Mục Lục
ToggleDương Tâm
Tin Gốc: https://vnexpress.net/tinh-nao-co-muc-song-re-nhat-ca-nuoc-5060181.html
Xã đầu tiên miễn phí sách giáo khoa cho học sinh: Dự kiến mỗi cuốn dùng 7-10 năm

Ngày 10-4, UBND xã Hòa Vang (TP Đà Nẵng) công bố kết quả thực hiện chính sách cung cấp sách giáo khoa miễn phí cho toàn bộ học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Đây là địa phương đầu tiên trong cả nước triển khai chính sách này.
Ông Lê Phú Nguyện, Chủ tịch UBND xã Hòa Vang, cho biết ngay từ thời điểm thành lập theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp (1-7-2025), Hòa Vang đã xác định là địa bàn còn nhiều khó khăn, đời sống người dân chưa cao. Từ thực tế đó, xã chủ động xây dựng mô hình "tủ sách giáo khoa dùng chung", huy động nguồn lực xã hội hóa để cung cấp sách giáo khoa (SGK) miễn phí, giảm gánh nặng chi phí cho phụ huynh và chống lãng phí.
Giai đoạn đầu Hòa Vang huy động 551 triệu đồng, mua hơn 6.000 quyển SGK cho hơn 1.200 học sinh tại tám thôn vùng đồi núi xã Hòa Phú (cũ). Đối tượng được ưu tiên là học sinh diện chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số; đáp ứng khoảng 31% nhu cầu năm học 2025-2026.
Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị được ban hành, đặt mục tiêu cung cấp SGK miễn phí từ năm học 2029-2030. Cùng với đó quyết định 3588 của Bộ GD-ĐT quy định bộ SGK thống nhất toàn quốc - cũng chính là bộ "Kết nối tri thức" mà Hòa Vang đang triển khai - đã tạo cơ sở pháp lý để địa phương mở rộng mô hình.
Xã tiếp tục huy động thêm gần 1,5 tỉ đồng, mua 74.676 quyển SGK. Đến nay tổng số sách tại thư viện các trường đạt 91.060 quyển, đủ để miễn phí cho gần 7.000 học sinh từ tiểu học đến THCS, THPT tại sáu cơ sở giáo dục, bao gồm cả các đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT như Trường THPT Ông Ích Khiêm và Trung tâm Giáo dục thường xuyên số 3 - cơ sở 2. Với nguồn lực này, Hòa Vang dự kiến đáp ứng 100% nhu cầu SGK từ năm học 2026-2027.
Theo ông Nguyện, điểm cốt lõi trong cách làm là bảo đảm tính bao quát và thống nhất. Tất cả học sinh đang học tại các cơ sở giáo dục tại xã đều được mượn sách, không phân biệt thuộc quản lý của địa phương hay của ngành giáo dục.
Bài toán lớn nhất của mô hình không nằm ở khâu triển khai ban đầu mà ở khả năng duy trì lâu dài. Theo lãnh đạo xã Hòa Vang, nếu được quản lý và sử dụng tốt, mỗi cuốn SGK có thể sử dụng trong khoảng 7-10 năm. Như vậy mỗi năm chỉ cần chi một khoản kinh phí nhỏ, không đến 10%, để thay thế số sách hư hỏng, hao hụt.
"Đây là mức chi rất tiết kiệm. Nếu Nhà nước và địa phương không làm thì chi phí đó sẽ do từng gia đình gánh hằng năm, cộng lại là nguồn lực rất lớn của xã hội. Khi chính quyền đứng ra tổ chức không chỉ giúp người dân mà còn góp phần chống lãng phí", ông Nguyện nói.
Để có được nguồn sách ban đầu xã đã huy động sự chung tay của cộng đồng doanh nghiệp. Dù trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, nhưng vẫn sẵn sàng đồng hành khi nhận thấy ý nghĩa thiết thực và nhân văn của chính sách. Chỉ trong vài tháng địa phương đã huy động đủ nguồn lực để triển khai cho năm học.
Ông Nguyện thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn ban đầu khi triển khai, thời điểm đầu chưa có cơ sở pháp lý cụ thể trong khi điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương còn hạn chế nên việc vận động rất khó khăn, nguồn lực không dồi dào. Tuy nhiên, khi nghị quyết 71 được ban hành, địa phương có thêm cơ sở để đẩy nhanh tiến độ.
"Chúng tôi xác định đây là việc nên làm, có thể làm và cần làm sớm. Làm càng sớm thì người dân càng giảm chi phí, xã hội càng tiết kiệm nguồn lực", ông Nguyện nói.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, đánh giá mô hình tại Hòa Vang là bước cụ thể hóa tinh thần nghị quyết 71, không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà còn ở khía cạnh an sinh xã hội.
Trong bối cảnh Đà Nẵng mở rộng địa bàn sau sáp nhập, bao gồm nhiều khu vực còn khó khăn về hạ tầng và kinh tế, mô hình này giúp giảm gánh nặng cho các gia đình, tạo điều kiện để học sinh yên tâm học tập.
"Trong thời gian ngắn xã đã triển khai hiệu quả. TP giao ngành giáo dục nghiên cứu, lấy đây làm mô hình điểm để nhân rộng toàn TP trong thời gian tới", ông Anh Tuấn nói.
Đồng thời ông cũng lưu ý để mô hình phát huy hiệu quả lâu dài cần phân công rõ trách nhiệm quản lý, mượn - trả - thu hồi sách; xây dựng quy chuẩn sử dụng; tăng cường tuyên truyền để phụ huynh, học sinh nhận thức đúng; đồng thời duy trì và mở rộng các nguồn lực hỗ trợ, thường xuyên theo dõi, đánh giá để điều chỉnh kịp thời.
Bộ GD-ĐT đề xuất trực tiếp bổ nhiệm phó giám đốc đại học quốc gia

Hôm nay 4.6, Bộ GD-ĐT đã đăng tải để lấy ý kiến góp ý dự thảo nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của đại học quốc gia. Dự thảo nghị định nếu được thông qua sẽ chính thức thay thế Nghị định số 201/2025/NĐ-CP ngày 11.7.2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của đại học quốc gia.
Về cơ bản, dự thảo nghị định có nội dung tương đồng với Nghị định số 201, chỉ có 2 nét khác biệt lớn là bỏ thiết chế hội đồng đại học và làm rõ thẩm quyền bổ nhiệm nhân sự lãnh đạo của đại học quốc gia.
Cụ thể, dự thảo nghị định mới lược bỏ hoàn toàn các quy định liên quan đến "hội đồng đại học quốc gia". Các nội dung về việc báo cáo bổ nhiệm, miễn nhiệm chủ tịch hội đồng đại học quốc gia, hay việc trình Bộ GD-ĐT công nhận, bổ sung, thay thế thành viên hội đồng đều đã được rút khỏi dự thảo.
Theo Bộ GD-ĐT, nguyên nhân của sự thay đổi này xuất phát từ khoản 1 Điều 15 luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 quy định: trong cơ cấu tổ chức của các cơ sở giáo dục đại học công lập sẽ không còn hội đồng đại học và hội đồng trường.
Đặc biệt, dự thảo nghị định mới tách bạch thẩm quyền bổ nhiệm giám đốc và phó giám đốc đại học quốc gia. Theo Nghị định 201, Bộ GD-ĐT trình Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm cả giám đốc và phó giám đốc. Còn dự thảo mới đã phân định rõ ràng thẩm quyền đối với từng chức danh.
Đối với chức danh giám đốc đại học quốc gia, đại học quốc gia sẽ báo cáo Bộ GD-ĐT, Bộ GD-ĐT trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cho thôi giữ chức vụ, điều động, thuyên chuyển. Còn đối với chức danh phó giám đốc đại học quốc gia, đại học quốc gia sẽ cáo Bộ GD-ĐT, sau đó Bộ GD-ĐT xem xét, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động chức danh này.
Theo Bộ GD-ĐT, có sự phân cấp này là để tuân thủ nghiêm ngặt khoản 3 Điều 16 luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15.
Ngoài ra, dự thảo nghị định mới cũng có một số thay đổi nhằm chuẩn hóa các thuật ngữ quản lý tài chính, tài sản. Ví dụ, cụm từ chung chung "đơn vị thành viên" trong các quy định về phân bổ ngân sách, phê duyệt phương án tự chủ tài chính hay phục vụ công tác thanh kiểm tra ở Nghị định 201 đã được thay thế chính xác bằng "trường đại học thành viên, viện nghiên cứu thành viên".
Từ ‘niêm’ trong đề thi đánh giá năng lực làm khó nhiều thí sinh

Bước ra khỏi điểm thi Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM, các thí sinh được hỏi cho biết hoàn thành bài thi đánh giá năng lực ở mức độ khác nhau. Tuy nhiên, một nhận định chung của nhiều thí sinh là đề thi không quá khó nhưng khá dài, không dễ dàng để xử lý tốt trong thời gian quy định.
Quốc Việt (học sinh Trường Thực hành Sài Gòn, TP.HCM), cho biết đề thi không quá khó nhưng khá dài, một số câu làm trong tâm thế không chắc chắn do thời gian còn lại không nhiều. Đặc biệt ở phần thi sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, thí sinh này cho biết gặp khó bởi từ "niêm" .
Thí sinh này nói: "Em gần như chưa có khái niệm nào về từ "niêm' nhưng vẫn dựa vào đề bài, yêu cầu của đề để phân tích suy luận và chọn đáp án. Theo các đáp án đưa ra, em tự phiên nghĩa từ 'niêm' trong trường hợp này tương đương với các từ như: 'nối với' 'ứng với'…". Với cách xử lý này, Quốc Việt cho biết đã xử lý cơ bản bài thi và mong chờ đạt được 850 điểm để tự tin hơn khi xét tuyển ngành điện-điện tử Trường ĐH Bách khoa TP.HCM.
Không chỉ Quốc Việt, từ 'niêm' còn làm khó nhiều thí sinh khác. M.T (học sinh Trường THPT Hùng Vương, TP.HCM), cũng cho hay: "Đề thi có những câu hỏi kiến thức lớp 10, 11 hoặc kiến thức bậc THCS. Có những câu hỏi rất lạ, ví dụ từ "niêm" trong phần tiếng Việt. Em cũng chưa từng nghe chưa từng sử dụng từ "niêm" trong đời sống nên làm bài theo sự phân tích, suy luận của cá nhân…".
Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2005) thì "niêm" là danh từ, chỉ "quy tắc tương ứng về bằng trắc trong thơ, phú cổ Đường luật". Một từ khác có liên quan được tìm thấy trong từ điển này là "niêm luật" chỉ "quy tắc tương ứng về bằng trắc và các quy tắc khác trong thơ, phú cổ theo Đường luật".
Rút kinh nghiệm từ bài thi này, thí sinh Quốc Việt nhận định: "Đề thi không quá hóc búa, không kiểm tra kiến thức khó và yêu cầu vận dụng cao. Nhưng cái khó là yêu cầu xử lý tốc độ nhanh, 120 câu nhưng chỉ làm trong 150 phút. Do đó, vấn đề quản lý tốt thời gian trong khi làm bài rất quan trọng".
Tham dự kỳ thi, thí sinh làm một bài thi trong thời gian 150 phút gồm 120 câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, được tổ chức theo hình thức thi trên giấy. Mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan có 4 lựa chọn (A, B, C, D). Thí sinh lựa chọn một đáp án đúng cho mỗi câu hỏi và điền câu trả lời vào phiếu trả lời trắc nghiệm do ĐH Quốc gia TP.HCM quy định.
Nội dung thi được xây dựng dựa trên cơ sở kiến thức THPT nhằm đánh giá năng lực cơ bản cần thiết cho việc học ĐH của thí sinh, bao gồm: sử dụng ngôn ngữ, toán học, tư duy khoa học. Theo đó, cấu trúc bài thi gồm 3 phần: sử dụng ngôn ngữ gồm 60 câu hỏi (30 câu tiếng Việt và 30 câu tiếng Anh); toán học gồm 30 câu hỏi; tư duy khoa học gồm 30 câu hỏi. Điểm thi được quy đổi theo từng phần. Điểm số tối đa của bài thi là 1.200, trong đó điểm tối đa từng thành phần của bài thi được thể hiện trên phiếu điểm gồm: tiếng Việt là 300 điểm, tiếng Anh là 300 điểm; toán học là 300 điểm và tư duy khoa học là 300 điểm.
Độ khó của các câu hỏi trong đề thi được phân thành 3 mức độ và được phân bố theo tỷ lệ: mức độ 1 chiếm 30%, mức độ 2 chiếm 40%, mức độ 3 chiếm 30%. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Chính, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và đánh giá chất lượng đào tạo ĐH Quốc gia TP.HCM, cho biết kết quả thi đánh giá năng lực được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm hiện đại theo lý thuyết ứng đáp câu hỏi, điểm của từng câu hỏi có trọng số khác nhau tùy thuộc vào độ khó của câu hỏi. Điểm thi đợt 1 dự kiến sẽ được công bố vào ngày 17.4 tới.




