Trong loạt điện thoại cao cấp mở bán tại Việt Nam bốn tháng đầu năm, Xiaomi 17 Ultra là phiên bản có thông số kỹ thuật camera tốt nhất, vượt trội so với iPhone 17 Pro Max và Galaxy S26 Ultra. Đối thủ trực tiếp về khả năng chụp ảnh của máy dự kiến là Oppo Find X9 Ultra và Vivo X300 Ultra, nhiều khả năng được bán tại Việt Nam trong tháng 5.
Điện thoại cao cấp của Xiaomi sở hữu cảm biến chính có kích thước lớn nhất trên smartphone là Light Fusion 1050L cỡ một inch, độ phân giải 50 megapixel, f/1.7, chống rung quang học OIS, dải tương phản động 14 EV bên cạnh hai camera phụ cũng có thông số tốt là góc siêu rộng tiêu cự 14 mm, độ phân giải 40 megapixel cỡ 1/2,76 inch và đặc biệt là ống tele độ phân giải 200 megapixel, tiêu cự 75-100 mm, kích thước 1/1,4 inch.
Hệ thống tele của Xiaomi 17 Ultra cũng đạt chứng nhận APO của Leica, cấu trúc 3G + 5P dạng thấu kính nổi (floating lens) và hỗ trợ chụp macro tele ở khoảng cách 30 cm.
Trong loạt điện thoại cao cấp mở bán tại Việt Nam bốn tháng đầu năm, Xiaomi 17 Ultra là phiên bản có thông số kỹ thuật camera tốt nhất, vượt trội so với iPhone 17 Pro Max và Galaxy S26 Ultra. Đối thủ trực tiếp về khả năng chụp ảnh của máy dự kiến là Oppo Find X9 Ultra và Vivo X300 Ultra, nhiều khả năng được bán tại Việt Nam trong tháng 5.
Điện thoại cao cấp của Xiaomi sở hữu cảm biến chính có kích thước lớn nhất trên smartphone là Light Fusion 1050L cỡ một inch, độ phân giải 50 megapixel, f/1.7, chống rung quang học OIS, dải tương phản động 14 EV bên cạnh hai camera phụ cũng có thông số tốt là góc siêu rộng tiêu cự 14 mm, độ phân giải 40 megapixel cỡ 1/2,76 inch và đặc biệt là ống tele độ phân giải 200 megapixel, tiêu cự 75-100 mm, kích thước 1/1,4 inch.
Hệ thống tele của Xiaomi 17 Ultra cũng đạt chứng nhận APO của Leica, cấu trúc 3G + 5P dạng thấu kính nổi (floating lens) và hỗ trợ chụp macro tele ở khoảng cách 30 cm.
Cảm biến một inch trên độ phân giải 50 megapixel giúp kích thước điểm ảnh trên Xiaomi 17 Ultra lớn hàng đầu là 1,6 micromet, tương đương máy ảnh du lịch. Lợi thế về thông số giúp cảm biến thu được nhiều ánh sáng hơn, cải thiện khả năng chụp đêm, giảm nhiễu, tăng dải tương phản động HDR khi chụp ban ngày và đặc biệt độ chi tiết ảnh cao ngay cả ở môi trường có ánh sáng phức tạp.
Ảnh trên được chụp dưới điều kiện trời có nắng gắt, chênh lệch sáng tối nhiều ở các chi tiết nửa dưới khung hình. Tuy nhiên, nhờ dải tương phản tốt, máy vẫn giữ được chi tiết tốt, không bị cháy sáng. Ảnh: Ngọc Thành
Cảm biến một inch trên độ phân giải 50 megapixel giúp kích thước điểm ảnh trên Xiaomi 17 Ultra lớn hàng đầu là 1,6 micromet, tương đương máy ảnh du lịch. Lợi thế về thông số giúp cảm biến thu được nhiều ánh sáng hơn, cải thiện khả năng chụp đêm, giảm nhiễu, tăng dải tương phản động HDR khi chụp ban ngày và đặc biệt độ chi tiết ảnh cao ngay cả ở môi trường có ánh sáng phức tạp.
Ảnh trên được chụp dưới điều kiện trời có nắng gắt, chênh lệch sáng tối nhiều ở các chi tiết nửa dưới khung hình. Tuy nhiên, nhờ dải tương phản tốt, máy vẫn giữ được chi tiết tốt, không bị cháy sáng. Ảnh: Ngọc Thành
Không chỉ độ chi tiết, việc đồng chế tác cùng hãng máy ảnh Đức nổi tiếng Leica giúp 17 Ultra có lợi thế về cách tái hiện màu sắc. Ảnh được chụp trong điều kiện thời tiết trời âm u, không có nắng nhưng vẫn tái hiện được màu sắc đẹp, đặc biệt là màu đỏ với chất khá riêng gần giống máy Leica.
Không chỉ độ chi tiết, việc đồng chế tác cùng hãng máy ảnh Đức nổi tiếng Leica giúp 17 Ultra có lợi thế về cách tái hiện màu sắc. Ảnh được chụp trong điều kiện thời tiết trời âm u, không có nắng nhưng vẫn tái hiện được màu sắc đẹp, đặc biệt là màu đỏ với chất khá riêng gần giống máy Leica.
Một bức ảnh khác ở điều kiện thời tiết tương tự, góc máy tiêu cự 24 mm mặc định của camera chính. Kích thước nhỏ gọn, cơ động và tiện dụng giúp những mẫu điện thoại chụp ảnh tốt như Xiaomi 17 Ultra được lòng các nhiếp ảnh gia chụp ảnh đường phố (Streetlife).
Một bức ảnh khác ở điều kiện thời tiết tương tự, góc máy tiêu cự 24 mm mặc định của camera chính. Kích thước nhỏ gọn, cơ động và tiện dụng giúp những mẫu điện thoại chụp ảnh tốt như Xiaomi 17 Ultra được lòng các nhiếp ảnh gia chụp ảnh đường phố (Streetlife).
Cảm biến ảnh 200 megapixel trang bị cho camera tele năm nay cũng đem lại độ chi tiết ảnh rất tốt ở những bức hình zoom xa. Bức ảnh này được chụp ở điều kiện ánh sáng tốt, mức zoom tối đa tiêu cự 100 mm, tốc độ chụp nhanh không cần đến tripod.
Cảm biến ảnh 200 megapixel trang bị cho camera tele năm nay cũng đem lại độ chi tiết ảnh rất tốt ở những bức hình zoom xa. Bức ảnh này được chụp ở điều kiện ánh sáng tốt, mức zoom tối đa tiêu cự 100 mm, tốc độ chụp nhanh không cần đến tripod.
Với điều kiện thời tiết kém hơn, trời âm u, khi zoom số, máy vẫn cho ra bức hình khá ổn. Nhiều chi tiết được bổ sung bằng AI giúp đẹp hơn thay vì chỉ qua thông tin nhận được từ cảm biến đơn thuần. Các ảnh chụp với mức zoom xa có AI thường mất thêm thời gian để xử lý, người dùng khi chụp xong cần khoảng 1-2 giây để có kết quả cuối cùng.
Với điều kiện thời tiết kém hơn, trời âm u, khi zoom số, máy vẫn cho ra bức hình khá ổn. Nhiều chi tiết được bổ sung bằng AI giúp đẹp hơn thay vì chỉ qua thông tin nhận được từ cảm biến đơn thuần. Các ảnh chụp với mức zoom xa có AI thường mất thêm thời gian để xử lý, người dùng khi chụp xong cần khoảng 1-2 giây để có kết quả cuối cùng.
Xiaomi 17 Ultra nâng cấp lớn nhất ở khả năng chụp tối nhờ cảm biến cải tiến, dải tương phản động 14 EV. Với chỉ ánh đèn từ bóng LED công suất nhỏ ở phía trước, ảnh vẫn cho độ sắc nét. Tuy nhiên, ảnh chụp từ máy Xiaomi thường có xu hướng đẩy tương phản lên một chút so với thông thường, tạo điểm nhấn cho chủ thể cũng như tách biệt vùng sáng, tối, làm nổi bật màu sắc.
Xiaomi 17 Ultra nâng cấp lớn nhất ở khả năng chụp tối nhờ cảm biến cải tiến, dải tương phản động 14 EV. Với chỉ ánh đèn từ bóng LED công suất nhỏ ở phía trước, ảnh vẫn cho độ sắc nét. Tuy nhiên, ảnh chụp từ máy Xiaomi thường có xu hướng đẩy tương phản lên một chút so với thông thường, tạo điểm nhấn cho chủ thể cũng như tách biệt vùng sáng, tối, làm nổi bật màu sắc.
Một bức ảnh khác được chụp ở điều kiện thiếu sáng vẫn rõ chi tiết và không bị bệt màu.
Một bức ảnh khác được chụp ở điều kiện thiếu sáng vẫn rõ chi tiết và không bị bệt màu.
Với camera tele, góc máy sẽ tạo sự tập trung hơn, nhấn mạnh vào chủ thế cũng như bớt “rác” ở khung nền phía sau. Việc điều khiển điểm phơi sáng, lấy nét nhanh trên 17 Ultra giúp người dùng dễ dàng kiểm soát ánh sáng trong ảnh.
Với camera tele, góc máy sẽ tạo sự tập trung hơn, nhấn mạnh vào chủ thế cũng như bớt “rác” ở khung nền phía sau. Việc điều khiển điểm phơi sáng, lấy nét nhanh trên 17 Ultra giúp người dùng dễ dàng kiểm soát ánh sáng trong ảnh.
Giữ tốc độ chụp cao để có thể bắt “đông cứng” chuyển động nhưng việc sở hữu cảm biến lớn thu được nhiều ánh sáng cho phép máy không đẩy ISO lên quá cao, giữ lại nhiều chi tiết cho ảnh và ít xuất hiện nhiễu (noise). Ảnh: Ngọc Thành
Giữ tốc độ chụp cao để có thể bắt “đông cứng” chuyển động nhưng việc sở hữu cảm biến lớn thu được nhiều ánh sáng cho phép máy không đẩy ISO lên quá cao, giữ lại nhiều chi tiết cho ảnh và ít xuất hiện nhiễu (noise). Ảnh: Ngọc Thành
Không chỉ ở điều kiện chụp đủ sáng, các bức hình chụp thiếu sáng cũng cho thấy nét đặc trưng của máy Leica khi thường tăng độ tương phản. Theo nhiếp ảnh gia Ngọc Thành, người chuyên sử dụng máy ảnh Leica, ảnh chụp từ Xiaomi 17 Ultra có điểm hay là phân định rõ giữa vùng sáng và tối ở điều kiện ánh sáng gắt (tương phản lớn), có thể thấy rõ nhất trong đêm hoặc trời chập choạng. Ảnh: Ngọc Thành
Không chỉ ở điều kiện chụp đủ sáng, các bức hình chụp thiếu sáng cũng cho thấy nét đặc trưng của máy Leica khi thường tăng độ tương phản. Theo nhiếp ảnh gia Ngọc Thành, người chuyên sử dụng máy ảnh Leica, ảnh chụp từ Xiaomi 17 Ultra có điểm hay là phân định rõ giữa vùng sáng và tối ở điều kiện ánh sáng gắt (tương phản lớn), có thể thấy rõ nhất trong đêm hoặc trời chập choạng. Ảnh: Ngọc Thành
Không chỉ ở điều kiện chụp đủ sáng, các bức hình chụp thiếu sáng cũng cho thấy nét đặc trưng của máy Leica khi thường tăng độ tương phản. Theo nhiếp ảnh gia Ngọc Thành, người chuyên sử dụng máy ảnh Leica, ảnh chụp từ Xiaomi 17 Ultra có điểm hay là phân định rõ giữa vùng sáng và tối ở điều kiện ánh sáng gắt (tương phản lớn), có thể thấy rõ nhất trong đêm hoặc trời chập choạng. Ảnh: Ngọc Thành
Cùng được đánh giá cao về khả năng chụp ảnh nhưng hiện các smartphone của Xiaomi, Vivo và Oppo có sự khác biệt khá rõ trong xử lý ảnh, đặc biệt với ảnh chân dung. Với mẫu được thử nghiệm trước đó là Vivo X300 Pro, ảnh chân dung thiên về độ chi tiết, tăng tính tự nhiên trong khi ảnh chụp bởi 17 Ultra cho cảm giác độ mịn tốt hơn, tương tự cách xử lý trên máy ảnh Leica, đặc biệt “nhạy” với da người ngay cả khi để ở chế độ mặc định.
Cùng được đánh giá cao về khả năng chụp ảnh nhưng hiện các smartphone của Xiaomi, Vivo và Oppo có sự khác biệt khá rõ trong xử lý ảnh, đặc biệt với ảnh chân dung. Với mẫu được thử nghiệm trước đó là Vivo X300 Pro, ảnh chân dung thiên về độ chi tiết, tăng tính tự nhiên trong khi ảnh chụp bởi 17 Ultra cho cảm giác độ mịn tốt hơn, tương tự cách xử lý trên máy ảnh Leica, đặc biệt “nhạy” với da người ngay cả khi để ở chế độ mặc định.
Cùng được đánh giá cao về khả năng chụp ảnh nhưng hiện các smartphone của Xiaomi, Vivo và Oppo có sự khác biệt khá rõ trong xử lý ảnh, đặc biệt với ảnh chân dung. Với mẫu được thử nghiệm trước đó là Vivo X300 Pro, ảnh chân dung thiên về độ chi tiết, tăng tính tự nhiên trong khi ảnh chụp bởi 17 Ultra cho cảm giác độ mịn tốt hơn, tương tự cách xử lý trên máy ảnh Leica, đặc biệt “nhạy” với da người ngay cả khi để ở chế độ mặc định.
Đây là hướng đi khác biệt trong cuộc đua kính thông minh hiện nay.
Theo chuyên trang công nghệ The Verge, Even Realities, start-up có trụ sở tại Thâm Quyến (Trung Quốc), đang tham vọng trở thành đối thủ trực tiếp của Meta với hai sản phẩm mới: kính G2 và nhẫn điều khiển R1.
Thay vì chạy đua tính năng, hãng chọn cách tiếp cận khác biệt: không camera, không loa ngoài, tập trung bảo vệ quyền riêng tư trong bối cảnh người dùng ngày càng lo ngại về thu thập dữ liệu cá nhân.
Những năm gần đây, các dòng kính thông minh - đặc biệt là Ray-Ban của Meta - mở rộng theo hướng tích hợp camera, micro và kết nối mạng xã hội. Người dùng có thể quay video, chụp ảnh hay phát trực tiếp chỉ bằng một thao tác nhanh. Nhưng đi kèm đó là những lo ngại ngày càng lớn: nhiều người cảm thấy bị theo dõi vì không thể biết lúc nào mình đang bị ghi hình, dù thiết bị có đèn báo.
Không chỉ là cảm giác chủ quan. Một nghiên cứu đăng trên website của thư viện y khoa PubMed Central cho thấy người đeo camera thường có cảm giác "bị quan sát", từ đó trở nên dè dặt và thay đổi cách cư xử trong các tình huống hằng ngày. Chính yếu tố này khiến kính thông minh có camera dễ tạo ra sự "khó xử" trong giao tiếp.
Even Realities chọn cách giải quyết vấn đề từ gốc rễ. Kính G2 không có camera, cũng không có loa ngoài. Theo tạp chí công nghệ Wired, việc loại bỏ camera giúp giải quyết nỗi lo lớn nhất của người dùng, đồng thời khiến chiếc kính trông "bình thường" hơn trong mắt người đối diện.
Cách tiếp cận này còn giúp thiết bị nhẹ hơn, gọn hơn và dễ đeo cả ngày. Một số chuyên trang công nghệ nhận xét G2 là một trong những mẫu kính hiếm hoi trông giống kính thật, thay vì một món đồ công nghệ gắn trên mặt.
Dù không có camera, G2 vẫn được trang bị nhiều tính năng AI: hiển thị thông báo, chỉ đường, dịch ngôn ngữ và gợi ý hội thoại theo thời gian thực - tất cả thông qua hệ thống micro-LED tích hợp trong tròng kính.
Đi kèm là nhẫn R1 - cho phép người dùng điều khiển bằng cử động ngón tay nhỏ mà không cần chạm vào kính hay nói chuyện với thiết bị giữa nơi đông người.
Sự khác biệt giữa Even Realities và Meta không chỉ nằm ở sản phẩm, mà ở tầm nhìn về tương lai của thiết bị đeo thông minh. Meta đại diện cho hướng phát triển quen thuộc: càng nhiều dữ liệu, càng nhiều tính năng càng tốt. Camera, micro, AI kết hợp để tạo ra một hệ sinh thái kết nối trải nghiệm liên tục.
Even Realities đi theo hướng ngược lại - giảm bớt những thứ có thể gây tranh cãi, giữ lại những gì thực sự cần thiết. Hãng gọi đó là cách tiếp cận "human-centric" (lấy con người làm trung tâm).
Hiện tại, kính thông minh vẫn là thị trường mới. Các sản phẩm dù ấn tượng nhưng chưa thực sự phổ biến - một phần vì giá cao, phần khác vì người dùng chưa cảm thấy thực sự cần thiết.
Câu hỏi đặt ra: người dùng thực sự muốn gì ở một thiết bị đeo trên mặt mỗi ngày? Nếu ưu tiên công nghệ, kính có camera rõ ràng hấp dẫn hơn vì có nhiều tính năng để trải nghiệm. Nhưng nếu người dùng coi trọng sự riêng tư và cảm giác thoải mái trong giao tiếp, lựa chọn như Even Realities lại có lợi thế.
Việc loại bỏ camera khiến Even Realities bỏ lỡ một số tính năng hấp dẫn. Nhưng đổi lại, họ tạo ra một sản phẩm khác biệt trong thị trường đang có xu hướng "na ná nhau".
Trong bối cảnh người dùng ngày càng nhạy cảm với dữ liệu cá nhân, hướng đi này không phải không có cơ hội, và có lẽ chính sự "tiết chế" đó lại là thứ khiến Even Realities trở thành đối thủ đáng chú ý của Meta.
Trong chuyến du hành tới Mặt Trăng đầu tháng 4, phi hành đoàn Artemis II chụp nhiều hình ảnh ngoạn mục về thiên thể này và Trái Đất, nhận được sự quan tâm lớn của những người yêu thích khám phá không gian. Tuy nhiên, một số bức ảnh lại thu hút vì yếu tố khác: những ngôi sao và hành tinh lấp lánh trên nền vũ trụ. Điều này gây ngạc nhiên vì trong ảnh chụp từ chương trình Mặt Trăng Apollo của NASA cách đây hơn nửa thế kỷ, nhiều người đã quen với nền vũ trụ là khoảng không tối đen.
Theo Viện Vật lý (IOP) tại Anh, việc không có ngôi sao nào trong ảnh chụp từ bề mặt Mặt Trăng là lý do phổ biến khiến một số người nghi ngờ việc phi hành gia Apollo đã đặt chân lên bề mặt thiên thể. Không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm ánh sáng và khí quyển dày như ở Trái Đất, họ trông đợi thấy hàng nghìn ngôi sao trong mọi bức ảnh.
IOP giải thích, kỳ vọng này dựa trên giả định rằng ảnh được chụp vào đêm Mặt Trăng (ban đêm trên Mặt Trăng dài tương đương 14 ngày Trái Đất). Trong khi thực tế, mọi chuyến bay có người lái đến Mặt Trăng thời Apollo đều diễn ra vào ban ngày (cũng dài tương đương 14 ngày Trái Đất), khi bề mặt thiên thể này sáng rực. Phi hành gia phải đeo kính bảo hộ và chụp ảnh trong điều kiện các ngôi sao thua kém bề mặt Mặt Trăng về độ sáng. Chúng quá mờ để xuất hiện trong ảnh, khiến bầu trời trông như khoảng không tối đen.
"Giả sử bạn là Neil Armstrong đang chụp ảnh Buzz Aldrin vào ban ngày nhiều ánh sáng trên Mặt Trăng. Buzz (mặc bộ đồ vũ trụ) và bề mặt Mặt Trăng sẽ là chủ thể sáng nhất trong ảnh. Để Buzz hiện rõ, bạn cần chọn tốc độ màn trập nhanh và khẩu độ nhỏ. Kết quả, bạn thu được hình ảnh rõ nét của Buzz, nhưng nguồn sáng khác như những ngôi sao lại quá mờ để xuất hiện trên phim chụp", nhà sử học du hành vũ trụ Amy Shira Teitel nói với Astronomy.
Theo nhà vật lý thiên văn Alfredo Carpineti, tiến sĩ tại Đại học Hoàng gia London, từ bề mặt Mặt Trăng hoặc không gian sâu, con người thường có thể thấy bầu trời đầy sao, dải Ngân Hà rõ nét cùng nhiều thiên thể khác. Tuy nhiên, chúng không hiện diện trong ảnh do mục tiêu và cách chụp.
Những mục tiêu phổ biến trong nhiếp ảnh cận Trái Đất là phi hành gia mặc bộ đồ vũ trụ màu trắng, tàu, trạm vũ trụ, Mặt Trăng và chính hành tinh xanh. "Tất cả chủ thể đó đều có một điểm chung: rất sáng nhờ phản xạ nhiều ánh nắng Mặt Trời. Trong khi đó, các ngôi sao vốn là nguồn sáng nhưng lại ở quá xa nên mờ nhạt", Carpineti giải thích trên IFL Science.
Không chỉ ảnh chụp từ phi hành gia, những bức ảnh do camera trên tàu vũ trụ chụp cũng có thể vắng bóng sao. "Về cơ bản, chúng ta không thể thấy sao từ camera trên tàu vì để quan sát chính con tàu (hoặc Mặt Trăng, Trái Đất) thì phải là ban ngày, khi Mặt Trời soi sáng chúng. Camera được điều chỉnh để phù hợp với độ sáng đó nên không thể thu ánh sáng yếu từ những ngôi sao phía sau", tiến sĩ Becky Smethurst, nhà vật lý thiên văn tại Đại học Oxford, nói với Reuters.
Hình ảnh từ không gian có thể trông giống chụp vào ban đêm vì nền trời màu đen thay vì xanh. Nhưng thực tế, bầu trời ban ngày trên Trái Đất có màu xanh nhờ sự tán xạ ánh sáng trong khí quyển. "Vượt khỏi khí quyển, bầu trời ban ngày trông tối đen", Smethurst giải thích.
Bên cạnh đó, đa số ảnh không gian được chụp trên tàu vũ trụ di chuyển nhanh. Vì vậy, để có tác phẩm tốt, cần điều chỉnh tốc độ màn trập và thời gian phơi sáng thích hợp. Phi hành gia NASA Don Pettit thậm chí tự phát triển thiết bị theo dõi sao riêng để chụp những bức ảnh phơi sáng đúng thời gian cần thiết từ Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS), vật thể di chuyển với tốc độ tới 8 km mỗi giây.
Ảnh chụp toàn cảnh Trái Đất ngày 3/4 (trái) và 2/4 (phải) từ tàu vũ trụ Orion trong nhiệm vụ Artemis II. Ảnh: NASA
Những hình ảnh từ phi hành đoàn Artemis II, trong đó các hành tinh và ngôi sao nằm ngoài hệ thống Trái Đất - Mặt Trăng hiện diện, đều có điểm chung là ngược sáng, hay Mặt Trời chiếu sáng từ phía sau. Trong ảnh toàn cảnh Trái Đất ngày 2/4 với thời gian phơi sáng dài hơn, các chi tiết, bao gồm Sao Kim cùng nhiều thiên thể khác, rõ nét hơn so với ảnh chụp ngày 3/4.
Tương tự, trong ảnh chụp nhật thực ngày 6/4, khi Mặt Trăng chắn trước Mặt Trời, các hành tinh và ngôi sao cũng hiện rõ. NASA giải thích: "Các ngôi sao, thường quá mờ để quan sát khi chụp Mặt Trăng, cũng xuất hiện. Lý do là khi Mặt Trăng chìm trong bóng tối, việc chụp ảnh sao trở nên dễ dàng hơn".
Tàu Orion rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội) đưa bốn phi hành gia bay tới Mặt Trăng, đánh dấu sứ mệnh có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA).
Nhiệm vụ Artemis II đánh dấu hàng loạt cột mốc trong ngành hàng không vũ trụ. Ví dụ, phi hành gia da màu, người phụ nữ, người không phải công dân Mỹ đầu tiên, phi hành gia lớn tuổi nhất đến Mặt Trăng. Ngoài ra, phi hành đoàn còn lập kỷ lục bay xa Trái Đất nhất, 406.771 km, xa hơn 6.616 km so với kỷ lục cũ của Apollo 13.
Bên cạnh đó, đây là chuyến bay có người lái đầu tiên của tên lửa Hệ thống Phóng Không gian (SLS) và tàu Orion. Rất nhiều công nghệ thử nghiệm trên tàu cũng lần đầu được sử dụng ngoài không gian như Hệ thống Liên lạc Quang học Orion Artemis II, sử dụng tia laser để gửi và nhận dữ liệu từ Trái Đất. Ngoài ra, tàu cũng trang bị nhà vệ sinh hoạt động đầy đủ đầu tiên trong chuyến bay tới Mặt Trăng.
Khi Artemis II bắt đầu hành trình 10 ngày tính từ 1/4, Koch trở thành nữ phi hành gia đầu tiên đi vào không gian sâu. Ngày 6/4 (7/4 theo giờ Hà Nội) tiếp tục ghi nhận cô là người phụ nữ đầu tiên bay quanh Mặt Trăng.
Sau khi bay vòng ra phía xa thiên thể này và gián đoạn liên lạc khoảng 40 phút, Christina Koch chia sẻ: "Thật tuyệt khi được nghe tin từ Trái Đất một lần nữa. Gửi đến châu Á, châu Phi, châu Đại Dương, chúng tôi đang ngắm nhìn và lắng nghe các bạn. Mọi người có thể ngước lên và thấy Mặt Trăng lúc này, chúng tôi cũng nhìn thấy các bạn".
Koch, sinh năm 1979, là chị cả trong gia đình có ba anh chị em. "Chị ấy muốn trở thành phi hành gia từ khi học mẫu giáo", em gái Denise Clayton, cho biết trên News & Observer năm 2023.
Từ khi thành lập, NASA đã lựa chọn 370 phi hành gia, với 61 nữ, chiếm 16%. Tỷ lệ giới tính đã dần cân bằng hơn những năm gần đây, nhưng do các tiêu chí cũ kéo dài trong nhiều năm, nam giới vẫn chiếm đa số. Trong 7 khóa đào tạo phi hành gia đầu tiên từ 1959 đến 1969, họ chọn ra 73 phi hành gia, đều là nam giới, chủ yếu đến từ các nhóm phi công quân sự. Phải đến khóa thứ 8 năm 1978, giới nữ mới được tuyển.
Christina Koch tham gia khóa thứ 21 năm 2013. Trước đó, cô học vật lý và kỹ thuật điện tại Đại học bang North Carolina, rồi lấy bằng thạc sĩ kỹ thuật điện. Sau khi tốt nghiệp, Koch từng là kỹ sư điện cho dự án khoa học không gian tại NASA hai năm nhưng nghỉ công việc cô gọi là "hoàn hảo" để đi nghiên cứu tại Nam Cực.
"Rời bỏ là một quyết định khó khăn. Nhưng ý tưởng về khoa học và khám phá những vùng đất mới đã thu hút tôi đến Nam Cực và không gian", Koch nói trong phỏng vấn với WUNC News.
Chính trải nghiệm đó, cùng với những chuyển dịch trong ngành hàng không vũ trụ, đưa Koch trở về "quỹ đạo" khám phá không gian. NASA xem kinh nghiệm ở các môi trường xa xôi là một năng lực quan trọng trong quá trình tuyển chọn cho chương trình đào tạo phi hành gia năm 2013.
Trước khi tham gia Artemis II, cô đã có chuyến thám hiểm không gian trên Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) vào tháng 3/2019. Khi NASA yêu cầu kéo dài thời gian nhằm thực hiện các nhiệm vụ khoa học, cô đồng ý và ở đây trong 328 ngày liên tục, lập kỷ lục về số ngày một nữ phi hành gia ở trong vũ trụ.
Khi đó, cô và các đồng đội đã đóng góp vào hàng trăm thí nghiệm trong các lĩnh vực sinh học, khoa học Trái Đất, nghiên cứu con người, khoa học vật lý và phát triển công nghệ. Một số thành tựu khoa học nổi bật từ nhiệm vụ bao gồm cải tiến máy quang phổ từ tính Alpha, dùng để nghiên cứu vật chất tối, nuôi cấy tinh thể protein cho nghiên cứu dược phẩm và thử nghiệm máy in sinh học 3D để in mô trong môi trường không trọng lực.
Koch cũng tham gia chuyến đi bộ ngoài không gian toàn nữ đầu tiên của NASA vào tháng 10/2019. Dấu mốc này, cùng với nhiệm vụ 328 ngày, đưa cô trở thành một trong những phi hành gia nổi tiếng nhất ở thế hệ hiện tại, trước khi bước vào Artemis II.
Theo NASA, sống và làm việc lâu ngày trên ISS đòi hỏi sức bền thể chất, kỷ luật và khả năng giữ bình tĩnh ở môi trường khép kín. Artemis II đòi hỏi những phẩm chất tương tự, và với khoảng cách xa Trái Đất hơn cũng như ít phương án ứng phó tức thời hơn, Koch trở thành ứng viên sáng giá.
Trong video của NASA năm 2020, Koch nói sự nghiệp của mình được thúc đẩy bởi "những điều khiến tôi cảm thấy mình nhỏ bé, khiến tôi suy ngẫm về kích thước của vũ trụ, vị trí của tôi trong đó và mọi thứ có thể khám phá ngoài kia".
Với cô, Mặt Trăng không chỉ là thám hiểm không gian sâu. "Nó thực sự là ngọn hải đăng cho khoa học", cô nói trong video giới thiệu các phi hành gia Artemis II năm 2023. "Nó là ngọn hải đăng giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc của mình".
"Tôi luôn nói với mọi người rằng, hãy làm những điều khiến bạn sợ hãi", cô chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn trước nhiệm vụ Artemis. "Với tôi, làm điều sợ hãi nghĩa là lên máy bay đến Nam Cực, đăng ký trở thành phi hành gia, ngồi vào tên lửa, mở cửa khoang ISS và bước ra ngoài không gian".