Tôi năm nay 34 tuổi, có hai cậu con trai. Bé đầu 7 tuổi và thứ hai 3 tuổi. Chồng đi làm ăn xa nên mình tôi nuôi dạy con. Cậu con trai đầu của tôi tuy mới lên 7 nhưng tính tình khá bướng với lì lợm.
Tôi nói gì con cũng cãi, ông bà nói con cũng cãi cho bằng được. Con không bao giờ biết mình sai, thường xuyên đổ lỗi cho người khác. Lỗi của con, con lúc nào cũng tìm lý do để giải thích cho mình.
Tôi đã áp dụng nhiều biện pháp, từ mềm mỏng, tâm sự đến quát mắng, đánh đòn nhưng sau mọi thứ đâu lại vào đấy. Cách đây mấy hôm, soạn sách cho con, tôi thấy dòng chữ: Mẹ rất độc ác, tim tôi như hững lại một nhịp mà cứ thế tôi òa khóc.
Khóc như một đứa trẻ trước mặt con. Lúc này con xin lỗi tôi, con bảo là do mẹ hay nạt con với đánh con nên con mới viết thế. Vậy hóa ra bao lần tôi phạt, con không nghĩ rằng do mình sai mà trong suy nghĩ của con là do tôi độc ác.
Tôi cảm thấy bất lực thực sự, con mới 7 tuổi đã như thế thì mấy năm nữa con bước vào tuổi dậy thì tôi làm sao dạy dỗ được con nên người. Phải chăng vì sống xa chồng, nhà không có đàn ông nên con trai tôi mới lì lợm và bướng bỉnh như thế.
Do tôi nghĩ quá vấn đề lên, hay do con tôi thực sự là một đứa trẻ hư. Tôi cần các bậc làm cha, làm mẹ trên diễn đàn cho tôi một lời khuyên. Thực sự mà nói, làm mẹ của hai cậu con trai thời buổi bây giờ tôi có quá nhiều nỗi lo.
An Yên

Công ty cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam VPF - đơn vị quản lý các giải đấu chuyên nghiệp Việt Nam vừa có đề xuất gửi các CLB về phương án điều chỉnh tăng số lượng cầu thủ nước ngoài kể từ mùa giải mới. Điều này nhằm thực hiện chủ trương của LĐBĐ Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng chuyên môn và tăng cường tính cạnh tranh cho các giải đấu chuyên nghiệp quốc gia.
Tuy nhiên, đề xuất này đã vấp phải không ít hoài nghi về tính khả thi. Độc giả Vuthanhhai thắc mắc: "Tăng suất ngoại binh có làm thui chột hết tài năng trẻ trong nước? Hãy nhìn sang Thái Lan và Malaysia cũng vì giải quốc nội của họ cho phép đăng ký 8-9 ngoại binh, nên cầu thủ nội, nhất là lứa trẻ từ 18-25 tuổi không thể cạnh tranh cho suất đá chính".
>> 'Xuất ngoại trung vệ ngay nếu Việt Nam muốn dự World Cup'
"Vì không được trui rèn thường xuyên ở những trận quan trọng nên các cầu thủ trẻ không có động lực rèn luyện, phấn đấu. Cầu thủ trẻ mà không được ra sân, không được va vấp, mà chỉ ngồi ghế dự bị nhìn Tây đá thì làm sao có thể phát triển được?", bạn đọc Vuthanhhai nói thêm.
Cùng chung lo lắng, độc giả Tu.trinh đặt dấu hỏi: "Nếu tăng suất ngoại binh mà không có kế hoạch cải tạo thể chất, thể hình cho mầm non bóng đá Việt, thì họ sẽ không bao giờ cạnh tranh lại được với các cầu thủ ngoại. Căn bản thể trạng của cầu thủ Việt không được cải thiện thì lấy gì cạnh tranh khi số lượng ngoại binh tăng lên?".
Theo nội dung dự kiến điều chỉnh, VPF đưa ra hai thay đổi lớn về suất cầu thủ ngoại cho các nhóm CLB kể từ mùa 2026-2027. Đối với CLB dự V-League, số lượng được đăng ký sẽ tăng lên tối đa 5 cầu thủ (hiện tại là 4). Còn CLB dự các giải đấu cấp CLB của LĐBĐ châu Á (AFC) và LĐBĐ Đông Nam Á (AFF), được đăng ký tối đa lên tới 8, thay vì giới hạn 7 người như hiện nay.
Quy định về việc đăng ký và sử dụng cầu thủ trên sân trong từng trận đấu cũng thay đổi đáng kể. Theo đó, các CLB được phép đăng ký tối đa 5 cầu thủ ngoại và được sử dụng tối đa 4 người trên sân tại cùng một thời điểm. Tức là, mỗi hạng mục đều tăng thêm một so với quy định hiện nay.
Việt Thành tổng hợp
Tin Gốc: https://vnexpress.net/v-league-tang-suat-ngoai-binh-len-5-co-lam-thui-chot-cau-thu-viet-5060759.html

Thứ hai đầu tuần vừa rồi, tôi ghé vào một quán phở quen trong khu phố. Quán nhỏ, sạch sẽ, khách ra vào đều đặn. Mọi chuyện vẫn bình thường cho đến khi một vị khách yêu cầu chủ quán cho thêm túi nilon để đựng bát phở mang về cho đỡ đổ. Chủ quán nhẹ nhàng giải thích rằng quán đang hạn chế sử dụng túi nilon, thay vào đó dùng hộp giấy và khuyến khích khách mang theo túi cá nhân.
Tưởng như chỉ là một lời từ chối đơn giản, nhưng câu chuyện lại kéo dài thành một cuộc cãi vã suốt gần 30 phút. Vị khách lớn tiếng cho rằng mình là người trả tiền, có quyền yêu cầu thêm túi đựng. Còn chủ quán cố gắng giải thích về việc giảm rác thải nhựa, mong muốn góp phần bảo vệ môi trường. Không ai chịu nhường ai.
Những thực khách xung quanh, trong đó có tôi, chỉ biết im lặng quan sát. Khi bước ra khỏi quán, trong tôi là một nỗi trăn trở: từ bao giờ túi nilon lại trở thành "vật bất ly thân" đến mức người ta sẵn sàng tranh cãi gay gắt chỉ vì không được phát thêm một chiếc túi?
Câu chuyện ấy không phải là cá biệt. Trong đời sống hằng ngày, túi nilon hiện diện ở khắp nơi: chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, quán ăn vỉa hè. Mua mớ rau có túi nilon, mua cốc nước cũng có túi nilon, mua vài chiếc bánh cũng được bọc trong hai, ba lớp túi. Thậm chí, nhiều người có thói quen xin thêm túi "cho chắc", "cho khỏi đổ", "cho sạch sẽ". Dần dần, túi nilon trở thành một phần quen thuộc đến mức ít ai đặt câu hỏi: chúng ta thực sự cần bao nhiêu túi cho một ngày?
Sự tiện lợi của túi nilon là điều không thể phủ nhận. Nhẹ, rẻ, chống nước, dễ sử dụng - đó là những ưu điểm khiến nó được ưa chuộng. Với người bán hàng, túi nilon giúp đóng gói nhanh chóng, tiết kiệm chi phí. Với người mua, nó tạo cảm giác gọn gàng, sạch sẽ. Nhưng chính vì quá tiện lợi và quá rẻ, túi nilon bị lạm dụng một cách vô tội vạ.
>> Tôi phát bực vì mua một phần đồ ăn nhưng nhận về 10 túi nilon
Chúng ta dùng trong vài phút, vài giờ, rồi thản nhiên vứt bỏ. Trong khi đó, thời gian phân hủy của một chiếc túi nilon có thể kéo dài hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Điều đáng nói là nhiều người vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của rác thải nhựa. Những chiếc túi mỏng manh tưởng chừng vô hại ấy khi bị thải ra môi trường sẽ gây tắc nghẽn cống rãnh, ô nhiễm nguồn nước, làm đất mất khả năng thấm nước và không khí. Những mảnh nhựa vỡ ra thành vi nhựa, len lỏi vào chuỗi thực phẩm, cuối cùng quay trở lại bàn ăn của con người.
Thế nhưng, nghịch lý là dù biết tác hại, chúng ta vẫn khó từ bỏ. Bởi túi nilon đã trở thành một thói quen. Và thói quen, khi kéo dài đủ lâu, sẽ biến thành nhu cầu tưởng như thiết yếu. Vị khách cãi nhau trong quán phở có lẽ không nghĩ mình đang góp phần gây ô nhiễm môi trường. Ông chỉ nghĩ đơn giản: "Tôi cần một cái túi để xách cho tiện".
Tôi từng chứng kiến ở nhiều siêu thị, dù đã có biển khuyến khích mang túi cá nhân, nhưng không ít người vẫn vui vẻ nhận thêm túi nhựa miễn phí. Có người thậm chí còn lấy dư vài chiếc "để dùng dần". Trong khi đó, những chiếc túi vải, túi giấy, hộp đựng cá nhân - những giải pháp thay thế bền vững hơn - lại bị xem là phiền phức, tốn công mang theo.
Chúng ta thường nói về phát triển bền vững, về bảo vệ môi trường, về biến đổi khí hậu. Nhưng nếu ngay cả việc từ chối một chiếc túi nilon dư thừa cũng khó thực hiện, thì những mục tiêu lớn lao kia liệu có trở nên xa vời? Bảo vệ môi trường không chỉ là câu chuyện của chính phủ hay các tổ chức quốc tế. Nó bắt đầu từ những hành động rất nhỏ trong đời sống hằng ngày.
Ở một số quốc gia, túi nilon bị đánh thuế cao hoặc cấm sử dụng hoàn toàn tại các cửa hàng. Người dân buộc phải thay đổi thói quen, mang theo túi cá nhân khi đi mua sắm. Ban đầu có thể bất tiện, nhưng dần dần trở thành nếp sống mới. Còn ở Việt Nam, dù đã có nhiều chiến dịch kêu gọi hạn chế rác thải nhựa, việc thực thi vẫn còn nhiều hạn chế. Túi nilon vẫn được phát miễn phí tràn lan. Khi một món đồ không phải trả tiền, người ta dễ dàng sử dụng mà không cân nhắc.
Sự thay đổi nào cũng đi kèm xung đột. Nhưng nếu vì sợ xung đột mà chúng ta tiếp tục chiều theo thói quen cũ, môi trường sẽ là bên chịu thiệt thòi nhất. Trong khi đó, bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung, không ai có thể đứng ngoài. Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại cách mình tiêu dùng. Một chiếc túi nilon không làm thay đổi thế giới, nhưng hàng triệu chiếc mỗi ngày thì có.
Nhật AnhBa lớp túi nilon đựng một chùm hoa quả
'Từ chối mua đồ siêu thị vì combo khay nhựa - màng bọc nilon'
Tôi đi siêu thị ở Đức không được cho túi nilon
Tôi sốc vì cả trăm túi nilon, đồ nhựa gia đình mình thải ra một tháng
Tôi từ chối mua khi cửa hàng tiện lợi quay nóng đồ ăn còn nguyên túi nilon
Tôi bị cười nhạo vì cái túi nilon đứt quai dùng một năm trời

Tôi là một giáo viên Hóa học. Đứng trên giảng đường đại học, tôi không khỏi chạnh lòng khi chứng kiến những sinh viên từng nổi bật về Hóa ở cấp ba (kể cả với một số em đi thi Học sinh giỏi Hóa) bỗng dưng xa lạ với chính môn học mà các em từng yêu thích một thời. Thật khó tin khi các nguyên lý cơ bản của Hóa cơ sở và Hóa nhiệt động - nền tảng kiến thức vững chắc - lại có thể "bốc hơi" một cách nhanh chóng như chưa từng tồn tại.
Ở Việt Nam, có một bộ môn vừa đặc biệt, vừa "khó nhằn", vừa "độc nhất vô nhị" mà nhiều nước hiếm thấy, các thế hệ học sinh thường gọi vui là "Toán Văn Hóa học". Đây là bộ môn mà học sinh không chỉ học Hóa, mà còn phải "đánh vật" giải những bài tập tính toán "khủng", thậm chí là "siêu khủng" như: biến đổi liên quan đến hệ phương trình bậc 4, bậc 5, hệ nhiều ẩn, có những bài chiếm tới 1/3 trang giấy A4. Các bài tập này dài, phức tạp và yêu cầu logic cao đến mức học sinh dễ bị cuốn vào việc tính toán mà quên đi kiến thức cơ bản.
Điều bất ngờ là, ngay cả những học sinh từng nổi bật về Hóa học ở phổ thông, khi bước lên giảng đường đại học, lại bỡ ngỡ với những nguyên lý tưởng chừng đơn giản của Hóa học cơ sở và Hóa học nhiệt động. Nhiều em có thể giải các bài toán dài, nhưng lại quên đi những nguyên tắc nền tảng mà môn học dựa trên đó. Thực trạng này đặt ra một câu hỏi lớn: liệu áp lực về tính toán có đang vô tình làm phai nhạt nền tảng kiến thức cơ bản của học sinh?
Hệ lụy của việc "Toán hóa" quá mức môn Hóa học không còn là điều dự báo mà đã trở thành hiện thực. Trong vai trò giảng dạy Hóa học cơ sở ở bậc đại học, tôi không khỏi bàng hoàng khi nhận thấy sinh viên thường sai nhiều nhất ở những kiến thức tưởng chừng hết sức cơ bản: vẽ công thức cấu tạo, dự đoán hình học phân tử hay ước lượng góc liên kết. Thậm chí, nhiều em còn sai "hết sức vô lý" như vẽ oxygen hóa trị I, carbon hóa trị V, silicon hóa trị III, hay những lỗi vi phạm quy tắc bát tử (mặc dù không thuộc trường hợp ngoại lệ)...
Ngay cả trong học phần Hóa nhiệt động, nơi tính toán chiếm ưu thế, sinh viên có thể dùng máy tính để ra đáp số pH trong vài giây, nhưng khi được tôi yêu cầu chứng minh công thức đơn giản như: pH = 1/2 (pKₐ – logCₐ) (công thức tính pH của acid yếu), thì các em lại hoàn toàn bế tắc. Khi "chiếc gậy" là các dạng toán làm sẵn bị tước bỏ, tư duy Hóa học của các em lộ rõ những lỗ hổng thênh thang.
>> 'Đáng lo khi học sinh né Lý, Hóa, Sinh thi tốt nghiệp THPT'
Một ví dụ điển hình của một bài tập dạng "Toán Văn Hóa học" là: "Hỗn hợp P gồm ba ester mạch hở trong đó có hai ester đơn chức X, Y (MX < MY < 110, nX > nY) và một ester đa chức Z. Cho 5,07 gam P vào 32,00 gam dung dịch NaOH 10% rồi cô cạn dung dịch sau khi các phản ứng kết thúc thấy thu được 5,96 gam phần rắn Q và phần hơi T (gồm hơi nước và hỗn hợp hai alcohol no có cùng số nguyên tử carbon trong phân tử). Thêm bột CaO và NaOH dư vào Q rồi nung hỗn hợp trong bình chân không thấy thu được hỗn hợp hai hydrocarbon, hỗn hợp này làm mất màu vừa đủ 0,02 mol Br₂ trong dung dịch. Đốt cháy hết phần hơi T thu được 2,016 lít khí CO₂ và 31,23 gam H₂O. Các phản ứng xảy ra hoàn toàn, các thể tích khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn. Tính phần trăm khối lượng của Z trong P?".
Để giải được bài tập trên, học sinh phải:
- Theo dõi nhiều dữ kiện phức tạp và tính toán nối tiếp;
- Áp dụng phản ứng xà phòng hóa, phản ứng với Br₂, định luật bảo toàn khối lượng;
- Tính toán số mol, khối lượng, liên hệ các phản ứng để tìm thành phần Z.
Mặc dù bài toán dài và nhiều bước, bản chất hóa học của các phản ứng này không phức tạp. Tuy nhiên, chính số liệu rườm rà và bước tính toán nối tiếp khiến học sinh dễ quên đi các kiến thức nền tảng: cơ chế phản ứng, bản chất phân cực của liên kết C=O trong ester, ảnh hưởng của cấu trúc phân tử đến nhiệt độ sôi của alcohol.
Mặt khác, nếu giáo viên yêu cầu các em: biểu diễn sự phân cực của liên kết C=O trong nhóm chức ester; hoặc hỏi "tại sao hai alcohol no cùng số nguyên tử carbon lại có nhiệt độ sôi khác nhau?", thì nhiều em sẽ lúng túng, dù vẫn giải được bài toán tính phần trăm khối lượng Z một cách cơ học. Đây là minh chứng rõ ràng rằng việc tập trung quá nhiều vào kỹ năng tính toán dài dòng khiến tư duy hóa học cơ bản bị bỏ quên, dẫn đến nghịch lý: học sinh có thể giải được bài toán trong phút chốc, nhưng lại không hiểu bản chất của chính các chất mình đang thao tác.
Sở dĩ phương pháp dạy và học này trở nên "độc hại" là bởi nó vi phạm nghiêm trọng thuyết Tải nhận thức (thuyết "tam tải", Cognitive Load Theory):
Thứ nhất, tải nội tại (phát sinh từ bản chất phức tạp của môn học) bị đẩy quá cao: độ khó của Hóa học lẽ ra nằm ở cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, nhưng nay lại bị đánh tráo bằng sự lắt léo của toán học (phương trình bậc cao, hệ nhiều ẩn). Não bộ bị buộc phải ưu tiên xử lý thuật toán thay vì thấu hiểu quy luật vật chất.
Thứ hai, tải ngoại lai (đến từ cách trình bày hoặc phương pháp dạy học) quá tải: những đề bài dài "như một bài văn" và ma trận số liệu vụn vặt chính là "rác nhận thức". Chúng chiếm dụng hết bộ nhớ ngắn hạn, khiến học sinh kiệt sức vì những phép tính số học thuần túy trước khi kịp chạm đến tư duy Hóa học.
Thứ ba, tải liên quan (phát sinh khi học sinh kết nối kiến thức mới với kiến thức cũ) bị triệt tiêu: đây là phần quan trọng nhất để hình thành kiến thức bền vững. Khi hai loại tải trên quá lớn, não bộ không còn không gian để kết nối và ghi nhớ bản chất.
Hệ quả là chúng ta đang đào tạo nên những "thợ giải toán" có phản xạ cực tốt với các con số, nhưng lại rỗng tuếch về tư duy Hóa học. Đó có lẽ là lý do mà sinh viên của tôi có thể giải hệ phương trình 4 hay 5 ẩn rất nhanh, nhưng lại "đứng hình" khi yêu cầu vẽ một công thức cấu tạo hay chứng minh một công thức pH căn bản - những kiến thức lẽ ra phải nằm trong bộ nhớ dài hạn.
Thực tế, học sinh sợ Hóa không phải vì ghét môn học này, mà vì các em bị kiệt sức trước những ma trận số liệu đa chiều. Khi Hóa học vượt ra khỏi không gian ba chiều quen thuộc, nó không còn là câu chuyện về sự kỳ diệu của vật chất, mà trở thành một cuộc chạy đua giải toán khô khan, nơi ống nghiệm và bản chất Hóa học chỉ còn là những cái tên xa lạ.
Hóa học là khoa học về cấu tạo chất và các quá trình biến đổi, từ phản ứng cơ bản trong phòng thí nghiệm đến những ứng dụng thực tiễn sâu rộng trong đời sống. Khi môn học bị "Toán hóa" quá mức, học sinh dễ bị cuốn vào các bài toán dài, phức tạp, và quên đi bản chất thực sự của hóa học: hiểu cấu tạo phân tử, dự đoán tính chất, và giải thích các hiện tượng hóa học.
Trong thực tiễn, những kiến thức cơ bản này vô cùng quan trọng: hiểu tính chất acid - base giúp kiểm soát pH trong xử lý nước; nắm cấu tạo và phản ứng hữu cơ là nền tảng để sản xuất thuốc, polymer, hoặc vật liệu mới; dự đoán tương tác hóa học giúp thiết kế thực phẩm, mỹ phẩm hay chất tẩy rửa an toàn. Khi học sinh chỉ biết "giải bài toán" mà không hiểu cơ chế, các em sẽ khó áp dụng hóa học vào các tình huống thực tế, từ phòng thí nghiệm đến đời sống hằng ngày.
Để khắc phục, chúng ta cần tái cân bằng cách dạy Hóa học đúng bản chất: giảm tải các bài toán rườm rà, nhấn mạnh cơ chế, nguyên lý và tư duy phân tích, kết hợp lý thuyết với thực hành và ứng dụng thực tiễn. Khi học sinh nắm vững nền tảng, các em không chỉ giải được bài toán, mà còn có khả năng vận dụng hóa học một cách sáng tạo, từ việc kiểm soát pH, thiết kế phản ứng hóa học, đến phát triển vật liệu và dược phẩm. Như vậy, Hóa học không còn là những con số trên giấy, mà là công cụ để hiểu và tác động lên thế giới xung quanh, đúng với bản chất khoa học của nó.
Nhiều ý kiến cho rằng, nếu không có những bài tập nặng tính toán, chúng ta sẽ không thể phân loại được học sinh khá, giỏi. Tôi không đồng tình. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đang nhầm lẫn giữa năng lực giải Toán và tư duy Hóa học, và từ đó chọn cách dễ nhất: dùng độ phức tạp của Toán học để làm thước đo cho môn Hóa.
Thực chất, một học sinh giỏi Hóa không phải là người giải nhanh những hệ phương trình nhiều ẩn, mà là người hiểu sâu bản chất và có khả năng suy luận từ nguyên lý. Việc phân loại hoàn toàn có thể thực hiện bằng những tiêu chí đúng bản chất hơn: tư duy biện luận dựa trên cơ chế; khả năng thiết lập mô hình và chứng minh; năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn.
Một thang đo sai sẽ cho kết quả sai. Nếu tiếp tục dùng độ rối của phép tính để đánh giá năng lực, chúng ta sẽ chỉ tạo ra những "thợ giải" thành thạo con số nhưng thiếu hụt tư duy khoa học. Điều cần hướng tới là những học sinh có khả năng hiểu sâu và suy luận trong thế giới vật chất ba chiều - nơi Hóa học thực sự tồn tại, chứ không phải những người chỉ giỏi thao tác trong "không gian đa chiều" của các phương trình.
Nguyễn Vũ Hoàng
Tin Gốc: https://vnexpress.net/hoc-sinh-viet-danh-vat-mon-hoa-vi-tinh-toan-qua-nhieu-5061151.html

