Tại hội thảo quốc tế “Siêu âm vú 3D tự động (ABUS)” do Bệnh viện Từ Dũ tổ chức chiều 7-4, BS.CKII Trần Ngọc Hải – Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) – cho biết ung thư vú hiện nay vẫn là một trong những bệnh lý ác tính hàng đầu ở phụ nữ trên toàn thế giới, với xu hướng ngày càng gia tăng và trẻ hóa.
Theo thống kê của Globocan năm 2022, ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Việt Nam, với hơn 24.500 ca mắc mới và trên 10.000 ca tử vong mỗi năm, chiếm tỉ lệ 28,9% trong các loại ung thư ở nữ giới.
Riêng các ca ung thư vú ghi nhận tại Bệnh viện Từ Dũ, bác sĩ Hải cho hay cũng nằm trong xu hướng chung của thế giới và cả nước.
Theo ông, việc phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm giúp người bệnh có cơ hội điều trị hiệu quả và sớm quay trở lại cuộc sống bình thường. Ở giai đoạn này, nhiều trường hợp có thể được chỉ định các phương pháp điều trị bảo tồn thay vì phải đoạn nhũ.
Ngược lại, nếu phát hiện muộn khi khối u đã sờ thấy hoặc đã di căn, việc điều trị sẽ trở nên phức tạp hơn và tiên lượng kém hơn.
“Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao hiệu quả tầm soát, chẩn đoán sớm và quản lý bệnh một cách toàn diện”, ông nhấn mạnh.
Bác sĩ Hải cho rằng với phương pháp siêu âm truyền thống (2D) thường không đau, thời gian nhanh, nhưng phải phụ thuộc hoàn toàn vào tay nghề và cách đặt đầu dò của bác sĩ, dễ bỏ sót các tổn thương nhỏ hoặc nằm ở vị trí khó.
Còn chụp nhũ ảnh thì rất đau do phải ép mạnh mô vú để chụp X-quang tuyến vú (nhũ ảnh) và phụ thuộc vào kỹ thuật ép cũng như máy X-quang, quy trình phức tạp, bệnh nhân có tâm lý lo sợ…
Trong khi đó siêu âm vú 3D tự động (ABUS) được xem là bước tiến quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú, cho phép khảo sát toàn bộ mô vú, tái tạo hình ảnh 3D, giúp phát hiện tổn thương tốt hơn, đặc biệt ở phụ nữ có mô vú dày, góp phần chuẩn hóa quy trình, giảm phụ thuộc người vận hành và hỗ trợ theo dõi tổn thương hiệu quả theo thời gian.
“Không có phương pháp nào thay thế được, mỗi phương pháp đều có giới hạn. Tùy trường hợp, bác sĩ có thể kết hợp linh hoạt phương pháp hay kết hợp nhiều phương pháp để đạt kết quả chẩn đoán chính xác. Với riêng siêu âm vú 3D sẽ tránh sai sót do yếu tố con người”, bác sĩ Hải nhận xét.
Theo BS.CKI Trịnh Thị Thu Thảo – khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ Dũ, với siêu âm 2D, bác sĩ phải trực tiếp thực hiện. Trong khi đó siêu âm 3D chỉ cần kỹ thuật viên, còn bác sĩ sẽ đọc và phân tích kết quả sau. Siêu âm 3D phù hợp hơn trong triển khai tầm soát diện rộng trong cộng đồng.
Một thìa canh (khoảng 7 g) hạt lanh xay cung cấp:
Calo: 37
Protein: 1 g
Chất béo: 3 g (chủ yếu là chất béo không bão hòa có lợi)
Chất xơ: 2 g (chiếm gần 30% trọng lượng hạt)
Giá trị cơ thể cần hàng ngày:
Thiamine (Vitamin B1): 10% DV
Đồng: 9% DV
Mangan: 8% DV
Magie: 7% DV
Hạt lanh còn chứa selen, kẽm, vitamin B6, sắt và folate, tạo nên một tổ hợp vi chất tốt cho sức khỏe tổng thể.
Lợi ích
Giàu axit béo omega-3
Nếu cá hồi cung cấp omega-3 động vật nổi bật thì hạt lanh là một trong những nguồn omega-3 hàng đầu từ thực vật. Loại hạt này giàu axit alpha-linolenic (ALA) - loại axit béo thiết yếu mà cơ thể không tự tổng hợp được.
ALA trong hạt lanh có thể giúp giảm viêm mạn tính, góp phần hạn chế hình thành mảng bám trong mạch máu và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đột quỵ. Với người ăn chay hoặc ít ăn cá, hạt lanh là lựa chọn thay thế phù hợp để bổ sung omega-3.
Phòng ung thư
Hạt lanh nổi bật với hàm lượng lignans rất cao, hơn nhiều lần so với các thực phẩm thực vật khác. Đây là hợp chất phytoestrogen, có đặc tính chống oxy hóa, có thể giúp điều hòa nội tiết và giảm nguy cơ ung thư, đặc biệt là ung thư vú ở phụ nữ sau mãn kinh.
Giàu chất xơ hỗ trợ tiêu hóa
Chất xơ là thành phần không thể thiếu để duy trì hệ tiêu hóa khỏe mạnh. Hạt lanh cung cấp cả hai loại chất xơ quan trọng gồm hòa tan và không hòa tan. Chất xơ hòa tan hỗ trợ ổn định đường huyết, giảm cholesterol và tạo cảm giác no lâu, trong khi chất xơ không hòa tan thúc đẩy nhu động ruột, ngăn táo bón. Sự kết hợp này còn nuôi dưỡng hệ vi sinh vật có lợi trong ruột, giúp tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.
Giảm mức cholesterol
Nhờ nguồn giàu chất xơ, lignan và axit béo omega-3, ăn hạt lanh giúp giảm hấp thu cholesterol trong ruột. Hiệu quả tốt hơn khi dùng ở dạng xay nhuyễn thay vì dạng nguyên hạt và thêm vào thức ăn.
Ổn định đường huyết và kiểm soát cân nặng
Hạt lanh là lựa chọn phù hợp cho người mắc tiểu đường type 2 và những người muốn kiểm soát cân nặng. Chất xơ hòa tan trong hạt lanh làm chậm hấp thu đường, hạn chế tăng đường huyết sau ăn và cải thiện độ nhạy insulin. Đồng thời, lượng chất xơ dồi dào trong loại hạt này còn tạo cảm giác no lâu, giảm cảm giác thèm ăn, hỗ trợ kiểm soát lượng calo nạp vào. Nhờ đó, việc giảm cân trở nên bền vững và ít gây mệt mỏi hơn.
Lưu ý
Để tận dụng tối đa giá trị dinh dưỡng, nên ưu tiên dùng hạt lanh xay thay vì hạt nguyên vì lớp vỏ cứng khiến cơ thể khó hấp thụ dưỡng chất. Bạn có thể dễ dàng thêm hạt lanh vào bữa ăn hàng ngày như rắc vào yến mạch, sữa chua, sinh tố hoặc dùng khi làm bánh. Hạt lanh xay còn có thể thay thế trứng trong nấu ăn chay hoặc dùng dầu hạt lanh để trộn salad (không nên đun ở nhiệt độ cao).
Dù có nhiều lợi ích, hạt lanh cần được sử dụng điều độ. Do giàu chất xơ, nên bắt đầu với lượng nhỏ và tăng dần để tránh đầy hơi, đồng thời uống đủ nước. Phụ nữ mang thai, cho con bú hoặc người có bệnh lý liên quan hormone nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng. Ngoài ra, hạt lanh có thể ảnh hưởng đến hấp thu thuốc hoặc gây dị ứng ở một số trường hợp ít gặp.
Trong nhiều năm, các yếu tố nguy cơ của đột quỵ thường được xác định dựa trên lối sống và tình trạng sức khỏe ở tuổi trưởng thành, như béo phì, hút thuốc hay tăng huyết áp. Tuy nhiên, nghiên cứu mới do các nhà khoa học từ University of Gothenburg thực hiện đã mở rộng góc nhìn: nguy cơ đột quỵ có thể đã được "lập trình" từ khi một người chào đời.
Công trình phân tích dữ liệu của gần 800.000 người sinh tại Thụy Điển trong giai đoạn 1973-1982, theo dõi đến năm 2022. Kết quả cho thấy những người có cân nặng khi sinh dưới mức trung bình (khoảng 3kg) có nguy cơ đột quỵ cao hơn rõ rệt khi bước vào tuổi trưởng thành.
Cụ thể, nhóm này có nguy cơ mắc tất cả các dạng đột quỵ tăng khoảng 21%, trong đó nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ tăng đáng kể, còn xuất huyết nội sọ, dạng đột quỵ nguy hiểm hơn, tăng tới 27%.
Điều đáng chú ý là mối liên hệ này không bị ảnh hưởng bởi chỉ số BMI khi trưởng thành hay tuổi thai lúc sinh, cho thấy cân nặng khi sinh là một yếu tố độc lập.
Các nhà khoa học cho rằng cân nặng khi sinh phản ánh môi trường phát triển trong tử cung. Khi thai nhi không nhận đủ dinh dưỡng hoặc gặp điều kiện bất lợi, cơ thể có thể "thích nghi" bằng cách thay đổi cấu trúc và chức năng của các cơ quan, bao gồm hệ tim mạch và mạch máu não.
Những thay đổi này có thể không biểu hiện ngay nhưng âm thầm làm tăng nguy cơ bệnh lý trong tương lai, đặc biệt là các bệnh liên quan đến tuần hoàn máu như đột quỵ.
Nói cách khác, cơ thể "ghi nhớ" điều kiện sống từ trong bụng mẹ, và điều đó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe suốt nhiều thập kỷ sau.
Mặc dù tỉ lệ đột quỵ đã giảm ở nhiều quốc gia phát triển, nhưng xu hướng này không rõ rệt ở người trẻ. Thậm chí, tại một số khu vực ở Đông Nam Á và các nước phát triển, tỉ lệ đột quỵ ở người trẻ và trung niên đang có dấu hiệu gia tăng.
Điều này khiến các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến những yếu tố nguy cơ "sớm" như cân nặng khi sinh, những yếu tố mà trước đây ít được chú ý trong đánh giá nguy cơ.
Không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể phòng ngừa tương lai. Đối với người trưởng thành hiện nay, cân nặng khi sinh là yếu tố không thể thay đổi. Tuy nhiên, việc nhận diện nguy cơ sớm có thể giúp chủ động phòng ngừa.
Những người từng sinh nhẹ cân nên chú ý hơn đến các yếu tố nguy cơ khác như huyết áp, chế độ ăn, vận động và kiểm tra sức khỏe định kỳ. Việc kiểm soát tốt các yếu tố này có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ đột quỵ.
Quan trọng hơn, phát hiện này mở ra cơ hội can thiệp từ sớm, ngay từ giai đoạn mang thai. Chăm sóc dinh dưỡng tốt cho mẹ bầu, theo dõi thai kỳ chặt chẽ và đảm bảo điều kiện phát triển tối ưu cho thai nhi có thể góp phần giảm nguy cơ bệnh tật cho thế hệ tương lai.
Nghiên cứu được trình bày tại European Congress on Obesity 2026 không chỉ cung cấp thêm bằng chứng về mối liên hệ giữa giai đoạn đầu đời và sức khỏe lâu dài, mà còn gợi ý rằng cân nặng khi sinh có thể được đưa vào các mô hình đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch.
Đây là một bước tiến trong cách tiếp cận y học dự phòng, không chỉ nhìn vào hiện tại, mà còn xem xét toàn bộ "lịch sử sinh học" của một con người.
Ngày 7/4, bác sĩ Hà Cẩm Thương, Phó khoa Sản khoa tự nguyện Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cho biết thai kỳ của người phụ nữ lớn tuổi nhiều nguy cơ do tiền sử mổ đẻ cũ, đái tháo đường thai kỳ phải uống insulin hằng ngày.
Đến tuần 37, sản phụ chuyển dạ, chỉ định mổ lấy thai. "Đây là ca mổ đầy nguy cơ, gây tê rất khó khăn", bác sĩ nói. May mắn hai bé chào đời đều khỏe mạnh, phản xạ tốt, sức khỏe sản phụ ổn định.
Bác sĩ cho biết mang thai ở tuổi trên 50, sức khỏe tổng thể và sức đề kháng của người mẹ kém hơn nên mệt mỏi nhiều hơn và dễ gặp các biến chứng như huyết áp cao, tiền sản giật, nhau tiền đạo, đái tháo đường thai kỳ, dọa đẻ non, đẻ non.
Ngoài ra, phụ nữ lớn tuổi thường có các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch... Những bệnh lý này có thể trở nên trầm trọng hơn trong thai kỳ, gây nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi.
Bác sĩ khuyến cáo phụ nữ không nên mang thai khi tuổi cao, đặc biệt mang song thai càng nguy hiểm. Nếu thực hiện IVF thì nên chuyển một phôi, đồng thời phải theo dõi quản lý thai chặt chẽ tại cơ sở y tế chuyên khoa có đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm để đảm an toàn cho cả mẹ và con.
Tại Việt Nam, hầu hết phụ nữ mang thai ngoài 50 tuổi đều nhờ can thiệp hỗ trợ sinh sản. Trường hợp lớn tuổi nhất là sản phụ 61 tuổi, ở Hà Nội, mang thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm từ trứng của người hiến tặng và tinh trùng người chồng, bé gái chào đời năm 2018 nặng 2,6 kg. Một sản phụ khác, 60 tuổi, ở Bắc Giang, sinh con lần ba, cũng nhờ thụ tinh ống nghiệm. Một phụ nữ sinh con trai ở tuổi 58 sau khi mãn kinh được hai năm, phải xin noãn của người khác để thụ tinh trong ống nghiệm.