Ông Nguyễn Hồng Lai, Bí thư Đảng ủy xã Trà Tân, cho biết sau khi triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Ban Thường vụ Đảng ủy xã đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức vận hành bộ máy chính quyền bảo đảm ổn định, thông suốt.
Giai đoạn 2026-2031, xã quyết tâm chuyển 20 – 30% diện tích nông nghiệp sang mô hình giá trị cao, mỗi năm phát triển 1 – 2 sản phẩm OCOP, giải ngân 100% vốn đầu tư công.
Cụ thể chuyển đổi từ 20 – 30% đất nông nghiệp sang mô hình sản xuất có giá trị kinh tế cao như rau sạch, thủy sản, phát triển cây dược liệu hoặc nông nghiệp công nghệ cao.
Xã đề nghị Ban Thường vụ Thành ủy thống nhất chủ trương đưa đề án bảo tồn, phát huy giá trị Khu di tích cách mạng Trung Trung Bộ – Nước Oa gắn với phát triển du lịch trên địa bàn xã Trà Tân vào danh mục đề án năm 2026.
Bố trí kinh phí từ nguồn kinh phí thành phố và chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 – 2035.
Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố nghiên cứu, đề xuất quy hoạch, mở bến thủy nội địa tại khu vực bờ đập thủy điện Sông Tranh 2 thuộc xã Trà Tân để đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển nguyên vật liệu của dân.
Ông Lê Minh Chiến, Chủ tịch UBND xã, cho hay ở địa phương tiềm năng nông nghiệp rất lớn, hiện nay xã đang xây dựng kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP, nhất là cây quế là cây bản địa chủ lực. Xã cũng có sự chuyển đổi, định hướng xây dựng những mô hình cây trồng khác thay thế cây keo.
Theo ông, cây keo trồng 3 – 4 năm là khai thác, vì vậy thời gian tạo điều kiện cho đất phục hồi lại rất ít. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sạt lở đất đó là việc trồng keo rất nhiều, nhất là dọc các tuyến đường giao thông.
Phó bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì mời các viện để nghiên cứu toàn bộ thổ nhưỡng vùng đất Quảng Nam (cũ), trồng cây gì phù hợp. Trên cơ sở làm đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phải làm từ thành phố xuống, các xã đề xuất, đồng thuận.
“Chúng tôi cùng lãnh đạo thành phố sẽ bàn việc chuyển đổi cây trồng từ cây keo sang các cây trồng khác”, ông Hùng cho hay.
Đối với đề xuất mở bến thủy nội địa ở khu vực hồ Sông Tranh 2, ông Hùng giao Sở Xây dựng phối hợp với các sở, địa phương mở bến thủy nội địa vừa khai thác du lịch, giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nghiên cứu kêu gọi doanh nghiệp đầu tư.
Tính đến ngày 7.4, trên ứng dụng VNeID, Bộ Công an đã đăng tải thông tin của 7.760 đối tượng bị truy nã khắp cả nước.
Thông tin người bị truy nã rất cụ thể, gồm: thông tin cá nhân, đặc điểm nhận dạng cho đến tội danh vi phạm và các mức độ truy nã từ thường, đặc biệt đến mức độ nguy hiểm.
Trên VNeID, người dân có thể vào tra cứu thông tin đối tượng truy nã ở mục "Dịch vụ khác". Nếu phát hiện có thể báo cho công an với địa chỉ đính kèm thông tin người đang bị truy nã, hoặc phản ánh trực tiếp qua ứng dụng VNeID. Mọi thông tin phản ánh đều được bảo mật tuyệt đối.
VNeID là ứng dụng do Bộ Công an phát triển, xây dựng trên nền tảng cơ sở dữ liệu định danh, dân cư và hệ thống xác thực điện tử.
Thời gian qua, ứng dụng này liên tục được cập nhật, bổ sung nhiều tính năng mới nhằm phục vụ người dân tốt nhất, với kỳ vọng trở thành một "siêu ứng dụng".
Ví giấy tờ trên VNeID, Bộ Công an đã tích hợp và hiển thị nhiều loại giấy tờ của công dân, như: căn cước công dân, giấy phép lái xe, bảo hiểm y tế, đăng ký xe, thông tin thuế, thông tin cư trú… Những giấy tờ điện tử này có giá trị tương đương bản vật lý, người dân có thể dùng xuất trình.
Ngoài ra, trên ứng dụng này, người dân cũng có thể làm các thủ tục hành chính tại nhà, như cấp đổi căn cước công dân; đăng ký tạm trú, thường trú, khai báo tạm vắng; cấp phiếu lý lịch tư pháp; đăng ký xe; đăng ký khai sinh, khai tử…
Ở mục "Dịch vụ khác" trong VNeID, người dân có thể sử dụng các dịch vụ ngân hàng, ví điện tử, mua vé máy bay, check in bay online… và gửi phản ánh về an ninh trật tự, an toàn giao thông.
Chính phủ ban hành Nghị định số 136 ngày 7.4 quy định chi tiết một số điều của luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội. Đáng chú ý, Chính phủ sửa đổi về điều kiện thu nhập được mua nhà ở xã hội theo hướng tăng mức trần thu nhập từ 5 - 10 triệu đồng tùy đối tượng so với quy định trước đây.
Cụ thể, trường hợp người đứng đơn là người độc thân, thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận (theo bảng lương, tiền công được xác nhận) không quá 25 triệu đồng (tăng 5 triệu đồng so với quy định cũ).
Với người độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên, mức thu nhập tối đa được nâng lên 35 triệu đồng/tháng (tăng 5 triệu đồng so với quy định cũ). Đối với người đã kết hôn, tổng thu nhập bình quân hàng tháng của hai vợ chồng thực nhận không quá 50 triệu đồng (tăng 10 triệu đồng so với quy định cũ).
Người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 35 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 50 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Thời gian xác định điều kiện về thu nhập trong 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.
Nghị định 136/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điều kiện thu nhập để được mua, thuê mua nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân theo hướng mở rộng thành phần thu nhập (bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn).
Đồng thời, thay cách xác định trần thu nhập đối với trường hợp vợ/chồng không thuộc đối tượng: từ hệ số cố định (1,5 lần thu nhập bậc đại tá) sang công thức linh hoạt hơn (thu nhập bậc đại tá + mức lương).
Trường hợp người đứng đơn là người độc thân thì có thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) được cơ quan, đơn vị nơi công tác, quản lý xác nhận.
Người đứng đơn và vợ (chồng) có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 2 lần tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm đại tá.
Vợ (chồng) của người đứng đơn có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm đại tá.
Vợ (chồng) của người đứng đơn không có hợp đồng lao động thì thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Nghị định.