Mục Lục
ToggleQuyết định chuẩn y ông Lê Ngọc Châu, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hải Phòng làm Bí thư Thành ủy nhiệm kỳ 2026-2031 của Bộ Chính trị được Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc trao sáng 10/4.
Ông Lê Ngọc Châu quê ở thành phố Hà Nội; là Tiến sĩ Luật học; Ủy viên Trung ương Đảng khóa 14; Đại biểu Quốc hội khóa 16.
Ông từng là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát Cơ động, Bộ Công an, Giám đốc Công an TP Hải Phòng, Giám đốc Công an tỉnh Hải Dương. Tháng 9/2024, ông được bầu làm Chủ tịch tỉnh Hải Dương.
Tháng 7/2025, TP Hải Phòng hợp nhất với tỉnh Hải Dương, ông Châu được chỉ định làm Chủ tịch UBND TP Hải Phòng.
Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng hiện có Bí thư Thành ủy Lê Ngọc Châu và các Phó bí thư Đỗ Mạnh Hiến (thường trực), Lê Văn Hiệu (Chủ tịch HĐND), Phạm Văn Lập (Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc) và ông Đỗ Thành Trung.
Lê Tân
Tin Gốc: https://vnexpress.net/ong-le-ngoc-chau-lam-bi-thu-thanh-uy-hai-phong-5012781.html
Đồng Tháp phát động thi đua, quyết tâm tăng trưởng 2 con số

Ngày 7.4, UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức hội nghị phát động phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, với mục tiêu tạo đột phá tăng trưởng, hướng tới đạt mức 2 con số vào năm 2030.
Theo nội dung ký kết, các cấp, ngành và địa phương trong tỉnh được yêu cầu tập trung cao độ nguồn lực, triển khai đồng bộ và quyết liệt các nghị quyết, chương trình hành động của Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh. Phong trào thi đua nhằm cụ thể hóa các mục tiêu đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030.
Trọng tâm là thúc đẩy tăng trưởng ngay từ năm đầu của giai đoạn. Đồng Tháp đặt mục tiêu năm 2026 đạt mức tăng trưởng từ 8 - 8,5%, tạo nền tảng vững chắc cho chặng đường 5 năm tiếp theo. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản dự kiến tăng 4,1 - 4,5%; công nghiệp - xây dựng tăng 13,1 - 14%; dịch vụ tăng 8,2 - 8,5%; thu ngân sách từ thuế tăng khoảng 5,65 - 6,5%.
Lộ trình tăng trưởng cũng được xác định cụ thể theo từng quý. Quý 2/2026, GRDP ước đạt tối thiểu 59.123 tỉ đồng, tăng trên 8,04% so với cùng kỳ; quý 3 đạt khoảng 70.008 tỉ đồng, tăng tăng 8,4%; quý 4 đạt 70.142 tỉ đồng, tăng 9,1%. Thu ngân sách từ thuế trong năm dự kiến tăng khoảng 6,3%.
Tại hội nghị, ông Phạm Thành Ngại, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện, bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu đề ra. Tỉnh phấn đấu duy trì mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt khoảng 9%/năm, tiến tới mốc từ 10% trở lên vào năm 2030.
Bên cạnh đó, Đồng Tháp xác định một số nhiệm vụ then chốt như hoàn thành điều chỉnh quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đúng tiến độ; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và các chương trình mục tiêu quốc gia ngay từ đầu năm; tăng cường quản lý thu ngân sách, đặc biệt ở các lĩnh vực tiềm năng như đất đai, thương mại điện tử và kinh tế số.
Công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm cũng được yêu cầu thực hiện quyết liệt, nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển toàn diện.
Mùa lộc biển: Những khoang thuyền chở 'vàng trắng' về bờ

3 giờ sáng, khi sương muối còn bao phủ mặt biển, hàng chục chiếc thuyền nan công suất nhỏ của ngư dân xã Đồng Tiến (Hà Tĩnh) đồng loạt nổ máy, xé tan không gian tĩnh lặng, rẽ sóng vươn khơi. Chẳng cần đi đâu xa, chỉ cách bờ chừng hơn 1 hải lý, "vương quốc" nhuyễn thể không xương dập dềnh chờ những người con của biển.
Khi ánh nắng bắt đầu xuyên thấu lớp sương mù, tiếng máy nổ xình xịch quen thuộc lại vang lên báo hiệu những chiếc thuyền đầu tiên trở về. Dưới khoang, thành quả của cuộc mưu sinh lúc rạng sáng là hàng chục con sứa trắng muốt, có con to hơn cả vành nón lá, nằm chồng chất lên nhau.
Vừa cập bến với khoang thuyền đầy ắp sứa, ngư dân Hồ Phi Kính (56 tuổi) quệt vội những giọt mồ hôi, cười rạng rỡ: "Năm nay sứa về sớm và nhiều hơn mọi năm. Chỉ cần đi từ sớm đến khoảng 8 giờ sáng là thuyền đầy khoang. Có ngày cha con tôi trúng đậm hơn 5 tấn sứa, thu về 7 - 8 triệu đồng là chuyện thường".
Dưới cái nắng vàng, ngư dân Nguyễn Văn Nam (50 tuổi) cùng vợ vận chuyển những con sứa khổng lồ lên bờ để bán cho cơ sở chế biến. Ông phấn khởi bảo: "Đây là chuyến thứ 2 trong ngày của tôi đấy, được khoảng hơn 2 tấn. Chuyến trước bán được hơn 3 triệu tiền sứa tươi. Giờ tôi phải quay ra làm thêm chuyến nữa vì lưới vẫn còn đang thả ngoài lộng. Với 3 chuyến trong ngày, dự kiến tôi thu về khoảng chục triệu".
Theo các ngư dân, mùa sứa thường bắt đầu từ tháng giêng đến hết tháng 4 âm lịch. Việc đánh bắt sứa khá đơn giản, không cần máy móc hiện đại, chỉ với những chiếc lưới mắt thưa và kinh nghiệm quan sát dòng chảy, mỗi ngày một ngư dân có thể đánh bắt được từ 2 - 6 tấn sứa. Với giá bán tại bãi dao động từ 1.000 - 2.000 đồng/kg sứa thô, mỗi chuyến đi biển ngắn ngủi vài tiếng đồng hồ cũng giúp người dân thu về tiền triệu.
"Mùa này sứa nhiều vô kể, cứ cập bờ là cầm chắc tiền triệu trong tay. Chỉ sợ không đủ sức thu hoạch thôi!", ngư dân Nguyễn Đình Hạnh (54 tuổi) hồ hởi nói.
Sứa lên bờ đến đâu, thương lái và các cơ sở chế biến chờ sẵn thu mua đến đó. Tại xã Đồng Tiến, một "công xưởng" dã chiến rộng chừng hơn 100 m2 mọc lên ngay sát mép biển, trở thành đại bản doanh của những "phu sứa" địa phương. Mùa này, xưởng sơ chế sứa của chị Nguyễn Thị Mai chưa bao giờ ngớt tiếng.
Bên trong, hơn 10 lao động, đa phần là phụ nữ, thoăn thoắt phân loại sản vật. Đôi tay của chị em cứ thế nhịp nhàng: chân sứa tách riêng, thân sứa được xẻ gọn thành từng miếng trắng trong, đều tăm tắp. Đang bóc tách từng thớ sứa một cách thuần thục, bà Ngô Thị Tín (53 tuổi) chia sẻ: "Cứ trúng mùa sứa là cả làng cùng vui. Không chỉ cánh đàn ông đi biển có tiền, mà chị em phụ nữ hay người già ở nhà cũng không hết việc".
Với bà Tín và nhiều lao động tại đây, mùa sứa chính là "mùa vàng" thu hoạch. "Cứ mỗi buổi thế này, chủ trả cho chúng tôi tiền công 500.000 đồng. Hôm nào sứa về trắng bãi, làm tăng ca, có khi đút túi cả triệu bạc như chơi", bà Tín phấn khởi nói thêm.
Đứng thu mua sứa cho ngư dân ngay tại xưởng, chị Mai bảo cái nghề làm sứa này cũng lắm công, cực nhọc vô cùng. Muốn miếng sứa giữ được cái chất giòn sần sật, mọng nước mà không nát, là một cuộc đua với thời gian. "Sứa vừa cập bờ là phải xử lý ngay. Sau công đoạn làm sạch nội tạng, sứa được cho vào những bể chứa khổng lồ, quậy đánh liên hồi để vắt bớt nước. Những thân sứa nhớt nhèo phải được rửa liên tục bằng nước biển mặn mòi mới dần săn lại được", chị Mai chỉ tay về phía những bể chứa lớn nói.
Nhìn con số 50 tấn sứa tươi chị thu mua mỗi ngày từ ngư dân, ít ai hình dung được tỷ lệ hao hụt rất lớn khi chế biến loài nhuyễn thể này. Chị Mai bấm đốt ngón tay: "Cứ 10 kg sứa tươi rói từ biển về, phân loại chán chê mới chắt bóp được đúng 1 kg thành phẩm". Với hàng chục tấn sứa được thu mua trong ngày, chị Mai phải thuê hơn 10 nhân công thời vụ làm việc luôn tay luôn chân để kịp giữ trọn cái vị thanh mát của biển trước khi sứa lên đường đến với bàn ăn của thực khách.
Sau khi rời khoang thuyền và qua sơ chế, sứa còn phải trải qua hành trình "lột xác" đầy công phu tại các cơ sở sản xuất đạt chuẩn OCOP.
Dẫn chúng tôi tham quan xưởng chế biến đạt chuẩn OCOP, ông Nguyễn Đình Dung, chủ một cơ sở có tiếng tại xã Đồng Tiến, ví von quy trình làm sứa chẳng khác nào một cuộc khổ luyện. Để có được miếng sứa trong veo, giòn sần sật, công đoạn đầu tiên là đưa sứa vào máy quay ly tâm, đánh liên tục suốt 8 tiếng đồng hồ. "Phải đánh ròng rã như thế mới loại bỏ sạch nhớt và tạp chất", ông Dung chia sẻ.
Sau khi "tắm" sạch, sứa được ngâm trong muối tinh để săn lại, rồi tiếp tục trải qua quy trình ngâm nước sôi để nguội khép kín. Cuối cùng, những miếng sứa đạt chuẩn được đóng hũ nhựa hoặc hút chân không, quyện cùng nước dùng gia vị đặc trưng từ ớt, tỏi cay nồng.
Với những người làm sứa OCOP như ông Dung, cái khó nhất không nằm ở máy móc mà ở sự nhạy bén của người thợ. "Cực nhất là khâu canh thời gian. Sứa ngâm từ 8 - 10 ngày mới gọi là chín. Chỉ cần quá tay một chút là sứa cứng quắt, mà thiếu một ngày thì bị bở, coi như hỏng cả mẻ. Ngay cả lượng muối tinh cũng phải được cân đo chuẩn xác để giữ được độ thanh, giòn mà không còn mùi tanh của biển", ông chủ dày dạn kinh nghiệm bộc bạch.
Ông Dung bảo trước đây, do sứa chỉ được xuất bán làm nguyên liệu thô, giá trị kinh tế không cao nên ngư dân chẳng mấy mặn mà. Trăn trở trước tình trạng đó, năm 2008, ông lặn lội ra các tỉnh phía bắc học nghề chế biến, sản xuất các sản phẩm từ sứa. Vài tháng sau, ông Dung về mở xưởng chế biến, mở ra hướng đi mới và giúp ngư dân yên tâm bám biển khi được thu mua với giá cao.
Đến năm 2020, để nâng tầm giá trị, xưởng chế biến sứa ép của ông Dung tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) và được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao. "Nếu như trước đây sứa ép của gia đình tôi chủ yếu bán ở các chợ thì giờ đây con sứa đã thực sự thoát khỏi ao làng, đàng hoàng tiến vào siêu thị và theo những chuyến xe đi xa, mang theo vị mặn mòi của biển miền Trung đến với thực khách cả nước. Nhiều năm nay, sứa của gia đình cũng đã xuất ngoại ra các thị trường như Đài Loan, Nhật Bản", ông Dung phấn khởi khoe.
Giữa xưởng chế biến lồng lộng gió biển, ông Dung cho hay mỗi kg sứa thành phẩm hiện có giá dao động từ 40.000 - 45.000 đồng. Trung bình mỗi năm, cơ sở của ông tung ra thị trường mấy chục tấn sứa, doanh thu đạt hàng tỉ đồng.
Giữa lúc kinh tế còn nhiều khó khăn, những mô hình kinh tế biển hiệu quả như của gia đình ông Dung đang góp phần thay đổi diện mạo làng chài, giúp người dân bám biển, bám nghề bền vững. (còn tiếp)
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/mua-loc-bien-nhung-khoang-thuyen-cho-vang-trang-ve-bo-185260407172739826.htm
Giải mã kiến trúc ngôi đền tưởng niệm liệt sĩ lớn nhất Việt Nam

Với vị thế "tựa sơn hướng thủy", Đền Bến Dược nằm phía thượng nguồn sông Sài Gòn. Khác với vẻ lộng lẫy của những khối bê tông ở hạ nguồn, công trình này là sự kết tinh từ trái tim và trí tuệ của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP.HCM cùng đội ngũ trí thức, nghệ nhân tâm huyết.
Được khởi công vào dịp 103 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1993), Đền Bến Dược mang sức nặng của lời tri ân. Đó là nơi hơn 45.000 người con từ khắp mọi miền ngã xuống vì nền độc lập của mảnh đất Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ.
Ấn tượng về kiến trúc của Đền Bến Dược không nằm ở sự đồ sộ, mà ở trục đường thẳng tắp, dẫn bước người thăm đi qua từng lớp không gian. Mỗi điểm dừng là một nấc cảm xúc của hành trình tưởng niệm: từ tam quan, nhà văn bia, đến tháp chín tầng, đền chính...
Từ cổng Tam quan, người viếng đi qua Nhà văn bia với khối đá Ngũ Hành Sơn nặng 3,7 tấn. Tại đây, bài văn tế Đời đời ghi nhớ của nhà thơ Viễn Phương khắc trên đá như lời nhắc nhở lặng lẽ: "Chiến thắng lớn từ hy sinh to lớn - Ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường?".
Chính lời thơ ấy khiến bước chân chúng tôi chậm lại để suy ngẫm trước khi tiến sâu hơn vào trung tâm của khu tưởng niệm. Đường thẳng này không chỉ là lối đi của kiến trúc, mà còn là hành trình đi vào ký ức, nơi mỗi bước chân là một lần đối diện với sự hy sinh.
Vượt qua khoảng sân rộng là tòa tháp chín tầng cao 39 m vươn mình giữa khuôn viên Đền Bến Dược. Phóng mắt từ đỉnh tháp, ngôi đền nép mình bên dòng sông hiền hòa như chưa từng đi qua khói lửa. Nhờ kiến trúc mở, gió sông Sài Gòn có thể lồng lộng thổi vào từng ngóc ngách, giữ cho không gian luôn thông thoáng.
Bên cạnh đó là đền chính, được bố trí theo kiến trúc hình chữ U. Ở vị trí trung tâm là tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh; xung quanh là 3 mặt tường khắc 45.666 tên các anh hùng liệt sĩ. Hình chữ U như vòng tay lớn, bao bọc những người lính đã về với đất mẹ. Trong số đó, hơn 14.000 người con từ hàng chục tỉnh, thành khác đã nằm lại đất này.
Điểm kết của hành trình tưởng niệm là biểu tượng "Hồn thiêng đất nước" cao 16 m, nặng 243 tấn bằng đá granit. Ở khoảng cách gần, công trình mang dáng dấp giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhưng lùi ra xa, giọt nước mắt bỗng hóa thành ngọn bút sừng sững, kiên nhẫn viết tiếp những trang sử vàng của dân tộc lên nền trời xanh thẳm Củ Chi.
"Làm sao để đưa hơn 45.000 cái tên vào 3 bức tường của đền chính, mà người đời sau vẫn đọc rõ từng quê quán, đơn vị?".
Câu hỏi hóc búa đó đã theo kiến trúc sư Khương Văn Mười (nguyên Phó chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam) suốt những năm tháng thiết kế Đền Bến Dược, một công trình của những "lần đầu tiên".
Trong ký ức của kiến trúc sư Khương Văn Mười, thiết kế Đền Bến Dược là hành trình vượt khó đúng nghĩa. Giữa lúc tư liệu về kiến trúc cổ miền Nam còn khan hiếm, vật liệu xây dựng thiếu thốn khi phải đặt tận Bình Dương, ông cùng các cộng sự đã phải "vừa vẽ, vừa mò mẫm" dưới sự góp ý sát sao của các bậc lão thành cách mạng.
"Lúc đó khó lắm, đền không thể làm quá to, mà chữ phải đủ lớn để đứng dưới nhìn lên vẫn đọc được. Nếu làm chữ lớn thì chỉ ghi được hơn chục ngàn tên là hết chỗ", kiến trúc sư Khương Văn Mười chia sẻ.
Những ngày ấy, chiếc xe cũ của ông Mười gần như chạy liên tục giữa trung tâm thành phố và công trường. Đường xa, nhiên liệu thiếu, nhưng các cuộc thảo luận về việc đưa đất thiêng từ Điện Biên Phủ, Trường Sơn về hội tụ; về việc bố trí vị trí trang trọng nhất cho các mẹ Việt Nam anh hùng gần bàn thờ Bác Hồ thì chưa bao giờ dừng.
Cuối cùng, họ cũng tìm thấy câu trả lời cho bài toán hóc búa: thiết kế vách bia giật cấp 8 tầng. Thay vì một mặt phẳng gây ngộp, vách đá được chia thành các lớp so le chồng lên nhau. Cách làm này vừa giúp bao quát được tầm mắt, vừa tận dụng tối đa không gian sát trần nhà.
Chính lối xếp giật cấp này đã tạo ra hiệu ứng thị giác "vô tận". Ở góc nghiêng, các tấm bia trông như những lớp sóng đá chạy dài hút mắt. Hệ thống đèn âm được giấu khéo léo ở các khe giật, rọi ngược từ dưới lên.
Lúc này, chúng tôi không thấy sự nặng nề của những bức tường đá, mà là hàng vạn đốm sáng như những vì sao đêm. Sự sắp xếp ấy buộc người ta phải ngước nhìn, tạo ra tâm thế cung kính tự nhiên.
Khi ngồi nhìn lại công trình mang tính bước ngoặt của đời mình, kiến trúc sư Khương Văn Mười chỉ có một nỗi nuối tiếc: "Hồi đó mải làm quá, gặp gỡ toàn những người nổi tiếng, những bậc tiền bối tâm huyết mà không chụp lại được tấm ảnh nào làm kỷ niệm".
Nhưng có lẽ, nụ cười nghẹn ngào của những người ở lại khi nhìn tên người thân mình trên bia đá chính là "tấm ảnh" giá trị nhất mà ông Mười đã lưu giữ được.
Gần 30 năm, Đền Bến Dược vẫn nằm lặng lẽ giữa khu di tích anh hùng, ôm theo nghĩa tình sâu nặng được gửi gắm trong từng ý tứ của tiền nhân.
Không chỉ là nơi lưu giữ ký ức, nơi đây còn trở thành điểm chạm để những thế hệ hôm nay tìm về, lắng nghe và thấu hiểu quá khứ.
Cô Ngô Thị Đan Phượng, giáo viên Trường THCS Trần Huy Liệu, chia sẻ rằng đến tham quan và tìm hiểu Đền Bến Dược là dịp để các em học sinh chạm vào chiều sâu lịch sử.
"Tôi mong các em lắng lại để cảm nhận những mất mát, hy sinh của các anh hùng liệt sĩ. Từ đó, mỗi em sẽ tự soi lại mình, nhận ra trách nhiệm trong việc gìn giữ, bảo vệ và góp phần xây dựng đất nước hôm nay và mai sau", cô Phượng nói.
Giờ đây, khi những chuyến xe buýt đường thủy đưa du khách ngược dòng Sài Gòn, Đền tưởng niệm Bến Dược không còn là điểm đến xa xôi. Ngôi đèn này đã trở thành một phần không thể tách rời trong mạch sống của TP.HCM.




