Theo phản ánh, ông L.M.D. (trú phường An Hải, Đà Nẵng) xin tách thửa đất nhưng bị từ chối giải quyết.
Thửa đất số 59 của ông D. diện tích 1.433,8m2, có nguồn gốc từ các thửa đất thuộc khu dịch vụ du lịch ven sông Hàn, được quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 theo năm 2011 của UBND TP Đà Nẵng.
Theo quy hoạch này, khu đất được chia thành bốn lô đất ở đô thị, trong đó có hai lô diện tích 300m2, một lô diện tích 441,1m2.
Sau đó các thửa đất nêu trên được hợp thửa thành thửa đất 1.341,1m2, được cấp sổ đỏ, chuyển nhượng cho ông D..
Năm 2024, ông D. được cấp đổi sổ đỏ và tiếp tục nhận chuyển nhượng thêm 92,7m2. Ông D. hoàn tất thủ tục hợp thửa để hình thành thửa đất số 59, diện tích 1.433,8m2 và được cấp sổ.
Do có nhu cầu nên năm 2025 ông D. đề nghị tách thửa đất số 59 thành ba thửa đất, gồm: hai thửa có diện tích 300m2; một thửa có diện tích 833,8m2.
Tuy nhiên cơ quan đăng ký đất đai không giải quyết.
Ông L.M.D. đã khởi kiện Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực 2 – Đà Nẵng ra tòa.
Trong khi đó tại xã Hòa Tiến (Đà Nẵng), hai thửa đất khác được tách thành tổng cộng 97 lô đất.
Cụ thể, thửa đất số 234, diện tích 10.681,4m2 (đất ở 2.350m2, đất trồng cây hằng năm khác 8.331,2m2) được tách thửa thành 75 lô; thửa đất số 107, diện tích 3.138m2 (đất ở 400m2, đất vườn 2.738m2) được tách thành 22 lô.
Liên quan vấn đề trên, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đà Nẵng cho biết về việc tách thửa của ông L.M.D.:
Năm 2012, UBND TP Đà Nẵng ban hành quyết định số 7668 phê duyệt điều chỉnh đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500 khu dịch vụ du lịch ven sông Hàn thì thửa đất nêu trên thuộc đất ở biệt thự.
Lô đất được điều chỉnh diện tích thành 1.433,8m2, sau đó chủ đầu tư chuyển nhượng cho ông L.M.D..
Ông L.M.D. đề nghị tách thửa đất số 59 thành ba thửa để xây dựng nhà ở cho con…
Theo quy định tại quyết định số 32 ngày 7-10-2024 của UBND TP quy định về các trường hợp không đủ điều kiện để tách thửa đất: “Thửa đất thuộc khu vực đã có quy hoạch tỉ lệ 1/500 chi tiết đến từng thửa đất được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp quy định tại điểm b, khoản 2 điều này”.
Thửa đất đề nghị tách thửa của ông L.M.D. nằm trong khu vực đã có quy hoạch tỉ lệ 1/500 theo quyết định số 7668 phê duyệt điều chỉnh đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500.
Từ đó, cơ quan chức năng cho rằng việc đề nghị tách thửa đất của ông L.M.D. là chưa phù hợp với quy định tại quyết định số 32.
Các thửa đất này đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực 4 xác lập hồ sơ tách thửa không thuộc khu vực đã quy hoạch chi tiết 1/500 như trường hợp của ông L.M.D. và các trường hợp này đều đảm bảo quy định về tách thửa theo Luật Đất đai 2024 và quyết định số 32.
Tôi bị tòa tuyên phải chịu hình phạt tù giam nhưng tôi là lao động duy nhất trong gia đình. Vậy tôi có đương nhiên được hoãn chấp hành hình phạt tù?
Anh Hoàng Hải Minh (tỉnh Gia Lai) hỏi.
- Luật gia Phạm Văn Chung (Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi) trả lời:
Theo quy định tại điều 67 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) về hoãn chấp hành hình phạt tù thì người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:
- Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
- Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
- Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 1 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 1 năm.
Như vậy, theo quy định trên, dù anh là lao động duy nhất trong gia đình nhưng anh cũng không thể đương nhiên được hoãn chấp hành hình phạt tù.
Vì vậy, nếu anh muốn được hoãn chấp hành hình phạt tù (hoãn đến 01 năm), phải có đủ điều kiện sau: (1) Nếu anh phải chấp hành hình phạt thì gia đình anh sẽ gặp khó khăn đặc biệt. (2) Anh không bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Lưu ý nếu trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu anh lại thực hiện hành vi phạm tội mới thì tòa án buộc anh phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định.
Chiều 6/4, TAND khu vực 5 (TPHCM) tuyên phạt bị cáo Phạm Phương (55 tuổi, cựu Trưởng Ban quản trị chung cư Miếu Nổi) 11 năm 6 tháng tù và Đinh Việt Cường (55 tuổi, cựu Phó Ban quản trị) 10 năm 6 tháng tù về tội Tham ô tài sản và Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Liên quan vụ án, bà Nguyễn Thị Đào (58 tuổi, cựu Phó Ban quản trị) bị phạt 2 năm tù và ông Tôn Ngọc Bạch (71 tuổi, cựu thành viên Ban quản trị) 22 tháng tù về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Ngoài ra, hai bị cáo khác bị phạt mức án 2 năm 9 tháng và 3 năm tù về tội Tham ô tài sản.
Cáo trạng thể hiện, bị cáo Phạm Phương, Đinh Việt Cường, Tôn Ngọc Bạch và Nguyễn Thị Đào đã bàn bạc thực hiện việc sửa chữa đường nội bộ chung cư khi chưa được cấp phép. Sau khi bị Thanh tra Sở Xây dựng xử phạt hành chính 15 triệu đồng, các bị cáo đã sử dụng tiền do cư dân đóng góp để nộp phạt.
Tiếp đó, Ban quản trị tự ý cho thuê mặt bằng thuộc sở hữu chung của chung cư. Khi UBND phường 3, quận Bình Thạnh (cũ), yêu cầu thu hồi mặt bằng và bên thuê yêu cầu bồi thường hợp đồng, các bị cáo tiếp tục bàn bạc, lấy 50 triệu đồng từ quỹ cư dân để chi trả.
Ngoài ra, ông Phương còn ký hợp đồng với một doanh nghiệp để lắp đặt hệ thống bãi xe thông minh. Mặc dù dự án không được thi công, Ban quản trị vẫn thống nhất chi trả cho đối tác số tiền 263 triệu đồng.
Phương tiếp tục đại diện Ban quản trị ký hợp đồng trị giá 626 triệu đồng (thực tế thanh toán 640 triệu đồng) với công ty của đối tượng Nguyên để lắp đặt 139 camera giám sát tại chung cư Miếu Nổi. Khi ký hợp đồng, hai bên thỏa thuận không xuất hóa đơn giá trị gia tăng.
Đến tháng 6/2023, Công an quận Bình Thạnh (cũ) mời Phương làm việc liên quan đến đơn tố cáo của cư dân về việc thiếu minh bạch tài chính và có dấu hiệu trốn thuế. Đồng thời, cơ quan công an yêu cầu công ty của Nguyên cung cấp hợp đồng và hóa đơn thuế liên quan.
Lo sợ bị phát hiện sai phạm, Phương và Nguyên đã bàn bạc hủy các hợp đồng, biên bản nghiệm thu, thanh lý từ năm 2018, đồng thời thay đổi thông số kỹ thuật thiết bị thành năm sản xuất 2023 nhằm đối phó với cơ quan chức năng.
Các bị cáo còn sử dụng 62 triệu đồng tiền cư dân đóng góp (phí sử dụng thang máy) để mua hóa đơn khống nộp cho cơ quan công an.
Bên cạnh đó, Phạm Phương ký hợp đồng lắp đặt thang máy B2 và hai thang máy tại đơn nguyên C với tổng giá trị 813 triệu đồng, nhưng thực tế chỉ lắp đặt một thang máy B2 và một thang máy tại đơn nguyên C. Do đơn vị thi công không thực hiện phần việc còn lại, Phương chỉ đạo Nguyễn Thị Đào sử dụng 246 triệu đồng tiền cư dân để mua linh kiện và thuê nhân công tự lắp ráp.
Ngoài ra, tháng 2/2018, bị cáo Phương và Đinh Việt Cường ký hợp đồng trị giá 150 triệu đồng để thi công hạng mục vệ sinh, thoát nước và sửa chữa hệ thống hầm bể phốt chung cư.
Đến năm 2019, ông Phương tiếp tục ký hợp đồng lắp đặt thang máy tại đơn nguyên B2 và hai thang máy tại đơn nguyên C, nâng khống giá trị hợp đồng thêm 600 triệu đồng.
Ban Hồ sơ vụ án thể hiện, Phạm Phương cùng đồng phạm đã nghiệm thu khống, nâng khống giá trị hàng loạt hạng mục như đèn thoát hiểm, camera giám sát sảnh trệt, cầu thang bộ, tivi giám sát văn phòng Ban quản trị, hệ thống bãi xe thông minh… nhằm chiếm đoạt tiền của cư dân.
Tổng cộng, Phạm Phương và các đồng phạm đã chiếm đoạt hơn 960 triệu đồng tiền của cư dân chung cư Miếu Nổi.
Thông tin được Phòng Cảnh sát Hình sự (PC02) Công an TP HCM công bố trưa 10/4. Hồ Minh Đạt, 54 tuổi, Giám đốc Công ty TNHH Mua bán nợ Nhất Tín và Nguyễn Trung Đức (48 tuổi) cùng 7 người khác bị bắt về hành vi Cưỡng đoạt tài sản.
Động thái này được PC02 đưa ra trong quá trình mở rộng điều tra về công ty Được Đất Bắc và các đường dây đòi nợ thuê quy mô lớn núp bóng doanh nghiệp.
Cơ quan điều tra xác định, dù mang danh nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh mua bán nợ, thực chất Công ty Nhất Tín do Đạt điều hành lại tổ chức hoạt động đòi nợ thuê trái pháp luật.
Nhóm này thường ký kết các "hợp đồng mua bán nợ" giả cách, để hợp thức hóa hành vi, với thỏa thuận ăn chia tỷ lệ từ 30% đến 50% trên tổng số tiền đòi được.
Trong vụ án này, Nguyễn Trung Đức đã môi giới để nhóm của Đạt nhận đòi khoản nợ khoảng 70 tỷ đồng của bà Ngọc (ngụ phường Tam Long, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ). Sau khi có được "hợp đồng", Đạt cùng vợ là Nguyễn Thị Giang, chỉ đạo nhóm nhân viên triển khai các "chiến dịch gây áp lực".
Từ cuối tháng 7/2025 đến đầu tháng 10/2025, Đạt chỉ đạo đàn em chia thành nhiều nhóm nhỏ, thay phiên nhau bám sát "con mồi". Họ huy động nhiều người, mặc đồng phục công ty, cố tình để lộ các hình xăm trổ nhằm thị uy.
Cả nhóm thường đi ôtô đến trước nhà riêng và cơ sở kinh doanh của bà Ngọc tại khu vực chợ Bà Rịa để tụ tập đông người, chửi bới và đe dọa. Các thành viên của Công ty Nhất Tín còn có hành vi hành hung, đập phá tài sản tại cửa hàng của nạn nhân.
Sự việc kéo dài khiến hoạt động kinh doanh của bà Ngọc bị ngưng trệ, người thân và nhân viên luôn sống trong cảnh hoang mang, lo sợ.
Vào cuộc điều tra, PC02 đã bắt vợ chồng Đạt và đồng phạm. Khám xét trụ sở công ty và nơi ở của Đạt, cảnh sát thu giữ nhiều tài liệu quan trọng gồm các hợp đồng mua bán nợ, con dấu công ty, đồng phục và phương tiện di chuyển phục vụ cho việc đi "khủng bố" nạn nhân.
Công an TP HCM đang tiếp tục truy bắt những người liên quan, kêu gọi những ai đang bỏ trốn sớm ra đầu thú để hưởng sự khoan hồng của pháp luật.