Mục Lục
ToggleTrung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia (NCHMF) ghi nhận mức nhiệt độ cao kỷ lục kể từ đầu mùa nắng nóng đến nay là 41,9 độ C tại Tây Hiếu (Nghệ An) vào trưa 7.4. Ngoài ra còn có 11 trạm quan trắc khác ở các tỉnh Sơn La, Phú Thọ, Nghệ An và Hà Tĩnh ghi nhận mức nhiệt vượt ngưỡng 40 độ C.
Nguyên nhân do vùng áp thấp nóng Ấn – Miến ở phía tây hoạt động mạnh, mở rộng về phía đông và đông nam ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta. Trên cao, áp cao cận nhiệt đới có trục qua khu vực Trung bộ lấn tây và hoạt động với cường độ mạnh hơn.
Th.S Lê Thị Xuân Lan, chuyên gia khí tượng thủy văn nói: “Năm nay, nắng nóng bất thường ở 2 điểm. Thứ nhất, mùa nắng nóng đến sớm hơn trung bình nhiều năm khoảng 1 tháng. Thứ hai, cường độ nắng nóng cao bất ngờ dù mới đầu mùa. Thường các năm, vào cuối tháng 4 mới xuất hiện mức nhiệt 39 – 40 độ C, năm nay ngay đầu mùa đã vượt ngưỡng”.
Cụ thể, ở Nghệ An, nơi ghi nhận mức nhiệt cao nhất trong đợt nắng nóng hiện tại gần 42 độ C. Lịch sử nhiệt cao nhất trong tháng 4 ở Nghệ An thường xuất hiện vào cuối tháng, như tại Vinh là 41,5 độ C ghi nhận vào ngày 27.4.2024. Bên cạnh đó, một số trạm đo khác trên địa bàn tỉnh Nghệ An như Tương Dương, Quỳnh Lưu, Tây Hiếu cũng xuất hiện mức nhiệt 42 – 43 độ C vào cuối tháng 4.2024. Năm 2024 là năm xuất hiện El Nino cường độ mạnh và cũng là năm mà nhiệt độ trái đất ấm nhất trong lịch sử, còn giai đoạn hiện tại của năm 2026 đang là ENSO trung tính.
Tình trạng nắng nóng gay gắt tiếp tục kéo dài trong vài ngày tới. Đến khoảng ngày 13.4, cường độ áp thấp nóng phía tây và áp cao cận nhiệt đới ở trên cao suy yếu dần và nhiệt độ nhiều nơi trên cả nước bắt đầu giảm.
Tại TP.HCM và Nam bộ, tuy nhiệt độ phổ biến từ 35 – 38 độ C (thấp hơn các tỉnh miền Trung) nhưng cảm giác rất nóng và oi bức vì thời gian nắng trong ngày kéo dài. Bên cạnh đó, gió tây nam ở tầng thấp đem đến luồng hơi nước trong không khí tạo thêm cảm giác nóng bức. “Khả năng vào cuối tuần này và đầu tuần sau, TP.HCM và Nam bộ có thể xuất hiện mưa trái mùa cục bộ một số nơi do mây giông nhiệt phát triển mạnh. Cảnh báo, sau chuỗi ngày nắng nóng gay gắt kéo dài mưa trái mùa xuất hiện thường kèm theo các hình thế thời tiết cực đoan như giông, sét, mưa đá, gió giật mạnh… Người dân cần hết sức chú ý phòng tránh các hiện tượng thời tiết nguy hiểm”, bà Lan dự báo.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/dot-nang-nong-42-do-c-khi-nao-ket-thuc-185260408095305037.htm
TP.HCM thiếu vật liệu xây dựng trầm trọng

Cụ thể, đối với đá xây dựng nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3.
Trong khi cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3.
Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3, thiếu đến 25,96 triệu m3.
Đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trước tình trạng này, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM đưa ra hàng loạt giải pháp.
Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất được hơn 7 triệu m3, vượt nhu cầu.
Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ nạo vét 22 hồ của thành phố.
Đối với 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu, Sở đưa ra bốn giải pháp: 2,3 triệu m3 nạo vét tuyến sông Sài Gòn - Đồng Nai, 0,56 triệu m3 từ Sông Thị Tính, 5,1 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại Hồ Sông Ray, 18 triệu m3 từ đẩy nhanh tiến độ nạo vét tận thu tại 22 hồ.
Giải pháp khác được đưa thay thế là xay đá, rửa cát biển.
Đối với 11 triệu m3 đất san lấp, Sở Nông nghiệp và Môi trường đưa ra hai giải pháp là cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 4 cho 16 khu đất, thu hồi khoáng sản từ các công trình hầm như metro, công trình hầm...
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu.
Qua kiểm tra thực tế, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Toàn Thắng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM có cơ chế đối với việc đề xuất nâng công suất khai thác mỏ.
Đối với các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, thành phố có cơ chế về giá và thanh toán nhằm tạo điều kiện để chủ đầu tư được thanh toán khối lượng vật liệu mua trước.
Bên cạnh đó, chấn chỉnh tình trạng nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Theo phản ánh của một số chủ mỏ, thực tế vẫn còn phát sinh trường hợp nhà thầu thi công đề nghị nâng giá hóa đơn mua vật liệu. Do đó, đề nghị các chủ đầu tư tăng cường chấn chỉnh, quản lý các nhà thầu thi công, bảo đảm việc mua bán vật liệu xây dựng đúng giá thực tế, đúng quy định pháp luật, tuyệt đối không để xảy ra việc nâng khống giá vật liệu hoặc các hành vi tiêu cực liên quan.
Tương tự, chấn chỉnh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được. Cụ thể, một số công trình sau khi nhà thầu trúng thầu với đơn giá vật liệu thấp không ưu tiên sử dụng vật liệu từ các mỏ xa do phát sinh chi phí vận chuyển. Đồng thời từ chối mua ở các mỏ xa với lý do không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mặc dù các mỏ này vẫn đáp ứng yêu cầu và đang cung cấp cho nhiều dự án vốn ngân sách khác. Việc này dẫn đến tập trung nhu cầu vào một số mỏ gần gây mất cân đối cung - cầu cục bộ.
Do vậy đề nghị nhà thầu chịu trách nhiệm đối với đơn giá đã chào thầu, tính toán đầy đủ chi phí vật liệu; tránh tình trạng bỏ giá thấp để trúng thầu nhưng khi triển khai không thực hiện được, gây áp lực lên nguồn cung vật liệu xây dựng trên thị trường.
Có cơ chế tháo gỡ đối với phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm. Cho phép chủ mỏ được bán thương mại phần sản phẩm phụ phát sinh trong quá trình khai thác theo cơ chế đặc thù nhưng không sử dụng được cho công trình vốn ngân sách, công trình trọng điểm.
Có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỉ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của thành phố, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Nguồn vật liệu tăng thêm từ việc "mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách" được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của thành phố. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Đối với các dự án đầu tư tư nhân thuộc công trình trọng điểm của thành phố, cho chủ trương được áp dụng cơ chế đặc thù về vật liệu xây dựng để cấp trực tiếp các mỏ vật liệu cho chủ đầu tư, nhà thầu thi công, được nâng công suất để phục vụ cho các dự án...
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/tphcm-thieu-vat-lieu-xay-dung-tram-trong-185260407164333667.htm
Giá vàng lình xình, liệu có thể quay lại vùng đỉnh 5.600 USD/ounce?

Từ đầu năm tới nay, giá vàng thế giới biến động trồi sụt rất khó lường. Đầu năm, giá vàng tăng vọt lên mức cao nhất vào ngày 29.1 là gần 5.600 USD/ounce. Đầu tháng 3, giá vàng dao động 5.200 - 5.400 USD/ounce, sau đó có tăng, có giảm, xu hướng giảm là chính.
Giá vàng dần "thủng" các ngưỡng kháng cự quan trọng như 5.000 USD/ounce, 4.500 USD/ounce, thấp nhất ngày 23.3, có thời điểm ghi nhận giá dưới 4.200 USD/ounce.
Từ cú giảm sâu đó tới nay, giá vàng lình xình có lên, có xuống, song không quay lại mức 5.000 USD/ounce, cao nhất khoảng 4.800 USD/oune. Giá vàng đóng cửa tuần này ở 4.676 USD/ounce.
Nhìn lại lịch sử thị trường vàng, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, có thể nhận diện một số chu kỳ điển hình "tăng đỉnh - sập sâu - đi ngang kéo dài".
Đợt thứ nhất là sau đỉnh năm 1980. Vàng khi đó tăng mạnh do lạm phát cao và bất ổn địa chính trị, nhưng bước ngoặt đến khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thực hiện chính sách thắt chặt quyết liệt, đẩy lãi suất lên mức rất cao. Kết quả, vàng sụp đổ mạnh, bước vào giai đoạn "ngủ đông" kéo dài gần 2 thập kỷ, đến đầu những năm 2000 mới thực sự hồi phục.
Đợt thứ hai là chu kỳ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Vàng đạt đỉnh lịch sử năm 2011 nhờ các gói nới lỏng định lượng (QE) và lãi suất thấp kéo dài.
Tuy nhiên, từ năm 2013, khi Fed phát tín hiệu thu hẹp QE, thị trường đảo chiều mạnh, vàng giảm sâu và mất khoảng 30 - 40% giá trị trong vòng vài năm, sau đó đi ngang tích lũy khá dài trước khi bước vào chu kỳ tăng mới.
Đợt thứ ba mang tính ngắn hạn hơn là giai đoạn 2020 - 2022. Sau khi đạt đỉnh trong đại dịch Covid-19 nhờ chính sách tiền tệ siêu nới lỏng, vàng nhanh chóng điều chỉnh khi lạm phát tăng cao buộc các ngân hàng T.Ư quay lại chu kỳ thắt chặt. Dù mức giảm không kéo dài hàng thập kỷ, nhưng vẫn cho thấy rõ tính nhạy cảm của vàng với lãi suất thực.
"Điểm chung của các chu kỳ này là vàng thường đạt đỉnh khi chính sách tiền tệ ở trạng thái nới lỏng cực độ, và sụt giảm khi chu kỳ thắt chặt bắt đầu. Sau cú sốc giảm, thị trường thường bước vào giai đoạn tích lũy dài do thiếu động lực tăng mới", ông Nhân nói.
Các đợt "sập giá" của vàng luôn có một số điểm tương đồng mang tính quy luật, nhưng bối cảnh hiện nay xuất hiện những khác biệt đáng lưu ý.
Vai trò của các ngân hàng T.Ư trong việc mua ròng vàng đang lớn hơn nhiều so với các chu kỳ trước, tạo ra lực đỡ dài hạn.
Cạnh đó, thế giới đang bước vào giai đoạn phân mảnh tài chính và xu hướng giảm phụ thuộc vào USD, khiến vàng tiếp tục được coi là tài sản dự trữ chiến lược, chứ không đơn thuần là công cụ đầu cơ.
Rủi ro địa chính trị hiện nay mang tính kéo dài, khó dự báo hơn, làm cho nhu cầu phòng ngừa rủi ro chưa thể suy giảm hoàn toàn.
"Kịch bản giá vàng sập sâu và đi ngang như sau năm 1980 hoàn toàn có thể lặp lại về mặt ngắn hạn hoặc trung hạn nếu lãi suất duy trì cao lâu hơn dự kiến. Tuy nhiên, xác suất xuất hiện một chu kỳ suy giảm kéo dài hàng thập kỷ thấp hơn, bởi nền tảng cầu của vàng hiện đã đa dạng, bền vững hơn", ông Nhân dự báo.
Về trung và dài hạn, theo ông Nhân, yếu tố chi phối mang tính quyết định tới giá vàng vẫn là chính sách của Fed.
Diễn biến gần đây cho thấy, khi lạm phát còn dai dẳng, Fed có xu hướng duy trì lãi suất cao hơn kỳ vọng, làm tăng lợi suất thực và gây áp lực lên vàng. Ngược lại, nếu chu kỳ nới lỏng quay trở lại vào cuối năm 2026, đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp vàng phục hồi. Các yếu tố hỗ trợ vàng dài hạn vẫn hiện hữu.
Đa số tổ chức lớn đang đưa ra vùng dự báo khá rộng cho năm 2026. Kịch bản cơ sở, giá vàng dao động quanh 4.000 - 5.000 USD/ounce; trong khi các kịch bản tích cực hơn có thể hướng tới 5.400 - 6.000 USD nếu xuất hiện chu kỳ giảm lãi suất và rủi ro địa chính trị leo thang. Ngược lại, nếu lãi suất duy trì cao kéo dài, vùng 3.800 - 4.200 USD sẽ đóng vai trò đáy cân bằng.
"Tóm lại, vàng vẫn được hỗ trợ trong dài hạn nhưng biên độ biến động sẽ lớn hơn, phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ chính sách tiền tệ. Kịch bản lập đỉnh mới trong năm 2026 là khả thi, nhưng không còn mang tính một chiều như giai đoạn 2024 - 2025", ông Nhân nhận định.
TS Đào Lê Trang Anh, giảng viên cao cấp ngành tài chính (Đại học RMIT Việt Nam), cũng cho rằng, về dài hạn, các nền tảng hỗ trợ cho vàng vẫn còn, bao gồm bất ổn địa chính trị, rủi ro nợ công toàn cầu, nhu cầu đa dạng hóa dự trữ của ngân hàng T.Ư và vai trò phòng ngừa rủi ro hệ thống của vàng trong danh mục đầu tư.
"Năm nay, mặt bằng dự báo hiện khá phân hóa. Kịch bản thận trọng đặt vùng giá xoay quanh 4.600 - 5.000 USD/ounce. Trong kịch bản các rủi ro vĩ mô và chính sách tiếp tục hiện hữu, giá vàng hoàn toàn có thể kiểm định các vùng đỉnh mới. Vùng giá tiềm năng được nhiều nhà phân tích nhắc tới quanh 5.500 - 6.200 USD/ounce, dù biến động sẽ còn rất lớn", bà Trang Anh nói.
Lãi vay mua nhà tiếp tục tăng

Ngày 8.4, khảo sát một số ngân hàng (NH) tại TP.HCM cho thấy lãi suất (LS) cho vay mua bất động sản (BĐS) nói chung, mua nhà nói riêng tiếp tục neo cao, một số NH vừa nâng thêm LS từ đầu tháng 4. Có một điểm khác biệt là LS cho vay của nhóm 4 (Big 4) NH thương mại cổ phần (TMCP) nhà nước hiện đã lên bằng, thậm chí cao hơn các NH TMCP. Tại một chi nhánh của NH BIDV, nhân viên tư vấn cho biết hiện LS cho vay mua BĐS là 11%/năm và chốt cố định 12 tháng; sau đó LS được tính bằng lãi suất tiết kiệm NH công bố kỳ hạn 24 tháng cộng thêm biên độ 5%. Như vậy nếu so với giữa tháng 3, LS cho vay mua BĐS của BIDV đã tăng thêm khoảng 1%/năm.
Tại Vietcombank, nhân viên cho hay NH đang áp dụng LS 9,6%/năm đối với gói vay cố định 6 tháng, lên 10,5%/năm nếu cố định trong 12 tháng đầu tiên. Sau thời gian cố định, LS thả nổi được tính bằng LS tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng của NH này cộng 3,3% nhưng không thấp hơn LS sàn (hiện nay LS sàn của Vietcombank là 11,1%/năm). Theo thông báo mới nhất, VietinBank cũng nâng LS vay mua BĐS cố định trong 24 tháng đầu lên hơn 12% mỗi năm và sau đó thả nổi nhưng không thấp hơn LS cho vay sàn của NH này là 14%/năm. Tương tự, nhân viên một chi nhánh Agribank tại TP.HCM cũng thông tin LS cho vay BĐS hiện đã lên sát 10%/năm nhưng chỉ chốt cố định trong vòng 1 năm… Như vậy, LS cho cá nhân vay mua BĐS tại nhóm NH Big 4 đã tăng cao gần gấp đôi so với mức từ 6 - 6,5%/năm của một năm trước.
Đáng chú ý, không chỉ tăng cao mà một số NH cũng khá dè dặt khi tư vấn cho khách hàng có nhu cầu vay mua nhà. Nhân viên chi nhánh BIDV nói thẳng, nếu khách hàng thế chấp nhà đang ở thì có thể làm hợp đồng dạng vay tiêu dùng với LS 10%/năm và hồ sơ sẽ được phê duyệt nhanh hơn. Nhân viên Agribank cũng không mấy mặn mà khi được hỏi về gói vay mua nhà và cũng thông báo, hiện hồ sơ xét duyệt chậm hơn trước nên có thể phải chờ…
Trong khi đó, LS tại một số NH TMCP cũng đã vượt 12%/năm sau thời gian ưu đãi ban đầu. Chẳng hạn, NH TMCP Phương Đông áp dụng LS cho vay 10,75%/năm chốt trong 6 tháng đầu và sau đó bằng LS cơ sở cộng 3,25%; hoặc LS 11,5%/năm trong vòng 12 tháng đầu tiên và sau đó tính bằng LS cơ sở cộng 3,5%. Trong đó, LS cơ sở của NH này được tính là LS cơ sở kỳ hạn 13 tháng ban hành từng thời kỳ. Tại NH TMCP Quốc tế (VIB), LS cho vay mua nhà dao động từ 9,5 - 12%/năm (tuỳ theo thời gian ưu đãi cố định từ 6 - 12 tháng). Sau thời gian ưu đãi, LS được tính theo LS cơ sở ban hành theo thời kỳ cộng biên độ cố định 3%. Giả sử khách hàng chọn LS 10,5%/năm cho thời gian chốt cố định 12 tháng thì sau khi thả nổi sẽ lên sát 13%/năm; nếu chọn mức LS 12%/năm thì sau đó LS sẽ lên đến 15%/năm sau 2 năm.
Tương tự, Techcombank công bố LS cho vay mới mua nhà là 9,5%/năm và cố định trong 12 tháng đầu tiên; sau đó LS được tính bằng LS tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng của chính NH cộng biên độ 3,5%... Những NH TMCP nêu trên đều cho biết vẫn nhận hồ sơ vay của khách hàng cá nhân thông thường và thời gian giải ngân chỉ giải quyết trong vòng 1 tuần.
Không chỉ LS cho vay mới tăng cao, những khách hàng vay cũ cũng đang sốt ruột với việc điều chỉnh lãi vay. Anh Trung ở P.Tân Thuận (Q.7 cũ), TP.HCM, đang có hợp đồng vay mua căn hộ được 3 năm tại một NH TMCP. Chỉ sau năm đầu tiên áp dụng LS gần 10%/năm thì sau đó LS thả nổi và điều chỉnh 3 tháng một lần. Năm 2025, LS anh phải trả dao động chỉ khoảng 11,6 - 11,8%/năm. Mới nhất từ đầu tháng 4, LS của anh được thông báo lên 13,6%/năm. Vì thế, chỉ riêng tiền lãi anh phải trả lên gần 13 triệu đồng/tháng, cao hơn thời điểm đầu năm 1 triệu đồng/tháng. "Hợp đồng vay đến 15 năm nên cứ nghe LS tăng cao là thót tim. Mỗi lần điều chỉnh lên là phải "bóp mồm bóp miệng" để trả lãi đúng hạn cho NH", anh Trung nói.
Tương tự, chị Thu Hương (Q.Tân Phú cũ), TP.HCM, cũng có hợp đồng cũ vay mua nhà đã hơn 4 năm, cuối tháng 3 vừa rồi cũng bị điều chỉnh LS lên 14%/năm từ mức 12%/năm trước đó. Như vậy dù nợ gốc đã giảm dần thì tổng số tiền hằng tháng chị thanh toán cũng không giảm đi so với cuối năm 2025 do tiền lãi gia tăng.
Trong khi đó, chị V.K tại P.Tân Định (Q.1 cũ), TP.HCM, cũng đang nơm nớp lo khi hợp đồng vay sắp hết thời gian ưu đãi. Chị chia sẻ hợp đồng vay mua nhà của chị tại BIDV trước đây với LS 6,5%/năm cố định trong 18 tháng. Đến tháng 6 này sẽ hết thời gian ưu đãi thì LS trong hợp đồng ghi rõ sẽ được điều chỉnh bằng LS tiết kiệm của NH cộng biên độ 4%. Hiện nay LS tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng của BIDV niêm yết là 6,5%/năm thì đến kỳ điều chỉnh, LS của chị V.K sẽ tăng lên 10,5%/năm. Thế nhưng thực tế LS có thể còn cao hơn vì chưa rõ NH tính thế nào. "Mấy hôm nay nghe LS tiết kiệm lên cao rồi LS cho vay cũng tăng mạnh là tôi ngán vì thế nào LS của mình cũng bị điều chỉnh tăng theo. Nhà tôi đang tính toán gom tiền hết mức có thể, kể cả vay mượn anh chị em thêm một thời gian ngắn để đến lúc đó thanh toán bớt phần gốc càng nhiều càng tốt. Vì chỉ trả bình thường thì riêng phần lãi đã tăng mạnh so với thời gian trước đây", chị V.K chia sẻ.
Trả lời thắc mắc khi người viết hỏi vì sao LS cho vay tăng cao, nhân viên tín dụng các NH đều cho rằng do LS tiết kiệm đã bị đẩy lên liên tục nên đầu ra cũng phải lên theo. Hơn nữa, chính sách của NH Nhà nước cũng đưa ra thông điệp kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng BĐS trong năm 2026 không vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn ngành (khoảng 15%/năm). Vì vậy một số NH không còn nhiều quota giải ngân cho vay BĐS.
Bên cạnh đó, tình trạng thanh khoản của các NH cũng chưa khả quan khi lượng tiền huy động vẫn thấp hơn lượng tiền cho vay trong thời gian qua. Theo báo cáo tình hình KT-XH quý 1/2026 của Cục Thống kê, đến ngày 24.3, tổng phương tiện thanh toán tăng 1,04% so với cuối năm 2025, thấp hơn mức 1,89% của cùng kỳ năm trước. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 0,44%, giảm mạnh so với 1,23% cùng kỳ năm 2025. Ngược lại, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 2,15%, gần bằng mức 2,28% của quý 1/2025. Điều này khiến LS huy động vẫn được đẩy lên cao, kéo theo LS cho vay nói chung, mua nhà nói riêng đi lên.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/lai-vay-mua-nha-tiep-tuc-tang-185260408211411852.htm




