Như Tuổi Trẻ Online đưa tin, ngày 7-4, ông Ngọ Duy Hiểu – Phó chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam – cho biết nhiều người lao động, công đoàn cơ sở, công chức, viên chức có kiến nghị với Tổng liên đoàn về việc hoán đổi kỳ nghỉ lễ dịp 30-4 và 1-5 linh hoạt hơn.
Cụ thể, Giỗ Tổ Hùng Vương (10-3 âm lịch) rơi vào chủ nhật nên người lao động sẽ nghỉ vào ngày làm việc kế tiếp, tức thứ hai ngày 27-4.
Tuy vậy nhiều người lao động đề nghị hoán đổi ngày thứ hai đó sang ngày 29-4 hoặc 2-5 để có kỳ nghỉ lễ kéo dài.
Theo ông Hiểu, trước khi đề xuất chính thức về hoán đổi nghỉ lễ, công đoàn cần lấy ý kiến từ phía người lao động, nghiên cứu quy định của pháp luật và trao đổi, thống nhất với Bộ Nội vụ.
Một doanh nghiệp ở Khu công nghiệp Vân Trung (Bắc Ninh) cho hay lịch nghỉ lễ dịp 30-4 đã được công bố từ đầu năm nên sẽ không thay đổi. Cụ thể, người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương thứ năm ngày 30-4 và thứ sáu ngày 1-5, sau đó đi làm thứ bảy ngày 2-5.
Vì chia ca làm luân phiên ngày đêm, công ty này sẽ căn cứ lịch sản xuất để công nhân nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động theo quy định. Về khối văn phòng làm cố định, công ty tạo điều kiện để họ nghỉ phép năm (12 ngày hưởng nguyên lương).
“Chúng tôi có một số công đoạn đặc thù về sản xuất không cố định ngày làm, ngày nghỉ nên có thể luân phiên cho người lao động nghỉ, ví dụ người đi làm chủ nhật thì thứ hai sẽ được nghỉ”, vị này cho hay.
Tương tự, cán bộ phụ trách nhân sự của một công ty ở Khu công nghiệp Song Khê – Nội Hoàng (Bắc Ninh) cho biết doanh nghiệp không hoán đổi nghỉ lễ vì đã thông báo lịch cho công nhân viên từ đầu năm.
Do đơn hàng tăng cao, công ty giữ nguyên lịch nghỉ Giỗ Tổ Hùng Vương (10 âm lịch) kèm nghỉ bù thứ hai 27-4, sau đó người lao động đi làm hai ngày rồi nghỉ lễ 30-4 và 1-5 như thông báo của Nhà nước.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Nguyễn Văn Chí – Chủ tịch Công đoàn Công ty TNHH Crystal Martin Việt Nam (có khoảng 7.000 lao động) – cho hay nhiều công nhân mong muốn nghỉ làm vào thứ bảy 2-5 để kéo dài kỳ nghỉ lễ 30-4 trong 4 ngày liên tiếp. Phương án là hoán đổi từ thứ hai 27-4 (nghỉ bù Giỗ Tổ Hùng Vương) sang thứ bảy.
Tuy nhiên, Bộ luật Lao động 2019 quy định nghỉ bù phải là ngày làm việc kế tiếp, tức ngày 27-4 nêu trên, nên công ty không thể tự quyết định.
Để tạo thuận lợi, người lao động có nhu cầu nghỉ dài được nghỉ phép (trong 12 ngày phép năm hưởng nguyên lương). Việc này, theo ông Chí, giúp nhiều công nhân ở xa có thể về nhà lâu hơn nhưng lại ảnh hưởng đến xét tiền chuyên cần.
Chủ tịch Công đoàn công ty này mong Công đoàn cấp trên, cơ quan chức năng tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền hướng dẫn doanh nghiệp phương án linh động với dịp nghỉ lễ 30-4 và 1-5 này. Về lâu dài, doanh nghiệp cũng cần văn bản chính thức để trao đổi với đối tác, khách hàng, tính toán chi phí sản xuất kinh doanh…
Luật có thể điều chỉnh cho phép doanh nghiệp và người lao động thống nhất lịch nghỉ lễ phù hợp thực tế, có sự đồng ý của Sở Nội vụ địa phương vì đặc thù sản xuất kinh doanh mỗi nơi mỗi khác, ông Chí đề xuất.
Trong khi đó, ông Đinh Sỹ Phúc – Chủ tịch Công đoàn Công ty Taekwang Vina (Đồng Nai) – cho hay với khoảng 33.000 công nhân viên, đơn vị này đã thông báo lịch nghỉ lễ Tết từ sớm. Với đặc thù là doanh nghiệp xuất khẩu 100%, trong đó có thị trường Mỹ, công ty này phụ thuộc nhiều vào lịch xuất hàng của đối tác.
Theo ông Phúc, từ câu chuyện vận tải hàng hóa khó khăn hiện nay và việc lấy ý kiến hoán đổi nghỉ lễ gấp gáp, trong các năm tới, cơ quan chức năng cần lấy ý kiến các phương án nghỉ lễ từ sớm, để doanh nghiệp, Công đoàn và người lao động có thời gian thương lượng, thống nhất.
Ngược lại, bà Phạm Thị Tuyết Nhung – Chủ tịch Công đoàn Công ty TNHH Yazaki EDS Việt Nam (TP.HCM) – cho hay công ty đã thống nhất lịch nghỉ lễ dịp 30-4 và 1-5 kéo dài từ 26-4 đến 3-5. Như vậy, so với lịch của nhiều doanh nghiệp khác, khoảng 7.000 công nhân viên ở đây được nghỉ thêm 3 ngày 28-4, 29-4 và 2-5 hưởng nguyên lương.
Randy Shilling tốt nghiệp kỹ sư dầu khí tại Texas. Trong 10 năm đầu sự nghiệp, ông sống trong một căn hộ thuê. Bước ngoặt đến vào năm 30 tuổi khi ông chuyển sang làm việc tại nhà máy hóa chất với mức lương tăng 15%. Qua nhiều lần thăng chức, người đàn ông 58 tuổi hiện sở hữu nhà riêng và quỹ hưu trí hơn 3 triệu USD.
Ông Shilling gần như không nhận ra mình đã vươn lên tầng lớp trung lưu bậc cao. "Tôi vẫn là người bình thường, không có ôtô hay tivi đắt tiền nhưng khi cần mua gì, tôi có thể mua ngay lập tức", ông nói. Vợ chồng ông hiện có thu nhập khoảng 220.000 USD một năm.
Theo báo cáo năm 2024 của Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), khoảng 31% người Mỹ thuộc nhóm trung lưu bậc cao, tăng mạnh so với 10% của năm 1979. AEI phân loại thu nhập thành 5 nhóm, trong đó hộ gia đình ba người thu nhập 133.000-400.000 USD thuộc nhóm trung lưu bậc cao. Thu nhập vượt mức này được xem là giàu có.
Hiện tại, quy mô hai nhóm cao nhất đang phình to. Ngược lại, nhóm "nghèo hoặc cận nghèo" (thu nhập dưới 40.000 USD) giảm từ 30% xuống còn 19% trong cùng giai đoạn.
Nhiều gia đình ngạc nhiên khi thấy mình bước sang nấc thang kinh tế mới. Họ tự nhận cuộc sống chỉ dễ chịu hơn chứ không giàu có. Những người này thường làm văn phòng phổ thông thay vì chủ doanh nghiệp. Chuyên gia kinh tế Scott Winship của AEI giải thích: "Các nhóm thu nhập cao mở rộng vì tiền lương tăng nhanh hơn vật giá, đặc biệt đối với nhóm lao động trí thức có bằng cấp".
Hôn nhân cũng là đòn bẩy tài chính. Phân tích của Viện Đô thị chỉ ra, hơn 80% người thuộc nhóm trung lưu bậc cao và giàu có đang sống cùng bạn đời, giúp họ gộp chung thu nhập và chia sẻ sinh hoạt phí.
Gabriel Martinez, 34 tuổi, là một ví dụ. Khởi đầu với mức lương 50.000 USD năm 2015, hiện anh kiếm được 180.000 USD mỗi năm tại một tập đoàn công nghệ. Nhờ vợ chồng cùng đi làm và kiểm soát tài chính, họ đã trả hết khoản nợ học phí đại học 100.000 USD và mua được căn nhà 160 m2 ở Texas. "Cha tôi từng làm việc với mức lương chưa đến 40.000 USD. Tôi biết ơn vì không giậm chân tại chỗ như thế hệ trước", Martinez chia sẻ.
Không còn nỗi lo cơm áo, trăn trở lớn nhất của anh hiện tại là dạy con không ỷ lại, nhất là khi thanh thiếu niên trong vùng thường lái ôtô sang đi học.
Dữ liệu từ Trung tâm Nghiên cứu Pew cũng cho thấy xu hướng này. Năm 2023, 19% người Mỹ nằm trong nhóm thu nhập trên 200.000 USD, tăng từ mức 11% năm 1971. Ngoài lương, tài sản của họ tăng vọt nhờ sự bùng nổ của thị trường chứng khoán và bất động sản.
Với ông Chris Wogan, 76 tuổi, ở bang Pennsylvania, tuổi hưu diễn ra êm đềm hơn kỳ vọng. Lớn lên trong gia đình nghèo, cựu thẩm phán này có thu nhập 175.000 USD từ lương hưu và cổ tức. Vợ chồng ông vừa mua một ngôi nhà trong cộng đồng hưu trí cao cấp và thường xuyên du lịch nước ngoài. "Tôi nghĩ mình chỉ là tầng lớp trung lưu bình thường, nhưng có lẽ tôi đã làm tốt hơn mình tưởng", ông nói.
Dù tài chính dư dả, nhiều người vẫn mang tâm lý phòng thủ. Bà Laura Shields, 46 tuổi, ở bang New Jersey có thu nhập gia đình 240.000 USD. Bà đủ tiền cho con đi ngoại khóa ở nước ngoài những vẫn áp lực khi nghĩ đến học phí đại học đắt đỏ sắp tới và xác định sẽ phải vay mượn thêm.
Kiếm tiền bằng cách nào có quan trọng bằng việc mình đang cố gắng sống tử tế và không bỏ cuộc. Chấp nhận làm mọi nghề để trang trải, trước khi tìm được hướng đi lâu dài, chẳng xấu hổ!
Bước sang ngưỡng 30, Hoài Bảo (30 tuổi, TP.HCM) kể đã có bằng đại học, nhưng hiện vẫn loay hoay, làm thêm công việc phục vụ tại một quán ăn để trang trải.
Đến độ tuổi mặc định phải “ổn định sự nghiệp”, thế mà đôi lúc anh cảm nhận được sự coi thường từ chủ quán, với suy nghĩ chủ quan rằng ở độ tuổi này, có trình độ đại học nhưng vẫn làm công việc phục vụ.
Tuy nhiên, anh thừa nhận bản thân không quá bận tâm. Bảo vẫn luôn cố gắng hoàn thành tốt công việc, phục vụ khách hàng chu đáo và chuyên nghiệp. Bởi đây chỉ là công việc tạm thời trong giai đoạn cần trang trải tài chính.
“Mỗi công việc đều mang lại những trải nghiệm quý giá riêng. Vì vậy, không có gì phải xấu hổ khi kiếm tiền bằng sức lao động chân chính. Quan trọng là khi mình làm gì, mình cũng sẽ tập trung vào câu hỏi “mình học được gì ở đây”, mỗi trải nghiệm là mỗi bài học, còn nếu không có mục tiêu thì làm gì cũng thấy vô nghĩa”, Bảo tâm sự.
Tương tự, Thành Trung (30 tuổi, TP.HCM) kể sau 8 năm làm công việc văn phòng với tấm bằng đại học trong tay, anh quyết định rẽ hướng và bắt đầu lại từ đầu.
Anh từng làm phụ bếp tại căng tin của một phòng gym, sau đó theo đuổi nghề huấn luyện viên cá nhân (PT) để xây dựng nguồn thu nhập ổn định. Song song đó, Trung tiếp tục học hỏi và thử sức với lĩnh vực tiếp thị liên kết để thêm trang trải.
“Điều quan trọng không nằm ở việc làm công việc gì, mà là hiểu rõ mình đang làm gì và ý nghĩa của công việc đó đối với bản thân. Chậm một chút cũng không sao, miễn không bỏ cuộc”, Trung nói.
Ngọc Ánh (30 tuổi, Huế) kể sau khi tốt nghiệp nhưng chưa tìm được việc đúng chuyên môn, cô đã xin làm pha chế tại một quán gần nhà. Mỗi ngày Ánh làm việc từ 12 đến 16 tiếng khá vất vả. Đôi khi gặp bạn bè, cô cũng có chút chạnh lòng.
Tuy nhiên chồng luôn động viên rằng chỉ cần kiếm tiền bằng lao động chân chính thì không có gì phải xấu hổ hay dừng lại. Nhờ sự kiên trì và nỗ lực, hiện tại Ánh đã trở thành kế toán công nợ, làm việc theo giờ hành chính.
Dù công việc mới đi kèm nhiều áp lực và căng thẳng, cô cho biết động lực lớn nhất là có thể lo cho gia đình và người mình yêu, từ đó tiếp tục cố gắng mỗi ngày.
Châu Giang (32 tuổi, TP.HCM) cho rằng thất nghiệp không phải điều đáng sợ. Điều đáng lo là sau khi mất việc nhưng không nỗ lực tìm kiếm cơ hội mới.
Giang kể trước đây từng làm công việc chăm sóc vườn tại một homestay 4 sao. Khi nhân viên lễ tân đột ngột nghỉ việc, anh được đề nghị thay thế dù chưa có kinh nghiệm và khá lo lắng khi phải trực tiếp tiếp xúc với khách.
Giang đã chủ động tự học cách sử dụng các ứng dụng đặt phòng, đồng thời trau dồi kiến thức và kỹ năng cần thiết. Chỉ sau ba tháng, cô được tin tưởng giao vị trí quản lý tại cơ sở này.
"Ai cũng có giai đoạn long đong, tự ti với gia đình, bạn bè hay chính bản thân vì thất nghiệp. Nhưng đừng bỏ cuộc, miễn còn cố gắng, cứ dám thử vì tuổi trẻ có đặc ân được thất bại. Còn trẻ hãy cứ làm những gì mình cho là đúng sau khi nghiêm túc rồi chúng ta sẽ đi đúng đường", Giang bày tỏ.
Con số này không chỉ cho thấy mức độ phổ cập của công nghệ mà còn phản ánh một thực tế: không gian mạng đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống của trẻ.
Theo đó, vấn đề vì thế không còn là "có nên cho trẻ dùng Internet hay không", mà là làm sao để trẻ an toàn trong một môi trường vừa rộng mở, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Không gian số mang đến cơ hội học tập, kết nối, phát triển kỹ năng. Nhưng đi kèm với đó là những nguy cơ ngày càng tinh vi như bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nội dung độc hại, nghiện game, lệ thuộc mạng xã hội…
Như cảnh báo từ UNICEF, công nghệ có thể "ảo", nhưng những tổn thương mà trẻ em phải gánh chịu là hoàn toàn có thật . Một lời xúc phạm trên mạng có thể lặp lại vô hạn. Một hình ảnh bị phát tán có thể không bao giờ biến mất. Một cuộc trò chuyện tưởng chừng vô hại có thể trở thành điểm khởi đầu cho hành vi thao túng.
Điều đáng lo hơn là trẻ em bước vào thế giới đó khi chưa có đủ khả năng tự bảo vệ. Các em tò mò, dễ tin, dễ bị ảnh hưởng bởi bạn bè và môi trường xung quanh.
Trong khi đó, chính thiết kế của các nền tảng lại hướng đến việc giữ chân người dùng càng lâu càng tốt, liên tục đề xuất nội dung, tạo vòng lặp tương tác.
Với người lớn, điều này đã khó kiểm soát; với trẻ em, đó là một "cái bẫy" tinh vi. Việc sử dụng Internet quá mức có thể ảnh hưởng đến khả năng tập trung, hành vi, cảm xúc, thậm chí cả sự phát triển não bộ và kỹ năng xã hội.
Trước thực tế đó, nhiều ý kiến đề xuất cần hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội sớm. Đây là phản ứng dễ hiểu khi phụ huynh chứng kiến những rủi ro ngày càng rõ ràng. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, lệnh cấm không phải là lời giải trọn vẹn.
Trẻ em có thể tìm cách vượt rào, sử dụng tài khoản của người lớn, chuyển sang các nền tảng khác ít kiểm soát hơn. Khi đó, rủi ro không biến mất, mà chỉ chuyển sang những "vùng tối" khó nhận diện và khó can thiệp hơn.
Như nhiều chuyên gia nhận định, vấn đề không nằm ở việc trẻ có dùng Internet hay không, mà ở việc các em sử dụng như thế nào và có được chuẩn bị đủ kỹ năng hay chưa .
Thực tế cho thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay không phải là tiếp cận công nghệ, mà là năng lực sử dụng an toàn.
Trẻ em online mỗi ngày, nhưng lại thiếu kỹ năng nhận diện nguy cơ, thiếu khả năng tự bảo vệ và thiếu cả nơi để tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp vấn đề.
Trong khi đó, nhiều phụ huynh và giáo viên vẫn chưa theo kịp tốc độ thay đổi của môi trường số, dẫn đến khoảng trống trong việc đồng hành cùng trẻ.
Bảo vệ trẻ trên không gian mạng không thể là trách nhiệm của riêng gia đình, mà cần một hệ sinh thái nhiều tầng, với sự tham gia của gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và cơ quan quản lý.
Phía gia đình, điều quan trọng nhất không phải là kiểm soát tuyệt đối, mà là thiết lập quy tắc và duy trì đối thoại. Cha mẹ cần hiểu con mình đang làm gì trên mạng, sử dụng nền tảng nào, tiếp xúc với nội dung gì. Việc cài đặt công cụ quản lý là cần thiết, nhưng chưa đủ. Điều cốt lõi là xây dựng sự tin cậy để trẻ sẵn sàng chia sẻ khi gặp vấn đề, thay vì giấu kín.
Đối với nhà trường, giáo dục cần mở rộng sang kỹ năng công dân số. Trẻ cần được dạy cách ứng xử trên mạng, cách bảo vệ dữ liệu cá nhân, cách nhận diện tin giả, cách phản ứng khi bị bắt nạt hoặc tiếp cận bởi người lạ. Những kỹ năng này quan trọng không kém bất kỳ môn học nào trong thời đại số.
Trong khi đó, đối với doanh nghiệp công nghệ, trách nhiệm không thể chỉ dừng ở việc cung cấp nền tảng. Khi rủi ro xuất phát từ chính thiết kế hệ thống, các nền tảng cần chủ động xây dựng môi trường an toàn hơn: kiểm soát nội dung theo độ tuổi, cải thiện cơ chế báo cáo, tăng cường xác minh người dùng và cung cấp công cụ hỗ trợ phụ huynh.
Cũng cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường giám sát và hỗ trợ nạn nhân. Việt Nam đã có những bước tiến trong việc xây dựng hệ thống bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và tham gia các sáng kiến quốc tế nhưng trước tốc độ phát triển của công nghệ, các giải pháp cũng cần được cập nhật liên tục.
Quan trọng hơn cả, cần chuyển từ tư duy "ngăn chặn" sang "trao quyền". Trẻ em không thể bị tách khỏi thế giới số, nhưng có thể được trang bị để bước vào đó một cách an toàn. Khi có kỹ năng, có nhận thức và có sự hỗ trợ, các em không chỉ là đối tượng cần bảo vệ, mà trở thành chủ thể có khả năng tự bảo vệ mình.
Không gian mạng sẽ tiếp tục mở rộng và trẻ em sẽ tiếp tục hiện diện trong đó nhiều hơn. Do đó không phải là làm cách nào để cấm cản mà là làm sao để các em không bị tổn thương khi tham gia. Đây là sự thật không thể trì hoãn!