận hợp tác, triển khai nhiều chương trình liên kết đào tạo và đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, giúp nhà trường hội nhập sâu rộng trong khu vực và quốc tế.