Ngày 7.4, Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An chủ trì cuộc họp với các Chủ tịch, Tổng giám đốc công ty điện lực, lãnh đạo Ban Quản lý dự án Điện 1 bàn giải pháp triển khai BESS trên lưới điện.
Theo ông Đặng Huy Cường, Thành viên HĐTV EVN, đến năm 2025, tổng công suất BESS được đầu tư trên toàn cầu khoảng 300.000 MW, cho thấy BESS đang trở thành xu thế tất yếu trong quá trình chuyển dịch năng lượng.
Tại Việt Nam, khi tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện ngày càng cao, BESS sẽ phát huy hiệu quả rõ ràng trong việc nâng cao tính ổn định của hệ thống điện. BESS góp phần phủ đỉnh phụ tải, qua đó có thể giảm hoặc thay thế một phần nhu cầu đầu tư vào các nguồn điện chạy đỉnh truyền thống và có thể hỗ trợ cung cấp điện, giảm nguy cơ quá tải trong các giai đoạn cao điểm…
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương tại Thông báo kết luận số 198/TB-BCT ngày 8.8.2025, để đáp ứng nhu cầu phụ tải đỉnh, đảm bảo khả năng cung ứng điện năm 2026 và các năm tiếp theo, EVN giao các Tổng công ty, đơn vị chủ động đầu tư lắp đặt BESS trên lưới điện.
Bà Đỗ Nguyệt Ánh, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), cho biết qua rà soát, khảo sát, các trạm biến áp 110 kV có khả năng triển khai BESS với tổng công suất có thể lắp đặt khoảng 530 MW, với thời gian lưu trữ 2 giờ, tương đương 1.060 MWh.
EVNNPC đã trao đổi, phối hợp với Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), trong giai đoạn 1 đầu tư BESS với tổng công suất 305 MW, dự kiến hoàn thành cuối tháng 6 và tiếp tục triển khai những năm tới.
EVN giao Tổng công ty Điện lực TP.Hà Nội (EVNHANOI) phát triển BESS với tổng công suất 275 MW. EVNHANOI đang thí điểm triển khai BESS với công suất 50 MW tại 5 trạm biến áp.
Ông Nguyễn Phước Đức, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), cho biết đơn vị đang làm việc với các doanh nghiệp để nghiên cứu, triển khai BESS tại đảo Phú Quý. Trên lưới truyền tải điện, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia dự kiến đến tháng 1.2027 sẽ hoàn tất lắp đặt 100 MW BESS đầu tiên tại các trạm biến áp. Ban Quản lý dự án Điện 1 (EVNPMB1) được EVN giao nghiên cứu đầu tư BESS với tổng quy mô từ 300 – 500 MW, đến nay đã khảo sát và bước đầu xác định 4 vị trí tiềm năng tại miền Bắc.
Trong Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, pin lưu trữ năng lượng đến năm 2030 đạt từ 10.000 – 16.300 MW. Theo EVN, triển khai các dự án BESS vẫn đang đối mặt với một số khó khăn, cần sớm được tháo gỡ từ quy hoạch, loại hình đầu tư, đến lựa chọn vị trí lắp đặt, hệ thống tiêu chuẩn – quy chuẩn áp dụng… Ngoài ra, vấn đề an toàn cháy nổ trong lắp đặt, vận hành BESS đặt ra yêu cầu đặc biệt nghiêm ngặt.
Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An nhấn mạnh, phát triển BESS được xác định là một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển hệ thống điện. Có ưu điểm nổi bật với thời gian triển khai lắp đặt nhanh, dù chi phí đầu tư hiện vẫn ở mức tương đối cao nhưng khi đặt trong tương quan tổng thể với các nguồn điện truyền thống, BESS không hẳn kém lợi thế, đặc biệt nếu xét đến các giá trị về tính linh hoạt và hiệu quả vận hành hệ thống.
Chủ tịch HĐTV EVN yêu cầu các đơn vị cần nhìn nhận BESS trong tổng thể nhiều vai trò và chức năng, không chỉ giới hạn ở 2 mục tiêu là phủ đỉnh phụ tải và giảm quá tải hệ thống điện; và cần xây dựng lộ trình phát triển BESS bài bản, đồng bộ, bảo đảm hiệu quả đầu tư.
EVN sẽ cùng Viện Năng lượng và NSMO kiến nghị Bộ Công thương xem xét, tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo điều kiện triển khai BESS trên diện rộng.
Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam một tổ chức đạt chứng nhận này, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc nâng cao năng lực đào tạo nhân lực kỹ thuật của ngành hàng không theo các tiêu chuẩn quốc tế.
EASA Part 147 là tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực đào tạo kỹ thuật bảo dưỡng tàu bay, cho phép các tổ chức đào tạo kỹ sư bảo dưỡng theo chuẩn châu Âu. Thông qua chương trình này, các kỹ sư có thể được cấp chứng chỉ ký xác nhận bảo dưỡng đối với các loại tàu bay quốc tế, đặc biệt là các tàu bay đăng ký tại châu Âu.
Việc một tổ chức tại Việt Nam đạt chứng nhận EASA Part 147 cho thấy năng lực đào tạo kỹ thuật hàng không trong nước đã đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế và tiết kiệm được 90% chi phí đào tạo. Đây là yếu tố quan trọng trong bối cảnh đội tàu bay của Việt Nam ngày càng hiện đại và nhu cầu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao tiếp tục gia tăng cùng với sự phát triển của thị trường hàng không.
Với chứng nhận này, VAECO trở thành tổ chức đầu tiên tại Việt Nam đạt EASA Part 147, đồng thời là một trong bốn đơn vị tại Đông Nam Á sở hữu đồng thời EASA Part 145 và Part 147 cho hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng và đào tạo kỹ thuật tàu bay. Dấu mốc này cho thấy ngành hàng không Việt Nam đang từng bước xây dựng nền tảng kỹ thuật đạt chuẩn quốc tế, góp phần nâng cao khả năng tự chủ kỹ thuật và độ tin cậy khai thác.
Thành quả trên là kết quả của dự án được VAECO chuẩn bị kỹ lưỡng từ năm 2024 với các yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn, nguồn lực và năng lực tổ chức. Cùng sự đồng hành và chỉ đạo sát sao của Cục Hàng không, đơn vị đã xây dựng và vận hành toàn bộ hệ thống đào tạo theo chuẩn EASA, từ phát triển đội ngũ giảng viên, chuẩn hóa chương trình đến xây dựng hệ thống tài liệu đào tạo.
Ông Trần Quốc Hoài, Tổng giám đốc VAECO, cho biết: "Việc đạt chứng nhận EASA Part 147 là bước tiến quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật và chuẩn hóa công tác đào tạo bảo dưỡng tàu bay theo các tiêu chuẩn quốc tế. Làm chủ hệ thống đào tạo theo chuẩn châu Âu giúp VAECO chủ động phát triển đội ngũ kỹ sư bảo dưỡng, đồng thời góp phần củng cố nền tảng an toàn khai thác và nâng cao năng lực kỹ thuật của ngành hàng không Việt Nam trong bối cảnh đội tàu bay ngày càng hiện đại".
Ở tầm rộng hơn, dấu mốc này cũng góp phần nâng cao năng lực kỹ thuật của ngành hàng không Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bảo dưỡng tàu bay. Đây là một trong những yếu tố nền tảng để ngành hàng không phát triển bền vững và từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh trong khu vực.
Cũng tại sự kiện, VAECO ký kết các thỏa thuận hợp tác đào tạo với Trường Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM (UTH), Công ty TNHH Hàng không Mặt trời Phú Quốc (SPA) và Hội Khoa học và công nghệ hàng không Việt Nam (VAAST) nhằm phát triển các chương trình đào tạo kỹ thuật hàng không phù hợp với nhu cầu thực tiễn, đồng thời tăng cường chia sẻ nguồn lực và kinh nghiệm trong đào tạo theo tiêu chuẩn EASA.
VAECO hiện là đơn vị sửa chữa, bảo dưỡng tàu bay hàng đầu Việt Nam, được phê chuẩn bởi hơn 20 nhà chức trách hàng không trên thế giới như CAAV, FAA và EASA. Đơn vị không chỉ phục vụ đội tàu bay của Vietnam Airlines mà còn cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho nhiều hãng hàng không lớn trên thế giới. Đáng chú ý, Tập đoàn Lufthansa của Đức đã đưa các tàu bay Airbus A350 bảo dưỡng tại VAECO, qua đó góp phần khẳng định năng lực kỹ thuật của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ bảo dưỡng hàng không trong khu vực.
Theo Bộ Xây dựng, sau giai đoạn duy trì ổn định năm 2025 và 2 tháng đầu năm, giá nhiên liệu đã "nhảy vọt" trong tháng 3, đặc biệt là mặt hàng dầu diesel. Tính đến hết 31.3, giá xăng E5 A92 tăng 4.703 đồng/lít và dầu diesel 0,055 tăng 17.117 đồng/lít so với trung bình tháng 2. Giá xăng E5 A92 và dầu diesel 0,055 trung bình tháng 3 tăng so với giá bình quân tháng trước lần lượt là 26,2% và 57,4%.
Bộ Xây dựng đánh giá đây là mức tăng không theo quy luật thông thường của mức biến động giá nhiên liệu trong những giai đoạn trước đây. Điều này cũng tạo áp lực dây chuyền lên giá thành sản xuất và chi phí vận chuyển của hầu hết các loại vật liệu xây dựng so với tháng 2.
Tính đến 31.3, giá xi măng đã tăng khoảng 7,2%; thép tăng 2,2%; gạch lát khoảng 4,8%; các vật liệu cát, đá, gạch xây tăng khoảng 13,5 - 23,3%; riêng giá nhựa đường tăng đột biến khoảng 31,77%. Giá vật liệu xây dựng có xu hướng tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Bộ Xây dựng cho biết, cả nước có 44 dự án trọng điểm đang triển khai với tổng đầu tư khoảng 569.000 tỉ đồng. Việc tăng giá nhiên liệu xăng dầu và vật liệu xây dựng đã ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí đầu tư xây dựng các công trình, đặc biệt là các công trình giao thông trọng điểm.
Theo ước tính, với mức biến động giá vật liệu xây dựng và giá nhiên liệu như trên, dự toán xây dựng các công trình ước tăng từ 1,91 - 8,09% tùy từng loại công trình. Trong đó, dự toán xây dựng tăng nhiều nhất đối với loại công trình giao thông (8,09%). Kịch bản xấu nhất, nếu giá nhiên liệu tăng 100% so với tháng 2 do xung đột Trung Đông, dự toán công trình giao thông có thể đội vốn xấp xỉ 16%. Chi phí xây dựng các dự án giao thông trọng điểm ước tăng 42.300 tỉ đồng, gây áp lực rất lớn lên ngân sách.
Bộ Xây dựng đánh giá nguyên vật liệu tăng giá khiến các nhà thầu có tâm lý e dè, thi công cầm chừng, nhất là với các dự án hợp đồng trọn gói hoặc hợp đồng theo đơn giá cố định, gây ảnh hưởng tiến độ dự án. Mặt khác, xung đột Trung Đông có nguy cơ kéo dài, ảnh hưởng tăng giá xăng dầu còn tiếp diễn.
Do đó, Bộ Xây dựng kiến nghị UBND cấp tỉnh tại các địa phương tổng hợp tình hình biến động giá vật liệu xây dựng, gửi báo cáo về Bộ theo định kỳ hàng tháng. Đồng thời, chủ động, cân đối nguồn lực, ưu tiên hoàn thành các công trình, dự án hạ tầng trọng điểm. Bên cạnh đó, lãnh đạo địa phương cần kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng, không để xảy ra tình trạng găm hàng, đầu cơ, thổi giá; kiểm soát chặt chẽ sản lượng khai thác khoáng sản.
Các Ban quản lý dự án, chủ đầu tư các dự án được giao kiểm soát chặt chẽ chi phí đầu tư xây dựng, chủ động đánh giá tác động của việc tăng giá xăng dầu, vật liệu xây dựng để có phương án sử dụng chi phí dự phòng hiệu quả, hợp lý, quyết định lựa chọn hình thức giá hợp đồng và kế hoạch lựa chọn nhà thầu phù hợp với diễn biến thị trường.
Bộ yêu cầu khẩn trương rà soát các hợp đồng xây dựng đang thực hiện, đặc biệt là hợp đồng trọn gói và đơn giá cố định, để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng; chủ động phối hợp với các nhà thầu xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tiến độ triển khai các dự án.
Chủ đầu tư, nhà thầu cũng cần phải có đánh giá, phân tích kỹ lưỡng theo hợp đồng cụ thể để có đề xuất kiến nghị rõ, khả thi. Cùng với đó, nghiên cứu quy định pháp luật về điều chỉnh hợp đồng, về bất khả kháng, về hoàn cảnh thay đổi cơ bản... để đánh giá tác động của việc tăng giá xăng dầu đến việc thực hiện hợp đồng xây dựng; làm cơ sở xem xét, sửa đổi hợp đồng xây dựng theo thẩm quyền.
Theo Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2026 - 2030 cần khoảng 38,5 triệu tỉ đồng. Trong đó, vốn nhà nước là 8,51 triệu tỉ đồng, phần còn lại sẽ phải huy động từ khu vực tư nhân và nước ngoài.
Phát biểu tại hội thảo "40 năm đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" chiều 13.4, tại Hà Nội, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), cho biết, tín dụng ngân hàng hiện vẫn đang đóng vai trò rất quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Đến cuối năm 2024, tổng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,17 triệu tỉ đồng, tăng 19,07% so với năm 2023. Trong đó, tín dụng cho doanh nghiệp chiếm khoảng 48%; tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình và hộ kinh doanh chiếm khoảng 46%.
"Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng hiện đang cao hơn tốc độ huy động vốn, qua đó tiềm ẩn rủi ro thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Cuối năm 2024, tín dụng tăng 19,07%, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,5%. Đến cuối tháng 3 năm nay, tín dụng tăng khoảng 2,45%, nhưng huy động mới chỉ tăng khoảng 0,31%.
Ngành ngân hàng cam kết sẽ tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, song nếu nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, mô hình tăng trưởng sẽ thiếu bền vững", bà Tùng lưu ý.
Theo bà Tùng, thời gian qua, dù có nhiều giải pháp nhằm nâng hạng thị trường vốn, quy mô thị trường vẫn hạn chế. Cần phát triển thêm các nguồn vốn khác như quỹ đầu tư, để hỗ trợ doanh nghiệp theo những mô hình linh hoạt hơn.
Để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho giai đoạn tăng trưởng mới, bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng giám đốc Standard Chartered Việt Nam, cho rằng, Việt Nam cần nhìn bài toán nguồn lực theo 2 cấu phần chính: vốn chủ sở hữu và vốn nợ.
Với vốn chủ sở hữu, cần đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, đồng thời thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với thị trường chứng khoán để tạo thêm hàng hóa chất lượng cho thị trường.
Song song, Việt Nam cần thu hút mạnh hơn FDI, hướng tới các nhà đầu tư lớn, dài hạn. Việc thị trường chứng khoán tiến gần mục tiêu nâng hạng cũng sẽ mở thêm dư địa cho dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.
"Một nguồn lực quan trọng khác là vốn trong dân cư, kể cả các tài sản đang nằm trong vàng. Nếu khơi thông tốt nguồn lực này, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có thêm dư địa phát triển rất lớn", bà Hạnh nói.
Khá lưu tâm khía cạnh Chính phủ dẫn dắt việc thành lập các quỹ đầu tư quốc gia, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch HĐQT FiinGroup, phân tích, hiện Việt Nam đã có đề án thành lập quỹ nhà ở quốc gia.
Sẽ rất tốt cho giải bài toán vốn nếu Chính phủ có thể nghiên cứu và xem xét mô hình như: quỹ đầu tư hạ tầng nhằm giải bài toán vốn dài hạn cho các nhóm dự án hạ tầng; quỹ tăng trưởng quốc gia nhằm hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế cao như một số nước đã làm...
Nhấn mạnh hiện vấn đề lớn khi các dự án tiếp cận vốn ngoài ngân hàng là tính hấp dẫn còn thấp, theo vị này, phải nhanh chóng cải thiện điều này. Kinh nghiệm quốc tế là không nên làm dự án riêng lẻ mà gộp danh mục dự án.
"Về cải cách thị trường vốn, hiện Bộ Tài chính đã có đề án tái cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Hiệu quả triển khai sẽ cao hơn nếu như phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp vào chiều sâu, để nhiều doanh nghiệp ngoài ngân hàng tham gia hơn...", ông Thuân nói.