Tại diễn đàn thảo luận “Đầu tư bắt đầu từ bảo vệ” do Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ FWD Việt Nam (FWD Việt Nam) tổ chức, diễn ra chiều 10.4 tại TP.HCM, các chuyên gia cho rằng một trong những vấn đề lớn của thị trường bảo hiểm nhân thọ thời gian qua là việc hiểu chưa đúng về các sản phẩm có yếu tố đầu tư, đặc biệt là bảo hiểm liên kết đơn vị.
Theo ông Ngô Trung Dũng – Phó tổng thư ký Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, nếu nhìn lại quá trình phát triển của bảo hiểm nhân thọ có thể thấy sản phẩm luôn phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân.
Trước đây, bảo hiểm chủ yếu đáp ứng nhu cầu bảo vệ trước rủi ro. Tuy nhiên, khi đời sống kinh tế cải thiện, người dân bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến tích lũy tài sản, đầu tư tài chính và hoạch định dài hạn. Chính vì vậy, các sản phẩm bảo hiểm có yếu tố đầu tư ra đời như một bước phát triển tự nhiên của thị trường. Đây là dòng sản phẩm kết hợp giữa bảo vệ và đầu tư, vừa giúp khách hàng phòng ngừa rủi ro, vừa mở ra cơ hội tích lũy tài sản trong dài hạn. Tuy nhiên, cũng từ đây xuất hiện nhiều cách hiểu chưa đầy đủ, dẫn đến kỳ vọng sai lệch. Đầu tiên là nhiều khách hàng chỉ nhìn vào yếu tố đầu tư mà bỏ qua bản chất bảo hiểm của sản phẩm.
“Đây là sản phẩm kết hợp, vừa có phần bảo vệ vừa có phần đầu tư. Nếu chỉ tập trung vào đầu tư, khách hàng rất dễ kỳ vọng sai về sản phẩm”, ông nói. Thực tế, với các sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị, yếu tố bảo vệ vẫn là nền tảng cốt lõi. Phần đầu tư đóng vai trò hỗ trợ gia tăng giá trị tài sản nhưng không thay thế chức năng bảo vệ tài chính cho người tham gia và gia đình.
Hiểu lầm thứ hai đến từ việc kỳ vọng lợi nhuận quá cao. Theo các chuyên gia, trong một số giai đoạn trước đây, hoạt động tư vấn từng nhấn mạnh nhiều vào khả năng sinh lời, khiến khách hàng hình dung đây là một kênh đầu tư có thể mang lại mức lợi nhuận cao, thậm chí 20 – 30% mỗi năm.
“Việc nhấn mạnh quá nhiều vào lợi nhuận mà chưa giải thích đầy đủ yếu tố bảo vệ đã khiến khách hàng hiểu sai bản chất sản phẩm”, ông Dũng nhận định. Trong khi đó, với đặc thù của sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị, lợi nhuận không được cam kết mà phụ thuộc vào diễn biến thị trường và danh mục đầu tư. Vì vậy, việc kỳ vọng mức sinh lời cao trong ngắn hạn là không phù hợp.
Hiểu lầm thứ ba là việc nhiều người tiếp cận sản phẩm bảo hiểm với tâm lý đầu tư ngắn hạn. Theo ông Dũng, đây là cách tiếp cận sai, bởi bản chất của bảo hiểm nhân thọ là một giải pháp tài chính dài hạn. “Yếu tố đầu tư trong bảo hiểm không phải là công cụ lướt sóng. Đây là đầu tư gắn với kế hoạch tài chính dài hạn và phải đi cùng yếu tố bảo vệ”, ông nhấn mạnh.
Cùng quan điểm, bà Dương Kim Anh – Giám đốc đầu tư Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank cho rằng, khi nhắc đến đầu tư, phần lớn nhà đầu tư đều nghĩ đến lợi nhuận. Tuy nhiên với bảo hiểm nhân thọ thì yếu tố đầu tiên cần nhìn nhận vẫn là tính dài hạn. “Không ai tham gia bảo hiểm nhân thọ chỉ để nghĩ đến một vài tháng hay một năm. Người ta hướng đến sự an tâm lâu dài cho bản thân và gia đình”, bà nói.
Theo bà Kim Anh, khi yếu tố đầu tư được tích hợp trong sản phẩm bảo hiểm, bản thân phần đầu tư đó cũng phải phù hợp với tính chất dài hạn. Việc đánh giá hiệu quả đầu tư trong ngắn hạn hoặc so sánh trực tiếp với các kênh đầu tư thuần túy là không phù hợp.
Một điểm quan trọng khác được các chuyên gia nhấn mạnh là yếu tố rủi ro. Bà Kim Anh nhấn mạnh, không có kênh đầu tư nào hoàn toàn không có rủi ro, kể cả những kênh được xem là an toàn như gửi tiết kiệm. Các thị trường như vàng, chứng khoán, bất động sản đều có biến động. Nếu kỳ vọng lợi nhuận càng cao thì mức độ rủi ro đi kèm cũng càng lớn. Do đó, nhà đầu tư cần hiểu rõ khẩu vị rủi ro của mình, bao gồm khả năng chịu biến động, thời gian đầu tư và mục tiêu tài chính. Khi xác định được những yếu tố này, việc lựa chọn sản phẩm phù hợp sẽ trở nên thực tế và hiệu quả hơn.
Tại diễn đàn, các ý kiến đều thống nhất rằng cần định vị lại đúng vai trò của bảo hiểm trong tổng thể kế hoạch tài chính cá nhân. Trong đó, bảo vệ phải là nền tảng trước khi tính đến đầu tư và tích lũy.
Cũng trong khuôn khổ sự kiện, FWD Việt Nam đã ra mắt sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị mới “FWD Đầu tư đón đầu”. Sản phẩm được giới thiệu là đáp ứng đồng thời hai nhu cầu bảo vệ tài chính và đầu tư tăng trưởng tài sản, có các đặc điểm như linh hoạt lựa chọn kế hoạch bảo vệ, thưởng định kỳ và cho phép khách hàng chủ động phân bổ danh mục đầu tư.
Ông Phương Tiến Minh cho biết: “Bảo vệ tài chính vẫn là nền tảng cốt lõi của bảo hiểm nhân thọ. Các sản phẩm mới cần giúp khách hàng vừa được bảo vệ, vừa có thêm công cụ để hoạch định tài chính dài hạn”.
Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
"Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam", ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi - cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. "Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng", ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. "Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý", ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 - 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.
Trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ông Vũ Khánh Toàn - một hộ kinh doanh gửi câu hỏi nêu: hộ kinh doanh đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu từ tháng 7.2025. Trong năm 2025, doanh thu của hộ kinh doanh vượt 3 tỉ đồng. Tuy nhiên, sang năm 2026, hộ ước tính doanh thu sẽ dưới 3 tỉ đồng. Vậy hộ kinh doanh có thể tiếp tục được áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ % trên doanh thu hay bắt buộc phải chuyển sang phương pháp tính theo thu nhập tính thuế (doanh thu trừ chi phí) nhân (x) thuế suất?
Trả lời vấn đề này, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho biết căn cứ vào một số quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, trong đó gồm Điều 2 về thuế giá trị gia tăng; Điều 4 về thuế thu nhập cá nhân; Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 3 tỉ đồng hoặc có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì thực hiện ổn định phương pháp tính thuế trong 2 năm liên tục kể từ năm đầu tiên áp dụng. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế, nếu hết năm xác định doanh thu thực tế năm trên 3 tỉ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất...
Căn cứ quy định nêu trên và trình bày của hộ kinh doanh, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho rằng, trường hợp hộ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán hoặc phương pháp kê khai trong năm 2025 có mức doanh thu trên 500 triệu đồng thì thực hiện kê khai, nộp thuế của năm 2026 theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Nếu hộ kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm 2026 từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng thì được lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP. Hộ kinh doanh khai, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quý cùng thời hạn khai, nộp thuế giá trị gia tăng; Trường hợp hết năm 2026 hộ kinh doanh xác định doanh thu thực tế năm 2026 trên 3 tỈ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất quy định tại điểm d khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Trong kỳ điều hành này, liên bộ Công thương - Tài chính quyết định trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu ở mức 800 đồng/lít đối với xăng sinh học, xăng không chì, dầu mazut; 1.000 đồng/lít đối với dầu diesel; không chi quỹ đối với tất cả các mặt hàng xăng dầu.
Theo đó, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường từ 15 giờ 30 hôm nay như sau:
Giá xăng E5RON 92 không cao hơn 22.344 đồng/lít, giảm 2.393 đồng/lít so với giá bán tối đa hiện hành và thấp hơn xăng RON 95 là 1.199 đồng/lít.
Giá xăng RON 95 không cao hơn 23.543 đồng/lít, giảm 2.993 đồng/lít so với giá bán tối đa hiện hành.
Giá dầu diesel không cao hơn 32.969 đồng/lít, giảm 9.872 đồng/lít so với giá bán tối đa hiện hành.
Giá dầu mazut không cao hơn 22.613 đồng/kg, giảm 1.658 đồng/kg so với giá bán tối đa hiện hành.
Cũng theo Bộ Công thương, thị trường xăng dầu thế giới kỳ điều hành lần này chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủ yếu như: xung đột quân sự giữa Mỹ, Israel với Iran; lệnh ngừng bắn tạm thời giữa Mỹ và Iran… Các yếu tố nêu trên khiến giá thành phẩm xăng dầu thế giới ngày 8.4 giảm mạnh.
Giá thành phẩm xăng dầu thế giới bình quân giữa kỳ điều hành giá ngày 9.4 và kỳ điều hành ngày 8.4 là:
119,460 USD/thùng xăng RON 92 dùng để pha chế xăng E5RON 92, giảm 20,580 USD/thùng, tương đương giảm 14,7%.
Cũng theo Bộ Công thương, giá xăng dầu của Việt Nam đang ở mức trung bình và thấp hơn so với các nước có chung đường biên giới.
Cụ thể, giá xăng tại Singapore là 70.328 đồng/lít, Thái Lan 35.999 đồng/lít, Campuchia 36.167 đồng/lít, Lào 49.058 đồng/lít, Trung Quốc là 36.200 đồng/lít .
Giá dầu tại Singapore là 86.985 đồng/lít, Thái Lan 39.635 đồng/lít, Campuchia 53.922 đồng/lít, Lào 61.488 đồng/lít, Trung Quốc 33.070 đồng/lít.
Bộ Công thương cho rằng, việc áp dụng biện pháp sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, thực hiện điều hành giá xăng dầu trong nước đảm bảo phản ánh đúng xu hướng biến động của giá xăng dầu thế giới.
Ngoài ra, phương án điều hành giá xăng dầu kỳ này tiếp tục duy trì mức chênh lệch giá giữa xăng sinh học E5RON 92 và xăng không chì RON 95 ở mức hợp lý để khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường.