Tôi 30 tuổi, vợ cùng làm trong ngành IT. Với thu nhập gia đình khoảng 55 triệu một tháng, nghe có vẻ ổn nhưng sống ở Hà Nội, nuôi hai đứa con nhỏ, lại không có gia đình hai bên hỗ trợ, chỉ có người trong cuộc mới hiểu nó chật vật đến mức nào. Chúng tôi có hai bé gái, 2 tuổi và 4,5 tháng. Cả hai lần vợ tôi đều sinh mổ. Tôi vẫn còn nhớ rõ cảm giác đứng ngoài phòng mổ, vừa hồi hộp vừa lo lắng, vừa bất lực. Chờ đợi tin tức từ phòng mổ, tôi biết rằng việc sinh con chưa bao giờ là chuyện tự nhiên và đơn giản như nhiều người vẫn nói.
Sau mỗi lần sinh, vợ tôi mất rất nhiều thời gian để hồi phục. Những cơn đau kéo dài, vết mổ nhức buốt mỗi khi trở trời, rồi cả những đêm thức trắng vì con quấy khóc. Cuộc sống của chúng tôi từ ngày có con gần như bị đảo lộn hoàn toàn. Sáng dậy sớm, lo cho con lớn đi nhà trẻ, con bé thì bú, thay tã, dỗ ngủ. Ban ngày đi làm đã mệt, tối về lại tiếp tục “ca đêm” với con. Không có ông bà hai bên ở gần đỡ đần, mọi thứ đều do hai vợ chồng tự xoay xở. Có những hôm con ốm, hai vợ chồng phải thay nhau xin nghỉ làm đưa con đi viện. Có những đêm con khóc liên tục, hai đứa thay nhau bế mà mắt cay xè vì thiếu ngủ, vợ chồng stress vì cãi nhau, công việc áp lực, việc nhà chất đống và đủ thứ việc khiến chúng tôi rất mệt mỏi.
Ở Hà Nội, chi phí nuôi con không hề nhỏ. Tiền thuê nhà, tiền sữa, tiền bỉm, tiền học, tiền ăn uống… cứ thế đội lên từng tháng. Nhiều lúc tôi ngồi tính toán, thấy mình làm ra cũng không ít nhưng chẳng dư được bao nhiêu. Nhà thì vẫn ở thuê, mỗi tháng trừ tiền nhà đi là thấy áp lực rõ rệt. Việc mua nhà với giá nhà hiện tại, càng nghĩ càng thấy uất ức và bất lực. Nghĩ đến chuyện sinh thêm con, thật sự tôi không dám.
Trước khi sinh lần thứ hai, vợ chồng tôi đã có một cuộc nói chuyện rất nghiêm túc. Không phải là bốc đồng, mà là vì chúng tôi hiểu rõ khả năng của mình đến đâu. Hai đứa trẻ, hai vết mổ, một người vợ đã chịu quá nhiều đau đớn. Tôi không muốn cô ấy phải trải qua thêm lần nào nữa. Chúng tôi đã quyết định sẽ thực hiện triệt sản cho vợ trong quá trình mổ đẻ lần hai. Tuy nhiên trước khi lên bàn mổ, vợ đã bị mẹ vợ thuyết phục và không đăng ký triệt sản nữa. Tôi tuy không vui nhưng cũng không tiện nói vì đang giờ khắc quan trọng.
Vài tháng trôi qua và rồi một tối, vợ thủ thỉ vào tai tôi: “Anh ơi, hôm nào em đưa anh đi triệt sản nam nhé”. Tôi nghĩ một lúc rồi ừ một tiếng. Bản năng đầu tiên trong tôi thấy sợ hãi khi nghĩ tới đưa con dao vào chỗ đó và thực hiện thủ thuật. Sau đó tôi lên mạng tìm hiểu nghiêm túc về triệt sản nam, thực chất là một thủ thuật y khoa khá đơn giản. Bác sĩ sẽ cắt hoặc buộc ống dẫn tinh để tinh trùng không thể đi ra ngoài khi xuất tinh. Điều này không ảnh hưởng đến hormone nam, không làm giảm ham muốn, cũng không làm thay đổi khả năng sinh lý. Người đàn ông vẫn sinh hoạt bình thường, chỉ là không còn khả năng làm cho đối phương mang thai nữa.
Tôi chủ động tìm hiểu bệnh viện uy tín, đặt lịch khám và xong xuôi rồi tâm sự với vợ: “Anh tự đặt lịch đi triệt rồi, hôm đấy không cần vợ đi cùng đâu”. Vợ bất ngờ và mừng rỡ khi nghe được câu nói đó từ tôi. Lúc nói câu đó, tôi thấy mình thật dũng cảm. Trước đây, trong đầu tôi, chuyện kế hoạch hóa gia đình gần như mặc định là việc của phụ nữ. Nhưng nhìn lại, tôi thấy điều đó không công bằng. Vợ tôi đã mang thai, sinh con, chịu đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần. Tôi muốn san sẻ một phần trách nhiệm đó.
Quy trình thực hiện cũng không quá phức tạp. Đến bệnh viện kiểm tra, lấy mẫu máu và xét nghiệm tinh dịch đồ, tôi chờ kết quả và đi thẳng tới phòng thực hiện tiểu phẫu. Quá trình diễn ra khoảng 30 phút, gây tê tại chỗ, tôi hoàn toàn tỉnh táo trong suốt thời gian thực hiện. Thực sự khi làm tôi cũng thấy khá lo sợ, nhưng trong đầu luôn nghĩ đến việc vợ mình đã hai lần mổ đẻ, tôi lại có thêm ý chí để kiên cường. Sau khi xong, tôi có thể tự xuống khỏi giường bệnh, đi mua thuốc và tự về nhà. So với việc triệt sản nữ, vốn là một ca phẫu thuật lớn hơn, rủi ro cao hơn, thì triệt sản nam nhẹ nhàng và an toàn hơn rất nhiều.
Hiện tại đã qua ba ngày, tôi không có cảm giác đau sau phẫu thuật, mọi sinh hoạt đều bình thường. Ngay sau khi về nhà từ bệnh viện, tôi gọi điện chia sẻ cho bố đẻ tôi. Ông im lặng một lúc lâu rồi hỏi: “Sao không hỏi ý kiến bố mà đã tự ý làm? Làm cái này có ảnh hưởng gì đến sinh lý không? Nhỡ rồi như con gà trống thiến thì sao?”. Tôi hiểu nỗi lo của ông. Với thế hệ của bố, chuyện “bản lĩnh đàn ông” gắn rất nhiều với khả năng sinh sản. Tôi phải giải thích rất kỹ rằng thắt ống dẫn tinh không làm giảm testosterone, không ảnh hưởng đến khả năng quan hệ. Nhưng tôi vẫn thấy ông chưa hoàn toàn yên tâm.
Mẹ vợ khi được vợ tôi thông báo thì buồn ra mặt. Bà không nói thẳng nhưng tôi biết bà mong có cháu trai. Đời bà đã có hai cô con gái, chịu đủ sự khinh rẻ từ nhà chồng, sống không được tôn trọng trong cái xã hội phong kiến. Bà không muốn điều đó lặp lại ở cô con gái nhỏ bà hết mực yêu thương. Hai đứa cháu gái của bà rất đáng yêu nhưng trong suy nghĩ của nhiều người lớn, vẫn còn đó mong muốn “có thằng cu nối dõi”. Khi nghe chúng tôi quyết định không sinh thêm, lại còn triệt sản, bà chỉ thở dài: “Thôi, tùy các con”. Bạn bè tôi thì chia thành hai “phe” khá rõ ràng. Phái nữ khi nghe chuyện thì tỏ ra rất ủng hộ, khen tôi là người đàn ông của gia đình. Có người còn nói thẳng với tôi: “Bạn như thế là quá tuyệt vời rồi, không phải ai cũng dám làm đâu”. Tôi biết họ nhìn thấy ở đó sự chia sẻ, sự trách nhiệm, một người đàn ông thương vợ yêu con.
Còn phái nam thì… thực tế hơn. Câu hỏi phổ biến nhất là: “Thế sau này có nối lại được không?” ,”Muốn có thêm con thì làm IVF có được không?”, Có đứa còn đùa: “Nhỡ sau này đổi ý thì sao?”. Tôi cũng đã được bác sĩ giải thích. Về lý thuyết, có thể nối lại ống dẫn tinh, nhưng không phải lúc nào cũng thành công và chi phí cũng không nhỏ. Nhưng tôi nghĩ, nếu mình đã quyết định thì phải chấp nhận và hiện tại tôi không hề có nhu cầu nối lại ống này nên cũng chưa thực sự quan tâm. Quyết định này, với tôi, không phải là sự hy sinh, mà là lựa chọn lý trí. Tôi nhìn vào thực tế cuộc sống của mình: áp lực tài chính, công việc, việc nuôi dạy con cái, sức khỏe của vợ. Hai đứa con là đủ để chúng tôi yêu thương, chăm sóc và cố gắng mang lại cho chúng một cuộc sống tốt nhất có thể.
Có những đêm tôi nằm suy nghĩ rất nhiều. Tôi nghĩ về chuyện sinh đẻ, về cách xã hội vẫn còn nặng nề tư tưởng “trọng nam khinh nữ”. Tôi thấy nhiều gia đình cố sinh thêm chỉ để có con trai, dù kinh tế không đủ, dù người phụ nữ phải chịu rủi ro sức khỏe. Cái suy nghĩ “phải có con trai nối dõi” dường như đã ăn sâu vào máu của nhiều người. Nhưng tôi tự hỏi: nối dõi là gì? Là cái họ, hay là cách mình sống, cách mình nuôi dạy con cái? Nhìn hai cô công chúa nhỏ của tôi, với tôi đó là tất cả. Tôi không thấy thiếu bất cứ điều gì chỉ vì mình không có con trai. Tôi cũng nghĩ rằng đã đến lúc đàn ông cần nhìn nhận lại vai trò của mình trong việc kế hoạch hóa gia đình. Không thể mãi để phụ nữ gánh hết: từ việc tránh thai, mang thai, sinh con, đến chịu những rủi ro sức khỏe. Nếu có những phương án an toàn, đơn giản hơn dành cho nam giới, tại sao không?
Cuộc sống của những người trẻ lập nghiệp ở Hà Nội như chúng tôi vốn đã đủ áp lực. Không có nhà, không có người thân bên cạnh, mọi thứ đều phải tự mình lo liệu. Trong hoàn cảnh đó, việc đưa ra những quyết định có trách nhiệm với bản thân, với vợ con là điều cần thiết. Tôi không biết quyết định của mình có đúng với tất cả mọi người hay không. Nhưng với tôi, ở thời điểm này, đó là lựa chọn hợp lý nhất. Và quan trọng hơn, đó là lựa chọn mà tôi và vợ cùng đồng thuận, cùng chịu trách nhiệm. Có lẽ, như thế là đủ. Cảm ơn mọi người đã đọc tới đây.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Lào Cai, gia đình nghèo. Tôi đang nỗ lực từng ngày để đỗ vào một trường đại học ngành báo chí ở Hà Nội, giấc mơ ấp ủ suốt ba năm qua. Nhân dịp sinh nhật 18 tuổi, tôi viết những dòng này, mong nhận được sự động viên để có thêm sức mạnh vượt qua thử thách. Tôi viết đi viết lại đoạn mở đầu ấy nhiều lần. Bởi mỗi chữ đều là một lát cắt của đời mình.
Hôm nay 14/4, tôi tròn 18 tuổi. Buổi sáng ở quê tôi vẫn như bao ngày: sương mù phủ kín những ngọn đồi, gió lùa qua mái tôn cũ kêu lạch cạch. Tôi dậy sớm nhóm bếp, nấu cơm cùng bà ngoại, không có bánh sinh nhật, không có quà, chỉ có bát cơm trắng và đĩa rau luộc hái từ vườn sau nhà. Tôi mồ côi mẹ từ năm ba tuổi. Mẹ mất vì bệnh hiểm nghèo. Người ta nói trẻ con không nhớ nhiều nhưng tôi nhớ cảm giác trống rỗng mỗi khi thấy bạn bè được mẹ đón về. Những buổi họp phụ huynh, tôi chỉ có ba. Có lần tôi hỏi: "Mẹ con đâu hả bà". Bà quay mặt đi, lau nước mắt rồi bảo mẹ đã lên trời. Từ đó, mỗi khi nhìn lên bầu trời đêm, tôi hay tự hỏi mẹ có nhìn thấy mình không.
Ông ngoại mất khi tôi mới một tuổi. Bà ngoại một mình chịu đựng nỗi đau mất chồng, rồi sau đó mất con gái. Ba tôi trở thành trụ cột duy nhất. Ông làm nông, quanh năm gắn với ruộng lúa và nương ngô, mùa nắng hạn thì mất mùa, mùa mưa lại lo sạt lở; thu nhập bấp bênh, có tháng chỉ đủ tiền gạo và tiền điện. Chỗ tôi ở là nhà cấp bốn cũ kỹ, mùa mưa nước dột từng giọt xuống nền đất. Tôi phải đặt chậu hứng nước để khỏi ướt sách vở. Không có bàn học, tôi ngồi trên chiếc ghế thấp, kê vở lên mặt giường để viết. Đêm mùa đông ở Lào Cai lạnh buốt, tay tôi nứt nẻ, rớm máu vì rét. Tôi vẫn học vì biết chỉ có học mới giúp tôi thoát khỏi cái nghèo. Ba luôn nói: "Con phải học cho giỏi, sau này đỡ khổ như ba".
Ông chọn cho tôi một trường tiểu học gần nhà để đỡ tốn tiền đi lại. Trường nhỏ, lớp học cũ, tường loang lổ, không có phòng máy tính, không có thư viện lớn, bữa trưa chỉ cơm trắng với chút thức ăn đơn giản. Thế nhưng tôi chưa từng than phiền vì biết ba đã phải đổ bao nhiêu mồ hôi mới có tiền mua cho tôi bộ đồng phục. Chiếc xe đạp tôi đi học là xe cũ, sơn đã bong tróc. Mỗi sáng, ba dắt xe ra cổng cho tôi. Có hôm trời mưa to, ba mặc áo mưa rách, đội nón lá đứng nhìn tôi đi cho đến khi khuất bóng. Hình ảnh ấy in sâu trong trí nhớ tôi. Lên cấp hai, tôi học trường xa hơn. Con đường đến trường nhiều dốc cao, mùa mưa bùn đất bám đầy bánh xe. Có lần tôi trượt ngã, vở rơi xuống bùn. Tôi nhặt lên, lau sơ rồi tiếp tục đi. Tôi sợ nghỉ học một buổi sẽ không theo kịp bài.
Tháng 9 năm 2024, cơn bão Yagi ập đến, trận lũ lụt lịch sử khiến cả vùng quê tôi chìm trong nước, ruộng vườn ngập trắng, nhà cửa đổ nát. Trong dòng nước cuồn cuộn ấy, ba tôi không trở về. Ngày nhận tin, tôi như sụp đổ, lao ra bờ sông, gào khóc gọi tên ba. Tôi không tin đó là sự thật. Người đàn ông luôn dậy sớm nấu cơm cho tôi trước khi ra đồng, người từng hứa sẽ dự lễ tốt nghiệp cấp ba của tôi đã rời đi mãi mãi. Đám tang ba diễn ra trong căn nhà lạnh lẽo. Bà ngoại ngồi lặng, đôi mắt đỏ hoe. Tôi ngồi bên quan tài, nắm chặt tay ba lần cuối. Bàn tay từng dắt tôi qua bao mùa mưa nắng giờ lạnh ngắt.
Từ đó, tôi sống cùng bà ngoại. Hai bà cháu nương tựa vào nhau. Bà đã già, lưng còng, sức khỏe yếu nhưng vẫn dậy từ tinh mơ nấu cơm, trồng rau, nuôi gà. Có hôm bà ho suốt đêm, tôi nằm nghe mà nước mắt lăn dài. Có những tháng, tiền trong nhà chỉ còn vài chục nghìn đồng, tôi phải tiết kiệm từng cuốn vở, từng cây bút, không dám xin thêm tiền mua sách tham khảo. Nhiều khi nhìn bạn bè có điện thoại mới, có quần áo đẹp, tôi cũng chạnh lòng. Rồi tôi tự nhủ mình còn được đi học đã là may mắn.
Đầu năm lớp 11, sau khi ba mất, tôi từng nghĩ đến việc nghỉ học để đi làm phụ bà. Bà nắm tay tôi nói: "Con mà bỏ học, ba con dưới suối vàng không yên lòng", câu nói ấy khiến tôi bật khóc. Tôi quyết định tiếp tục học. Tôi học như thể mỗi trang sách là một nhịp thở của ba. Tôi ấp ủ ước mơ thi vào đại học ngành báo chí ở Hà Nội. Tôi muốn kể câu chuyện của những người như gia đình tôi, những người âm thầm chịu đựng mất mát sau thiên tai.
Sinh nhật 18 tuổi của tôi không có nến. Buổi tối, bà chỉ xoa đầu tôi và nói: "Cháu lớn rồi", tôi quay mặt đi để bà không thấy mình khóc. Tôi nhớ ba, ước giá như ba còn sống, có lẽ ông sẽ mua cho tôi một chiếc bánh nhỏ và nói: "Con gái ba trưởng thành rồi". Tôi cũng hiểu, dù không còn ba mẹ bên cạnh, mình vẫn phải sống tiếp. Tôi không muốn nghịch cảnh là cái cớ để mình gục ngã. Tôi muốn nó trở thành động lực. Nếu một ngày tôi đỗ đại học, sẽ mang theo câu chuyện của mình đến Hà Nội. Tôi sẽ học thật tốt, làm thêm để tự nuôi bản thân.
Tôi sẽ viết về lũ lụt, mất mát, nghị lực của những con người nhỏ bé. Tuổi 18 của tôi bắt đầu bằng nước mắt nhưng không kết thúc bằng tuyệt vọng. Tôi tin rằng, dù cuộc đời đã lấy đi của mình rất nhiều, nó vẫn để lại cho tôi một điều quý giá: cơ hội được mơ ước. Tôi không để giấc mơ ấy tắt đi.
Tôi về làm dâu được hơn một năm, chưa sinh con, hiện sống cùng bố mẹ chồng ở ngoại thành Hà Nội. Hai vợ chồng đều đi làm văn phòng cách nhà khoảng 13-15 km, thu nhập không quá cao nhưng ổn định. Dù ở chung, tháng nào chúng tôi cũng đưa tiền sinh hoạt, đóng tiền điện, tiền mạng đầy đủ, coi như cùng san sẻ chi phí trong nhà để bố mẹ đỡ vất vả.
Mấy hôm nay trời nóng, tối qua phòng khá oi nên tôi bật điều hòa để ngủ. Bình thường tôi cũng chỉ bật khoảng một lúc cho mát rồi hẹn giờ tắt, không dùng suốt đêm. Hôm qua đi làm về mệt, tôi bật máy lạnh rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Khoảng một tiếng sau tỉnh dậy, thấy người ướt lưng, phòng nóng hầm hập, máy lạnh đã bị tắt.
Sáng hôm sau tôi mới biết mẹ chồng tối qua lén vào phòng tắt điều hòa vì sợ tốn điện. Bà nói trời chưa nóng lắm, bật quạt là được, dùng máy lạnh nhiều vừa hao điện vừa không tốt cho sức khỏe. Tôi chỉ im lặng. Cảm giác đang ngủ, có người vào phòng tắt điều hòa khiến tôi khá khó xử. Phòng là không gian riêng của hai vợ chồng, việc vào phòng lúc đêm khuya rồi tự ý tắt máy lạnh làm tôi thấy không thoải mái.
Tối đó tôi kể lại cho chồng nghe, mong anh nói với mẹ một câu cho rõ ràng để lần sau không xảy ra chuyện tương tự. Nhưng chồng tôi chỉ im lặng, nói mẹ quen tính tiết kiệm nên vậy, thôi mình chịu khó một chút cho yên cửa yên nhà. Nói thêm là chúng tôi chưa có kế hoạch ra riêng dù rất muốn. Với mức lương hiện tại, lại không được sự hỗ trợ từ hai bên gia đình, quá khó để chúng tôi có thể mua nhà với giá trên trời như bây giờ, kể cả ngoại thành nơi chúng tôi đang sống.
Dù sống chung, vợ chồng tôi vẫn đóng góp tiền sinh hoạt và tiền điện nước đầy đủ, không phải sử dụng miễn phí. Tôi cũng không bật máy lạnh cả đêm hay dùng quá mức, chỉ đủ để ngủ ngon sau một ngày đi làm mệt. Nhưng chuyện nhỏ như vậy cũng phải để ý từng chút khiến tôi nhiều lúc thấy rất ái ngại, nhất là khi mùa hè sắp đến.
Vào những năm 50, 60 của thế kỷ XX, việc ông bà nội hoặc ngoại có một mảnh vườn cách trung tâm đô thị khoảng vài km là điều không quá khó. Các cụ vừa làm nông nghiệp, vừa chạy chợ để mưu sinh. Dù khó nghèo nhưng 5-6 đứa con lần lượt ra đời rồi lớn lên theo thời gian. Khi các cậu, các dì lập gia đình, ông ngoại tôi cho mỗi người một mảnh đất khoảng 200 m2 trong khuôn viên khu vườn rộng khoảng 1.500 m2 để làm nhà ở. Thời đất nước còn chiến tranh thì làm nhà tranh vách đất, sau năm 1975 cuộc sống ổn định dần rồi khá lên thì được thay thế bằng nhà xây gạch kiên cố.
Theo suy nghĩ lúc ấy, ông tôi chừa một cái sân to ở giữa làm nơi sinh hoạt chung. Nhà của các cậu, dì đều quay mặt vào hướng sân to đó, mỗi nhà đều có cái sân riêng, lưng nhà đều quay ra đường, tất cả ra vào chung một cái cổng. Theo ông bà, ở như vậy để cả gia đình luôn đoàn tụ, sum vầy; anh em, con cháu có điều kiện đỡ đần nhau lúc khó khăn, nhất là vào những năm khi đất nước vừa thống nhất, những năm 80, 90 của thế kỷ XX kinh tế còn rất khó khăn. Nhiều người góp ý nên cho các con ra ở riêng hoặc ở trong cùng một khu vườn nhưng mỗi nhà làm trên một lô đất, có cổng đi riêng hướng ra phía đường nhưng ông tôi không nghe. Cả gia đình ở quây quần trong khu vườn như vậy để ông yên tâm.
Lúc ông bà còn sống, nhìn chung vẫn giữ được ổn định vì có ông bà ở giữa làm trung gian hòa giải các xích mích nảy sinh từ tiếng ồn, con gà, con chó... sang nhà nhau. Hơn nữa khi ông bà còn sống thì còn tiếng nói, không ai dám qua mặt. Mọi việc chỉ phát sinh thành vấn đề lớn hơn khi ông bà tôi không còn nữa. Những việc từ trước kia tưởng đã được giải quyết xong nhưng thực ra vẫn âm ỉ cháy, cộng với những việc phát sinh hiện tại nên bùng lên thành ngọn lửa lớn. Từ việc góp ý cho nhau đến mặt nặng mày nhẹ, rồi nhắc lại chuyện cũ, to tiếng, thậm chí chửi bới nhau, khích bác, gây gổ, có lúc còn xúc phạm nhau. Việc ra vào chung một cái cổng, người thích khóa cho an toàn, người muốn mở thường xuyên để tiện ra và; rồi đời sống khấm khá hơn con cháu có xe máy, ôtô thỉnh thoảng về đỗ xe cũng gây cự cãi, to tiếng...
Vậy là từ ý tưởng để cho gia đình đoàn kết, con cháu tối lửa tắt đèn có nhau thành ra ngày càng xa nhau hơn. Có người góp ý nên đập hết nhà, quy hoạch lại, chia ra mỗi người một lô đất làm nhà quay ra đường, có cổng ngõ lối đi riêng để gia đình êm ấm hơn. Nhưng đâu phải dễ vì hiện tại ở đó chỉ những người là bố mẹ, cậu, dì, tuổi đời cũng đã U70, U80 không có điều kiện kinh tế. Hơn nữa trước đó nhà nước đã cấp giấy quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho mỗi nhà theo hiện trạng, bây giờ muốn quy hoạch, tách thửa lại cũng phải liên quan nhiều thủ tục pháp lý. Con cháu đều đã có nơi ở riêng nên không thể đầu tư hay can thiệp vào việc của các cụ được.
Thế là đành để nguyên trạng, anh em họ hàng gần với nhau mà phần ai nấy sống, cũng chẳng buồn chào hay hỏi thăm lúc gặp nhau. Gia đình có sự kiện giỗ chạp buộc phải ngồi chung mâm nhưng ánh nhìn mỗi người một hướng. Đa số con cháu đi ra làm ăn có hiểu biết hơn nhưng cũng không tránh khỏi sứt mẻ tình cảm do "tình trạng chiến tranh" của các cụ. Con cháu dù có hiểu biết nhưng đôi lúc bức xúc quá cũng có nặng lời với bề trên nên tình cảm càng phai nhạt, thậm chí ngại gặp mặt, không tham gia các sự kiện của họ hàng. Tôi cũng thuộc hàng con cháu trong đại gia đình, chỉ biết góp ý, giải hòa khi mọi người có va chạm.
Xin mượn trang viết để tâm sự cho nhẹ lòng chứ tôi không đủ sức để giải quyết những việc do lịch sử để lại. Hi vọng cũng góp được chút kinh nghiệm trong việc tổ chức gia đình cho con cháu nếu có khả năng. Cảm ơn quý độc giả đã đọc tâm sự của tôi.