Nam Bộ đang nắng nóng diện rộng với nhiệt độ 35-37 độ C, khiến mức độ tiếp xúc với tia cực tím (UV) cao hơn bình thường. Đây là tác nhân trực tiếp gây cháy nắng, đẩy nhanh quá trình lão hóa, tăng sắc tố (nám, tàn nhang) và tiềm ẩn nguy cơ ung thư da.
Viện Hàn lâm Da liễu Mỹ (AAD) nhận định trang phục chống nắng là biện pháp bảo vệ hiệu quả bậc nhất vì tính tiện dụng, không cần thoa lặp lại như kem chống nắng.
Theo BS.CK1 Lê Cao Trí, Trung tâm Da – U máu, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM – Cơ sở 3, để tối ưu hóa việc bảo vệ, người dân cần lưu ý các nguyên tắc lựa chọn sau:
Ưu tiên diện tích che phủ
Nguyên tắc cốt lõi là tăng tối đa diện tích da được che chắn. Áo tay dài, quần dài hoặc váy dài giúp giảm đáng kể lượng tia UV tiếp xúc trực tiếp. Diện tích che phủ càng lớn, hiệu quả bảo vệ càng cao, đặc biệt dưới điều kiện nắng gắt kéo dài.
Quan tâm đến cấu trúc và màu sắc vải
Mật độ dệt: Vải dệt chặt, mật độ sợi cao sẽ hạn chế tia UV xuyên thấu. Bạn có thể kiểm tra bằng cách đưa vải trước ánh sáng: nếu ánh sáng xuyên qua nhiều, khả năng bảo vệ thấp; ngược lại, vải càng kín thì cản tia UV càng tốt.
Màu sắc: Các gam màu tối thường hấp thụ bức xạ UV tốt hơn màu sáng, giúp giảm lượng tia đi vào da. Tuy nhiên, hiệu quả này còn phụ thuộc vào loại sợi và công nghệ xử lý vải, nên cần cân đối giữa khả năng chống nắng và sự thông thoáng để đảm bảo thoải mái.
Chất liệu và chỉ số UPF
Các loại sợi như polyester, nylon, denim hoặc vật liệu chuyên dụng thường bảo vệ da tốt hơn nhờ cơ chế hấp thụ hoặc phản xạ tia cực tím. Những chất liệu này ít bị biến dạng khi ướt, giúp duy trì hiệu suất bảo vệ. Ngược lại, vải cotton mỏng, màu sáng có khả năng chống nắng thấp, không nên dùng khi hoạt động lâu ngoài trời.
Người dùng nên chú ý chỉ số UPF (Ultraviolet Protection Factor):
Vải đạt UPF 50 chỉ cho phép khoảng 1/50 lượng tia UV xuyên qua (chặn khoảng 98%).
Khác với SPF (chủ yếu chống UVB), UPF đánh giá khả năng cản cả tia UVA và UVB.
AAD khuyến nghị chọn trang phục có UPF từ 30 trở lên. Tổ chức Phòng chống Ung thư Da (Skin Cancer Foundation) đề xuất mức UPF 50+ để đạt hiệu quả bảo vệ cao nhất.
Phụ kiện hỗ trợ
Bên cạnh trang phục chính, các phụ kiện đóng vai trò quan trọng:
Mũ: Nên dùng mũ rộng vành để che cả mặt, tai và cổ (hiệu quả hơn mũ lưỡi trai).
Kính râm: Cần đảm bảo ngăn chặn 99-100% tia UV để bảo vệ mắt và vùng da nhạy cảm quanh mắt.
Bổ sung: Khăn choàng, găng tay và giày kín là những vật dụng thiết yếu khi di chuyển ngoài trời.
Người dùng cần lưu ý các tình huống khiến trang phục “phản chủ”:
Vải bị ướt: Khi thấm nước, cấu trúc sợi thay đổi khiến khả năng cản tia UV giảm sút.
Đồ quá bó sát: Sợi vải bị kéo giãn tạo khe hở cho tia UV xuyên qua.
Thời gian sử dụng: Hiệu quả chống nắng có thể hao mòn sau nhiều lần giặt, tùy vào công nghệ xử lý của nhà sản xuất.
Nhiều người vẫn mắc sai lầm như: tin rằng quần áo màu sáng chống nắng tốt, chỉ thoa kem mà không che chắn, hoặc tiếp tục mặc quần áo ướt khi đi biển.
Để bảo vệ da toàn diện, bác sĩ Trí khuyến cáo thực hiện chiến lược “đa lớp”:
Kết hợp trang phục chống nắng với kem chống nắng cho các vùng da hở.
Hạn chế ra ngoài từ 10-14h (đỉnh điểm tia UV).
Chủ động tìm bóng râm khi hoạt động ngoài trời.
Việc lựa chọn đúng trang phục – ưu tiên độ che phủ, vải dệt chặt và chỉ số UPF cao, chính là cách đầu tư bền vững để duy trì sức khỏe làn da, ngăn ngừa lão hóa và các bệnh lý nguy hiểm về sau.
Tại hội thảo quốc tế “Siêu âm vú 3D tự động (ABUS)” do Bệnh viện Từ Dũ tổ chức chiều 7-4, BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) - cho biết ung thư vú hiện nay vẫn là một trong những bệnh lý ác tính hàng đầu ở phụ nữ trên toàn thế giới, với xu hướng ngày càng gia tăng và trẻ hóa.
Theo thống kê của Globocan năm 2022, ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Việt Nam, với hơn 24.500 ca mắc mới và trên 10.000 ca tử vong mỗi năm, chiếm tỉ lệ 28,9% trong các loại ung thư ở nữ giới.
Riêng các ca ung thư vú ghi nhận tại Bệnh viện Từ Dũ, bác sĩ Hải cho hay cũng nằm trong xu hướng chung của thế giới và cả nước.
Theo ông, việc phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm giúp người bệnh có cơ hội điều trị hiệu quả và sớm quay trở lại cuộc sống bình thường. Ở giai đoạn này, nhiều trường hợp có thể được chỉ định các phương pháp điều trị bảo tồn thay vì phải đoạn nhũ.
Ngược lại, nếu phát hiện muộn khi khối u đã sờ thấy hoặc đã di căn, việc điều trị sẽ trở nên phức tạp hơn và tiên lượng kém hơn.
"Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao hiệu quả tầm soát, chẩn đoán sớm và quản lý bệnh một cách toàn diện", ông nhấn mạnh.
Bác sĩ Hải cho rằng với phương pháp siêu âm truyền thống (2D) thường không đau, thời gian nhanh, nhưng phải phụ thuộc hoàn toàn vào tay nghề và cách đặt đầu dò của bác sĩ, dễ bỏ sót các tổn thương nhỏ hoặc nằm ở vị trí khó.
Còn chụp nhũ ảnh thì rất đau do phải ép mạnh mô vú để chụp X-quang tuyến vú (nhũ ảnh) và phụ thuộc vào kỹ thuật ép cũng như máy X-quang, quy trình phức tạp, bệnh nhân có tâm lý lo sợ…
Trong khi đó siêu âm vú 3D tự động (ABUS) được xem là bước tiến quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú, cho phép khảo sát toàn bộ mô vú, tái tạo hình ảnh 3D, giúp phát hiện tổn thương tốt hơn, đặc biệt ở phụ nữ có mô vú dày, góp phần chuẩn hóa quy trình, giảm phụ thuộc người vận hành và hỗ trợ theo dõi tổn thương hiệu quả theo thời gian.
“Không có phương pháp nào thay thế được, mỗi phương pháp đều có giới hạn. Tùy trường hợp, bác sĩ có thể kết hợp linh hoạt phương pháp hay kết hợp nhiều phương pháp để đạt kết quả chẩn đoán chính xác. Với riêng siêu âm vú 3D sẽ tránh sai sót do yếu tố con người”, bác sĩ Hải nhận xét.
Theo BS.CKI Trịnh Thị Thu Thảo - khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ Dũ, với siêu âm 2D, bác sĩ phải trực tiếp thực hiện. Trong khi đó siêu âm 3D chỉ cần kỹ thuật viên, còn bác sĩ sẽ đọc và phân tích kết quả sau. Siêu âm 3D phù hợp hơn trong triển khai tầm soát diện rộng trong cộng đồng.
Khám, chụp X-quang miễn phí cho trẻ gù vẹo cột sống hôm 4/4 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, các bác sĩ ghi nhận nhiều trẻ em cột sống cong vẹo nghiêm trọng. Điển hình, một bé gái 11 tuổi ở Hà Nội đến viện khám sau khi cha mẹ phát hiện vai con lệch nhẹ. Bác sĩ xác định cột sống của bé vẹo tới 63 độ, buộc phải can thiệp chuyên sâu.
"Hàng ngày con vẫn học tập, vui chơi bình thường, không ngờ bị cong vẹo cột sống nặng đến vậy", mẹ bé cho hay.
Tương tự, bé trai 9 tuổi ở Bắc Ninh được mẹ phát hiện vai hơi gù song chỉ nhắc nhở con ngồi thẳng khi học bài. Lần này bé đến viện khám, mẹ bất ngờ khi bác sĩ thông báo bé bị vẹo cột sống 39 độ cần theo dõi sát, can thiệp kịp thời, nhất là khi trẻ sắp bước vào giai đoạn dậy thì - thời điểm bệnh có thể tiến triển nhanh.
PGS.TS Đinh Ngọc Sơn, Trưởng khoa Phẫu thuật Cột sống, cho biết cong vẹo cột sống là bệnh lý thường gặp ở trẻ em, tỷ lệ mắc khoảng 0,5-1% dân số. Phần lớn trường hợp không xác định được nguyên nhân cụ thể. Một số trẻ mắc do yếu tố bẩm sinh, bệnh lý thần kinh - cơ, hoặc thói quen sinh hoạt sai tư thế kéo dài. Điểm nguy hiểm của bệnh là tiến triển âm thầm, ít biểu hiện rõ ràng nên dễ bị bỏ qua.
Nhiều trẻ vẫn sinh hoạt hoàn toàn bình thường, không đau đớn, không hạn chế vận động. Dấu hiệu ban đầu thường rất kín đáo, chỉ là lệch vai, gù nhẹ hoặc mất cân đối cơ thể. Chính vì vậy, không ít phụ huynh chủ quan, chỉ đưa con đi khám khi tình trạng đã trở nên nghiêm trọng, theo BS Sơn.
Hệ lụy của cong vẹo cột sống không dừng lại ở vấn đề thẩm mỹ. Khi cột sống biến dạng, lồng ngực có thể bị ảnh hưởng, làm giảm không gian phát triển của phổi. Trong những trường hợp nặng, bệnh có thể gây suy giảm chức năng hô hấp, thậm chí dẫn đến xẹp phổi. Đặc biệt, giai đoạn từ 5 đến 8 tuổi được xem là thời kỳ vàng để phổi phát triển. Nếu cột sống bị cong vẹo trong thời điểm này, những ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ có thể kéo dài lâu dài.
Yếu tố quan trọng nhất trong điều trị là phát hiện sớm. Bệnh ở giai đoạn nhẹ có thể cải thiện bằng các phương pháp đơn giản như tập phục hồi chức năng, vận động phù hợp hoặc bơi lội để điều chỉnh tư thế. Khi bệnh tiến triển hơn, trẻ phải mặc áo chỉnh hình nhằm kiểm soát độ cong, cần kết hợp với tập luyện để đạt hiệu quả.
Trường hợp độ cong lớn hoặc các phương pháp bảo tồn không còn hiệu quả, bác sĩ cân phẫu thuật. Trẻ đang trong độ tuổi phát triển, các kỹ thuật nẹp tăng trưởng hiện đại có thể giúp vừa chỉnh hình cột sống, vừa duy trì khả năng phát triển tự nhiên, hạn chế số lần can thiệp.
Một trong những nguyên nhân khiến nhiều trẻ đến viện muộn, theo bác sĩ Sơn, là do phụ huynh chưa chú ý đến các dấu hiệu ban đầu. Trong khi đó, cách kiểm tra sớm hoàn toàn có thể thực hiện ngay tại nhà. Cha mẹ chỉ cần quan sát khi trẻ đứng thẳng để xem hai vai có cân đối hay không, hoặc cho trẻ cúi gập người về phía trước để phát hiện sự bất thường ở hai bên lưng. Nếu một bên vai hoặc lưng nhô cao hơn có thể là dấu hiệu cảnh báo.
Bên cạnh đó, thói quen sinh hoạt đóng vai trò quan trọng trong việc làm nặng thêm tình trạng cong vẹo cột sống. Ngồi học sai tư thế trong thời gian dài, ít vận động hoặc mang cặp lệch một bên đều có thể khiến bệnh tiến triển nhanh hơn. Vì vậy, phụ huynh cần nhắc nhở trẻ duy trì tư thế đúng khi ngồi học, đồng thời khuyến khích tham gia các hoạt động thể chất như bơi lội, đu xà để hỗ trợ cột sống phát triển cân đối.
Lê Nga
Ngày 8.4, theo thông tin từ Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ, các bác sĩ Khoa Ngoại Lồng ngực vừa can thiệp kịp thời bảo tồn chân trái cho một bệnh nhân bị đau chân kéo dài do bệnh lý động mạch chi dưới nặng có nguy cơ hoại tử và cưa chân.
Trước đó, bệnh nhân Ng.V.Đ (70 tuổi, quê ở An Giang) nhập viện trong tình trạng loét gót chân dần mở rộng, lâu lành, cẳng bàn chân trái đau dai dẳng kéo dài hơn 3 tháng cùng nhiều bệnh lý nền như tăng huyết áp, tiểu đường…
Qua thăm khám lâm sàng, các bác sĩ ghi nhận động mạch đùi, động mạch khoeo và động mạch dưới gối chân bên trái của bệnh nhân không bắt được. Kết quả siêu âm Doppler mạch máu chi dưới ghi nhận tắc động mạch chậu bên trái, mất phổ 3 pha động mạch đùi, khoeo chân trái. Bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính mạch máu chi dưới (CTA) để đánh giá cụ thể và chính xác hơn tình trạng bệnh lý mạch máu, vị trí tắc nghẽn, mức độ tổn thương mạch máu.
Kết quả cho thấy bệnh nhân bị tắc động mạch chậu bên trái, tắc 1/3 giữa động mạch đùi bên trái và xơ vữa rải rác các động mạch chi dưới khác.
Bệnh nhân được chỉ định can thiệp nội mạch để kịp thời tái thông các mạch máu bị tắc gồm động mạch chậu và động mạch đùi nông bên trái.
Quá trình can thiệp, bệnh nhân được nong bóng và đặt 1 stent 06 x 58 mm vào động mạch chậu trái và nong bóng động mạch đùi bên trái. Sau can thiệp, tình trạng của bệnh nhân được cải thiện rõ, chân ấm, giảm đau chân và tiếp tục điều trị nội khoa.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Văn Trang, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, việc can thiệp kịp thời không chỉ giúp bệnh nhân giữ lại chân trái mà còn ngăn chặn nguy cơ hoại tử và phải cắt cụt chi. Với chân còn lại, bác sĩ đã xây dựng kế hoạch theo dõi, thăm khám định kỳ chặt chẽ nhằm phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.
Cũng theo bác sĩ Nguyễn Văn Trang, bệnh động mạch chi dưới là tình trạng các động mạch, từ động mạch chủ bụng đến hệ mạch ở chân, bị hẹp, làm giảm lưu lượng máu nuôi cơ, da và thần kinh ở vùng phía dưới. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh có thể tiến triển gây teo cơ, loét, hoại tử chi, lan dần từ ngọn đến gốc, thậm chí buộc phải cắt cụt chi.
Hiện nay, phương pháp can thiệp nội mạch cho hiệu quả tương đương phẫu thuật bắc cầu, đặc biệt với các tổn thương trên gối. So với phẫu thuật, kỹ thuật này có nhiều ưu điểm như chỉ cần gây tê tại chỗ, tránh mổ lớn và giúp người bệnh phục hồi nhanh, có thể sinh hoạt bình thường sau 24 - 48 giờ.