Phát biểu tại hội thảo “Đào tạo, trọng dụng tài năng trong bối cảnh mới” hôm qua 8.4, GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục cho rằng đào tạo và sử dụng nhân tài là giải pháp then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng “hai con số”. Mặc dù các trường đại học đang được tạo điều kiện tối đa để trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và hạt nhân của hệ sinh thái khoa học công nghệ nhưng “chương trình tài năng vẫn còn là thuật ngữ xa xỉ” và “nhân tài ở đâu đó chứ không hiện hữu quanh ta”.
“Chính sách phát hiện và bồi dưỡng nhân tài còn thiếu hệ thống và chưa liên tục. Liên kết giữa đào tạo – nghiên cứu – sử dụng còn lỏng lẻo. Chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển chưa đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa nhân lực chất lượng cao. Hiện tượng “chảy máu chất xám” và lãng phí nhân tài vẫn còn hiện hữu”, GS Nguyễn Tiến Thảo nói.
GS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội cho biết, dù điều kiện thực hành ở bậc đại học đã có những bước tiến dài, nhưng nếu nhìn vào các phòng thí nghiệm dành cho hệ sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ), Việt Nam vẫn còn ở khoảng cách “rất xa so với thế giới”. Mặt khác, chúng ta chưa tạo ra được môi trường để những người có tài năng thiên bẩm mang kiến thức vào thực tế cuộc sống và dẫn dắt xã hội.
TS Đặng Văn Huấn, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học cũng chia sẻ diễn biến triển khai Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025 – 2035 và định hướng tới 2045 mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt hồi tháng 5.2025.
Theo đó, Bộ GD-ĐT đã có một lộ trình khắt khe để đưa thuật ngữ “tài năng” thoát khỏi sự xa xỉ và trở nên thực chất hơn. Chuẩn chương trình đào tạo tài năng sẽ không dành cho số đông. Để được gọi là “tài năng”, sinh viên phải vượt qua những rào cản đầu vào gắt gao: hoặc là những người đoạt giải quốc gia, quốc tế; hoặc phải nằm trong nhóm 20% có điểm số cao nhất toàn quốc.
TS Đặng Văn Huấn đưa ra một bảng tiêu chí lựa chọn cơ sở đào tạo tài năng với thang điểm 100 đầy thách thức. Chẳng hạn, một trường đại học muốn đào tạo tài năng phải có uy tín trong đào tạo tiến sĩ (20 điểm), có hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại (10 điểm) và các nhóm nghiên cứu mạnh với nhiều công bố quốc tế (15 điểm). Trong đợt xét chọn đầu tiên, chỉ có 92 ngành đào tạo đáp ứng được các tiêu chuẩn này, phần lớn tập trung vào lĩnh vực kỹ thuật và máy tính.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/chuong-trinh-dao-tao-tai-nang-van-con-la-thuat-ngu-xa-xi-185260408211335956.htm
Giáo Dục
Xã đầu tiên miễn phí sách giáo khoa cho học sinh: Dự kiến mỗi cuốn dùng 7-10 năm

Ngày 10-4, UBND xã Hòa Vang (TP Đà Nẵng) công bố kết quả thực hiện chính sách cung cấp sách giáo khoa miễn phí cho toàn bộ học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Đây là địa phương đầu tiên trong cả nước triển khai chính sách này.
Ông Lê Phú Nguyện, Chủ tịch UBND xã Hòa Vang, cho biết ngay từ thời điểm thành lập theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp (1-7-2025), Hòa Vang đã xác định là địa bàn còn nhiều khó khăn, đời sống người dân chưa cao. Từ thực tế đó, xã chủ động xây dựng mô hình "tủ sách giáo khoa dùng chung", huy động nguồn lực xã hội hóa để cung cấp sách giáo khoa (SGK) miễn phí, giảm gánh nặng chi phí cho phụ huynh và chống lãng phí.
Giai đoạn đầu Hòa Vang huy động 551 triệu đồng, mua hơn 6.000 quyển SGK cho hơn 1.200 học sinh tại tám thôn vùng đồi núi xã Hòa Phú (cũ). Đối tượng được ưu tiên là học sinh diện chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số; đáp ứng khoảng 31% nhu cầu năm học 2025-2026.
Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị được ban hành, đặt mục tiêu cung cấp SGK miễn phí từ năm học 2029-2030. Cùng với đó quyết định 3588 của Bộ GD-ĐT quy định bộ SGK thống nhất toàn quốc - cũng chính là bộ "Kết nối tri thức" mà Hòa Vang đang triển khai - đã tạo cơ sở pháp lý để địa phương mở rộng mô hình.
Xã tiếp tục huy động thêm gần 1,5 tỉ đồng, mua 74.676 quyển SGK. Đến nay tổng số sách tại thư viện các trường đạt 91.060 quyển, đủ để miễn phí cho gần 7.000 học sinh từ tiểu học đến THCS, THPT tại sáu cơ sở giáo dục, bao gồm cả các đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT như Trường THPT Ông Ích Khiêm và Trung tâm Giáo dục thường xuyên số 3 - cơ sở 2. Với nguồn lực này, Hòa Vang dự kiến đáp ứng 100% nhu cầu SGK từ năm học 2026-2027.
Theo ông Nguyện, điểm cốt lõi trong cách làm là bảo đảm tính bao quát và thống nhất. Tất cả học sinh đang học tại các cơ sở giáo dục tại xã đều được mượn sách, không phân biệt thuộc quản lý của địa phương hay của ngành giáo dục.
Bài toán lớn nhất của mô hình không nằm ở khâu triển khai ban đầu mà ở khả năng duy trì lâu dài. Theo lãnh đạo xã Hòa Vang, nếu được quản lý và sử dụng tốt, mỗi cuốn SGK có thể sử dụng trong khoảng 7-10 năm. Như vậy mỗi năm chỉ cần chi một khoản kinh phí nhỏ, không đến 10%, để thay thế số sách hư hỏng, hao hụt.
"Đây là mức chi rất tiết kiệm. Nếu Nhà nước và địa phương không làm thì chi phí đó sẽ do từng gia đình gánh hằng năm, cộng lại là nguồn lực rất lớn của xã hội. Khi chính quyền đứng ra tổ chức không chỉ giúp người dân mà còn góp phần chống lãng phí", ông Nguyện nói.
Để có được nguồn sách ban đầu xã đã huy động sự chung tay của cộng đồng doanh nghiệp. Dù trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, nhưng vẫn sẵn sàng đồng hành khi nhận thấy ý nghĩa thiết thực và nhân văn của chính sách. Chỉ trong vài tháng địa phương đã huy động đủ nguồn lực để triển khai cho năm học.
Ông Nguyện thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn ban đầu khi triển khai, thời điểm đầu chưa có cơ sở pháp lý cụ thể trong khi điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương còn hạn chế nên việc vận động rất khó khăn, nguồn lực không dồi dào. Tuy nhiên, khi nghị quyết 71 được ban hành, địa phương có thêm cơ sở để đẩy nhanh tiến độ.
"Chúng tôi xác định đây là việc nên làm, có thể làm và cần làm sớm. Làm càng sớm thì người dân càng giảm chi phí, xã hội càng tiết kiệm nguồn lực", ông Nguyện nói.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, đánh giá mô hình tại Hòa Vang là bước cụ thể hóa tinh thần nghị quyết 71, không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà còn ở khía cạnh an sinh xã hội.
Trong bối cảnh Đà Nẵng mở rộng địa bàn sau sáp nhập, bao gồm nhiều khu vực còn khó khăn về hạ tầng và kinh tế, mô hình này giúp giảm gánh nặng cho các gia đình, tạo điều kiện để học sinh yên tâm học tập.
"Trong thời gian ngắn xã đã triển khai hiệu quả. TP giao ngành giáo dục nghiên cứu, lấy đây làm mô hình điểm để nhân rộng toàn TP trong thời gian tới", ông Anh Tuấn nói.
Đồng thời ông cũng lưu ý để mô hình phát huy hiệu quả lâu dài cần phân công rõ trách nhiệm quản lý, mượn - trả - thu hồi sách; xây dựng quy chuẩn sử dụng; tăng cường tuyên truyền để phụ huynh, học sinh nhận thức đúng; đồng thời duy trì và mở rộng các nguồn lực hỗ trợ, thường xuyên theo dõi, đánh giá để điều chỉnh kịp thời.

Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 19 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 29 quy định về hoạt động dạy thêm, học thêm (DTHT) trong và ngoài nhà trường. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15.4.
Theo đó, các hoạt động giáo dục về văn hóa, nghệ thuật, thể thao; tăng cường năng lực ngoại ngữ, giáo dục STEM/STEAM, giáo dục năng lực số, trí tuệ nhân tạo (AI), giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống và các nội dung giáo dục khác theo quy định nhằm giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng khiếu của học sinh (HS) mà không thuộc nội dung chương trình các môn học do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này.
Điều này khiến không ít phụ huynh cảm thấy băn khoăn. Nhiều năm gần đây, các hoạt động nói trên được đưa vào nhà trường thường được gọi là hoạt động giáo dục "liên kết", bổ trợ nhưng thực chất không khác gì dạy thêm trong nhà trường, ví dụ như môn tiếng Anh. Trong chương trình chính khóa có môn học này (thời lượng chương trình 4 tiết/tuần) nhưng rất nhiều trường đưa vào thời khóa biểu môn "tiếng Anh liên kết" hoặc "tăng cường tiếng Anh", "tiếng Anh với người nước ngoài"… có thu học phí, thậm chí là học phí rất cao. Các môn như toán bằng tiếng Anh, STEM, kỹ năng sống… cũng tương tự.
Những giờ học liên kết có thu tiền được chèn vào giờ học chính khóa khiến dư luận bức xúc nhiều năm qua. Hoạt động này không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định dạy thêm, học thêm theo Thông tư 19 sửa đổi mới ban hành
ẢNH: PHHSCC
Việc phụ huynh dù không muốn nhưng vẫn phải đóng tiền cho con học vì cách xếp lớp, xếp thời khóa biểu của các nhà trường đã khiến dư luận rất bức xúc.
Tiếp xúc cử tri Hà Nội vào tháng 12.2025 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (thời điểm đó đang giữ cương vị Tổng Bí thư) cũng chỉ đạo "không thể biến trường học thành nơi dịch vụ" khi Nhà nước miễn học phí, nhưng trường lại "bày ra nhiều thứ khác thu tiền nhiều hơn".
Từ khi Bộ GD-ĐT dự kiến sửa quy định DTHT, cũng có ý kiến đề nghị làm rõ định nghĩa và cơ chế giám sát tài chính đối với "hoạt động giáo dục tăng cường". Có ý kiến bày tỏ lo ngại về nguy cơ biến tướng hoạt động "tăng cường" khi dự thảo loại trừ các "hoạt động giáo dục tăng cường, theo sở thích" ra khỏi phạm vi điều chỉnh của dạy thêm. Nếu không có ranh giới rõ ràng, các cơ sở giáo dục có thể lợi dụng điều này để tổ chức dạy thêm dưới danh nghĩa "hoạt động tăng cường".
Đại diện Bộ GD-ĐT lý giải: Thông tư mới đã làm rõ hơn về khái niệm DTHT, phân định ranh giới giữa DTHT và các hoạt động giáo dục tăng cường, bổ trợ được phép tổ chức để phát triển toàn diện HS theo tinh thần Nghị quyết 71 về đột phá phát triển GD-ĐT và Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Theo Bộ GD-ĐT, các hoạt động nhằm giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng khiếu của HS được thực hiện theo các quy định khác của pháp luật.
Trước đó, Bộ GD-ĐT cho biết sẽ tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn cụ thể hoạt động giáo dục tăng cường, bảo đảm không bị lợi dụng để thu tiền hoặc tổ chức dạy thêm trái quy định.
Thông tư mới tiếp tục quy định mỗi môn học được tổ chức dạy thêm không quá 2 tiết/tuần. Tuy nhiên, hiệu trưởng được trao quyền chủ động hơn trong tổ chức dạy thêm tại nhà trường khi đề xuất với giám đốc sở GD-ĐT cho phép tăng thời lượng dạy thêm đối với một số đối tượng HS theo quy định và nhu cầu, đi kèm trách nhiệm giải trình.
Dù cho phép tăng tiết nhưng quy định về việc không được thu học phí của người học tại Thông tư 29 vẫn tiếp tục được giữ nguyên.
Hiệu trưởng một trường THCS trên địa bàn P.Thanh Xuân (Hà Nội) cho biết việc cho phép các nhà trường đề xuất tăng tiết là cần thiết, đặc biệt với HS lớp 9 chuẩn bị thi vào lớp 10. Khi còn là dự thảo, Bộ GD-ĐT dự kiến chỉ cho phép tăng tiết DTHT với "trường hợp đặc biệt". Tuy nhiên, ban hành chính thức, quy định đã có xu hướng "nới lỏng" hơn khi cho phép tăng tiết dạy thêm với HS có nhu cầu, dù vẫn giữ quy định phải được giám đốc sở GD-ĐT cho phép. "Lúc trước chúng tôi cũng băn khoăn không biết thế nào là "trường hợp đặc biệt" để minh chứng khi đề xuất với giám đốc sở GD-ĐT. Tuy nhiên, quy định chính thức đã giải tỏa điều này khi không còn cụm từ đó", vị này nói.
Dù vậy, một số hiệu trưởng lại vấp phải một nỗi lo khác, đó là tăng tiết nhưng không cho thu học phí của người học thì kinh phí trả cho giáo viên (GV) lấy từ nguồn nào.
Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội) cho hay hiện kinh phí trả cho GV dạy thêm (tối đa 2 tiết/tuần) để phụ đạo HS yếu, bồi dưỡng HS giỏi và HS ôn thi lớp 10 được trả cho GV dạy vượt số giờ theo quy định. Tuy nhiên, quy định về thời gian làm việc của GV do chính Bộ GD-ĐT ban hành cũng chỉ cho phép nhà trường phân công GV dạy vượt định mức một số giờ nhất định để đảm bảo GV được nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động và không vượt quá khả năng chi trả dạy thêm giờ của ngân sách.
Do vậy, các trường cho biết sẽ phải tính toán cân đối giữa nhu cầu của HS và khả năng của GV. Không thể yêu cầu GV dạy miễn phí quá nhiều nhưng vẫn phải đáp ứng nhu cầu ôn thi của HS. Tránh tình trạng HS vừa phải học thêm ở trường nhưng vẫn phải học thêm bên ngoài dẫn đến quá tải.
Một số sở GD-ĐT cũng nêu khó khăn khi không thu phí dạy thêm trong nhà trường nhưng vẫn phải trả kinh phí cho GV và đề nghị Bộ GD-ĐT khi sửa quy định DTHT cần làm rõ về kinh phí tổ chức DTHT trong nhà trường; hướng dẫn nội dung chi và mức chi phục vụ việc tổ chức DTHT trong nhà trường. Theo các sở GD-ĐT, hiện nội dung chi và mức chi cho việc tổ chức DTHT trong nhà trường chưa được cơ quan có thẩm quyền ban hành, các đơn vị đang gặp khó khăn trong việc xây dựng định mức chi khi lập dự toán. Lý do, cơ quan tài chính trả lời là chưa có căn cứ pháp lý để duyệt định mức chi.
Dù vậy, Bộ GD-ĐT vẫn giữ quy định tại Thông tư 29 với nội dung khá chung chung: "Kinh phí tổ chức DTHT trong nhà trường sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật".
Bộ GD-ĐT một lần nữa khẳng định: "Thông tư 19 tiếp tục không cấm DTHT chính đáng; không hạn chế nhu cầu học tập hợp pháp của người học và quyền dạy học của GV. Mục tiêu trọng tâm của thông tư là siết chặt kỷ cương, ngăn chặn dạy thêm trái phép, ép buộc hoặc trục lợi, bảo vệ môi trường giáo dục lành mạnh, công bằng trong tiếp cận giáo dục đối với mọi đối tượng liên quan".
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/lo-ngai-cac-mon-tang-cuong-khong-phai-la-day-them-185260409213453008.htm

Được tổ chức bởi Nobel Prize Museum, hội nghị không chỉ quy tụ các giáo viên toàn cầu mà còn kết nối trực tiếp với các nhà khoa học đoạt giải Nobel, qua đó đưa những tri thức đỉnh cao của nhân loại trở lại một câu hỏi rất "đời thường" - làm thế nào để những tri thức đó được dạy, được hiểu và được sử dụng trong lớp học?
Là giám đốc học thuật tổ chức giáo dục YOUREORG, đồng thời là học giả Chevening, học thạc sĩ ngành lãnh đạo giáo dục tại ĐH UCL (University College London), được dự Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel với tôi là một trải nghiệm quý giá. Trong không gian đó, một tư duy cốt lõi được lặp lại xuyên suốt các phiên thảo luận.
Giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà đóng vai trò giúp học sinh hiểu và hành động trước các vấn đề toàn cầu. Và để làm được điều này, giáo dục phải thay đổi cách tiếp cận - liên ngành, dựa trên khoa học và gắn với thực tiễn xã hội. Trọng tâm không còn là dạy cái gì, mà là dạy để làm gì trong một thế giới đang biến đổi.
Một điểm đặc biệt của hội nghị là cách các tri thức khoa học phức tạp được chuyển ngữ về ngôn ngữ giáo dục. Trong các phiên liên quan đến khoa học và công nghệ, những khái niệm tưởng chừng xa vời như công nghệ sinh học hay cấu trúc phân tử được trình bày theo hướng trực quan, dễ tiếp cận, mô phỏng vào các tình huống gắn với đời sống, giúp giáo viên dễ dàng chuyển hóa thành bài học cụ thể.
Thầy Nguyễn Ngọc Ân, đang học thạc sĩ ngành giáo dục và công nghệ, ĐH UCL, tham gia Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel 2026, cho rằng giá trị cốt lõi của chương trình không nằm ở việc cung cấp thêm kiến thức mới, mà ở cách tri thức được tổ chức lại để có thể đi vào lớp học.
Từ quan sát này, ông cho rằng bài học quan trọng đối với giáo dục Việt Nam không phải là bổ sung nội dung, mà là thay đổi cách trình bày và tổ chức tri thức. Không thể duy trì cách dạy thiên về diễn giải một chiều nếu muốn tạo ra năng lực thực chất.
Bác sĩ Nguyễn Văn Bình, học giả Chevening, đang học thạc sĩ ngành sức khỏe toàn cầu và phát triển tại ĐH UCL, cho biết điều khiến ông suy nghĩ nhiều nhất không nằm ở các phát minh đột phá, mà ở cách tri thức khoa học được trở nên gần gũi hơn với đời sống thông qua giáo dục.
Giải Nobel thường gắn với những thành tựu khoa học ở tầm cao, nhưng các thông điệp tại hội nghị lại xoay quanh những vấn đề rất cơ bản. Con người sống như thế nào, học như thế nào và tương tác ra sao với hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận này, sức khỏe không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà trở thành một vấn đề liên ngành, trong đó giáo dục giữ vai trò trung tâm.
Quan sát này, theo bác sĩ Bình, đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ giảng viên tại các trường đại học y khoa ở Việt Nam.
Chúng ta đang đào tạo bác sĩ rất tốt về chuyên môn, nhưng câu hỏi là liệu sinh viên y có được chuẩn bị để hiểu, về tác động tới các yếu tố xã hội của sức khỏe hay chưa. Khi sức khỏe gắn với hành vi, môi trường và giáo dục, thì đào tạo y khoa cũng cần mở rộng cách tiếp cận.
Thông điệp xuyên suốt mà chúng tôi ấn tượng tại hội nghị là vai trò ngày càng quan trọng của giáo viên, đồng thời các vấn đề toàn cầu được đưa vào giáo dục như một phần của năng lực sống, thay vì là nội dung bổ sung.
Bà Helena Barret, Giám đốc giáo dục của Bảo tàng Nobel Prize Museum, khi trao đổi riêng với chúng tôi, nhấn mạnh rằng trong một thế giới nơi thông tin ngày càng sẵn có, giá trị của giáo viên không nằm ở việc cung cấp kiến thức, mà ở việc giúp học sinh hiểu điều gì là quan trọng và sử dụng tri thức đó như thế nào.
Điều này cũng được phản ánh trong cách tổ chức lớp học tại các trường tham quan. Giáo viên không bị ràng buộc bởi một kịch bản cứng nhắc mà được trao quyền để thiết kế trải nghiệm học tập. Họ đặt câu hỏi, tạo tình huống và điều chỉnh cách dạy dựa trên phản ứng của học sinh.
Tại ngôi trường Franska Skolan, ở Stockholm, khi quan sát các lớp học ở đây, tôi thấy trong các tiết học, học sinh không học theo một lộ trình cố định mà được đặt vào tình huống để suy nghĩ, thử nghiệm và tự rút ra kết luận.
Trong một tiết toán, cùng một bài toán được giải theo nhiều cách. Giáo viên không đưa ra đáp án ngay mà yêu cầu học sinh so sánh, phản biện và tự viết lại cách hiểu của mình. Điều quan trọng không nằm ở việc đúng hay sai, mà ở quá trình tư duy.
Họ không dạy để học sinh làm đúng, mà dạy để học sinh hiểu. Khi đã hiểu, các em sẽ biết cách áp dụng.
Những quan sát, trải nghiệm tại Stockholm cho chúng tôi thấy rằng, điều quan trọng không phải học sinh Việt Nam cần "học nhiều hơn", mà là học theo cách có ý nghĩa hơn. Đây cũng là tinh thần đã được nhấn mạnh trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, khi chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên không chỉ dừng ở việc cập nhật kiến thức, mà là tiếp cận được với tư duy khoa học hiện đại, hiểu các vấn đề từ góc nhìn liên ngành và quan trọng hơn là chuyển hóa được những tri thức đó thành trải nghiệm học tập gắn với thực tiễn. Đây cũng là một trong những định hướng lớn trong quá trình chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay.
Tuy nhiên, những kinh nghiệm từ quốc tế không phải là những mô hình có thể áp dụng nguyên vẹn. Giá trị lớn nhất nằm ở việc cung cấp thêm những góc nhìn, từ đó giúp quá trình đổi mới trong nước có thêm cơ sở tham chiếu.
Điều quan trọng không phải là mang về một phương pháp cụ thể, mà là thay đổi cách mình nhìn về giáo dục. Khi cách nhìn thay đổi, cách làm sẽ thay đổi.
Trong một thế giới ngày càng phức tạp và nhiều biến động, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giúp con người thích nghi, mà còn góp phần định hình cách họ hiểu và tham gia vào xã hội. Và những thay đổi đó, xét cho cùng, vẫn bắt đầu từ lớp học.

