Vào các group xe buýt trên Facebook, nhiều người cũng như tác giả bài “Xe buýt, vấn đề không ở giá vé” lo ngại đi xe buýt trả tiền thỉnh thoảng còn gặp rắc rối, xe buýt miễn phí thì liệu sẽ như thế nào đây?
Theo kinh nghiệm đi xe buýt thường xuyên của tôi thì giá vé không phải là lý do quan trọng để người dân chọn đi xe buýt hay phương tiện cá nhân bởi hiện giờ mức giá vé thường hiện nay 5.000-7.000 đồng mỗi lượt; học sinh sinh viên còn 3.000 đồng, người trên 60 tuổi miễn phí vé.
Mỗi ngày tôi đi ít nhất hai tuyến xe buýt, thường là tôi đi 4 chuyến, bởi qua hai chặng xe mới về tới nhà. Còn hôm nào đi lên xuống trung tâm thành phố hai lần thì tôi sẽ đi 6 chuyến, bởi nhà tôi ở ngoại thành cách trung tâm 14 km.
Tôi có vài ý kiến sau đây:Thứ nhất, cần tiến hành khảo sát thực tế hệ thống điểm dừng xe buýt, do hiện nay vẫn tồn tại nhiều vị trí đón trả khách đặt trên các khu đất trống, không có địa chỉ xác định và thiếu trụ biển báo cho người dân nhận biết.
Tên các trạm không khớp với vị trí thực tế thí dụ như trạm đường 655 thực ra ở mặt tiền đường Đỗ Xuân Hợp, trạm khu quản lý giao thông đô thị số 2 thực ra là metro Bình Thái và gần trạm xe buýt 163, 162. Trạm xe 172 thì ghi là tên trạm là chung cư New City với địa chỉ gốc cây số 372 thì làm sao người dân tìm ra trong khi địa chỉ chính xác là số 388 Mai Chí Thọ không phải là chung cư.
Đa số các trạm khu vực ngoài thành ở nơi trống, người dân đứng đón xe chờ 5 đến 20 phút dưới ánh nắng gay gắt. Trong nội thành, bởi tuyến đường một chiều nhiều, thí dụ xuống trạm ở đường Nguyễn Đình Chiểu nhưng về phải đến trạm ở đường Điện Biên Phủ cách rất xa.
Thứ hai, cần phá vỡ mạng lưới hướng tâm mà đa số tuyến xe đều tập trung về Bến Thành. Mở rộng mạng lưới xe buýt linh hoạt, giảm bớt nhiều tuyến chồng chéo, thiếu trung chuyển liên kết giữa các trạm xe và tuyến xe.
Thí dụ như Trạm ngã tư Bình Thái là trạm lớn mà rất nhiều tuyến xe đi qua nếu người dân cần vào trung tâm, tuy nhiên, không có xe trung chuyển tới trạm này mà chỉ dừng bên kia đường, người dân không thể băng qua xa lộ (đường Võ Nguyên Giáp trước đây là Xa lộ Hà Nội) rất nguy hiểm mà đa số phải nhờ người thân chở ra hoặc đi xe công nghệ ra.
Tuyến xe đi từ Thủ Đức sang Tân Phú, Bình Tân (cũ) không có, phải đi 2-3 chặng. Hoàn toàn không có tuyến đi sang Phú Mỹ Hưng mà bắt buộc phải đi xe buýt tới Bến Thành rồi mới có xe sang quận 7 cũ.
Một người bạn của tôi thường mỗi tuần vài lần phải chạy xe máy khoảng một tiếng rưỡi từ Phú Mỹ Hưng đến Lê Văn Việt (quận 9 cũ), nếu đi phương tiện công cộng thì bạn ấy phải đi xe máy hoặc bắt xe buýt đến metro Bến Thành, đi Metro đến ngã tư Thủ Đức, rồi đi xe buýt 172 mới đến nơi.
Thứ ba, cần tăng cường tuyến xe buýt và trạm dừng ở những địa điểm quan trọng cần thu hút người dân như đường sách Thủ Đức, đường sách TP HCM, các bảo tàng, trung tâm triển lãm…
Tăng thêm nhiều tuyến xe buýt phủ các tuyến đường bởi vì có rất nhiều điểm đến không có tuyến xe buýt hoặc đi mất thời gian vì phải đổi 3-4 chuyến mới tới nơi.
Nếu đi xe máy chỉ tốn khoảng 20-30 phút thì đổi vài chuyến xe lòng vòng mất hơn một tiếng đồng hồ, lại phải đi bộ tìm trạm xe.
Một số tuyến thì ngắn quá, cần mở rộng hơn như tuyến 163, 162 lộ trình chưa bao phủ hết các phường do đó thường xuyên xe chạy không có khách. Những tuyến này cần ghé các khu chung cư để người dân thuận tiện đón xe.
Thứ tư, cần dán đầy đủ lộ trình tuyến và danh sách cụ thể các điểm dừng (kèm địa chỉ rõ ràng) bên trong xe buýt, đồng thời hiển thị cả ở bên ngoài xe để người dân dễ nhận biết.
Những thông tin này sẽ giúp hành khách chủ động theo dõi hành trình, lên xuống đúng trạm, hạn chế tình trạng xuống nhầm điểm hoặc phải hỏi tài xế, tiếp viên.
Hiện nay, nhiều xe buýt chưa thực hiện tốt việc hiển thị lộ trình cả bên trong lẫn bên ngoài, gây bất tiện cho người sử dụng, đặc biệt là người mới đi lần đầu hoặc khách vãng lai.Thứ năm, tăng cường số chuyến xe nhiều hơn đảm bảo đúng lịch trình, chúng tôi từng đứng chờ hơn một tiếng đồng hồ chuyến xe mà theo tổng đài và thông tin ở trạm là sẽ có mà đợi hoài do không đủ xe buýt để chạy quay vòng.
Nếu như mạng lưới xe buýt phủ đa dạng hơn khắp thành phố đã mở rộng và có sự liên kết cho người dân thuận tiện đón xe, sang xe thì tạo nên thói quen sử dụng xe công cộng.
Tôi nghĩ với kinh phí ngân sách nghìn tỷ đồng tập trung để cải thiện, nâng cấp tốt hơn chất lượng dịch vụ thì tự nhiên sẽ có nhiều khách tin cậy chọn xe buýt.
Thứ hai đầu tuần vừa rồi, tôi ghé vào một quán phở quen trong khu phố. Quán nhỏ, sạch sẽ, khách ra vào đều đặn. Mọi chuyện vẫn bình thường cho đến khi một vị khách yêu cầu chủ quán cho thêm túi nilon để đựng bát phở mang về cho đỡ đổ. Chủ quán nhẹ nhàng giải thích rằng quán đang hạn chế sử dụng túi nilon, thay vào đó dùng hộp giấy và khuyến khích khách mang theo túi cá nhân.
Tưởng như chỉ là một lời từ chối đơn giản, nhưng câu chuyện lại kéo dài thành một cuộc cãi vã suốt gần 30 phút. Vị khách lớn tiếng cho rằng mình là người trả tiền, có quyền yêu cầu thêm túi đựng. Còn chủ quán cố gắng giải thích về việc giảm rác thải nhựa, mong muốn góp phần bảo vệ môi trường. Không ai chịu nhường ai.
Những thực khách xung quanh, trong đó có tôi, chỉ biết im lặng quan sát. Khi bước ra khỏi quán, trong tôi là một nỗi trăn trở: từ bao giờ túi nilon lại trở thành "vật bất ly thân" đến mức người ta sẵn sàng tranh cãi gay gắt chỉ vì không được phát thêm một chiếc túi?
Câu chuyện ấy không phải là cá biệt. Trong đời sống hằng ngày, túi nilon hiện diện ở khắp nơi: chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, quán ăn vỉa hè. Mua mớ rau có túi nilon, mua cốc nước cũng có túi nilon, mua vài chiếc bánh cũng được bọc trong hai, ba lớp túi. Thậm chí, nhiều người có thói quen xin thêm túi "cho chắc", "cho khỏi đổ", "cho sạch sẽ". Dần dần, túi nilon trở thành một phần quen thuộc đến mức ít ai đặt câu hỏi: chúng ta thực sự cần bao nhiêu túi cho một ngày?
Sự tiện lợi của túi nilon là điều không thể phủ nhận. Nhẹ, rẻ, chống nước, dễ sử dụng - đó là những ưu điểm khiến nó được ưa chuộng. Với người bán hàng, túi nilon giúp đóng gói nhanh chóng, tiết kiệm chi phí. Với người mua, nó tạo cảm giác gọn gàng, sạch sẽ. Nhưng chính vì quá tiện lợi và quá rẻ, túi nilon bị lạm dụng một cách vô tội vạ.
>> Tôi phát bực vì mua một phần đồ ăn nhưng nhận về 10 túi nilon
Chúng ta dùng trong vài phút, vài giờ, rồi thản nhiên vứt bỏ. Trong khi đó, thời gian phân hủy của một chiếc túi nilon có thể kéo dài hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Điều đáng nói là nhiều người vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của rác thải nhựa. Những chiếc túi mỏng manh tưởng chừng vô hại ấy khi bị thải ra môi trường sẽ gây tắc nghẽn cống rãnh, ô nhiễm nguồn nước, làm đất mất khả năng thấm nước và không khí. Những mảnh nhựa vỡ ra thành vi nhựa, len lỏi vào chuỗi thực phẩm, cuối cùng quay trở lại bàn ăn của con người.
Thế nhưng, nghịch lý là dù biết tác hại, chúng ta vẫn khó từ bỏ. Bởi túi nilon đã trở thành một thói quen. Và thói quen, khi kéo dài đủ lâu, sẽ biến thành nhu cầu tưởng như thiết yếu. Vị khách cãi nhau trong quán phở có lẽ không nghĩ mình đang góp phần gây ô nhiễm môi trường. Ông chỉ nghĩ đơn giản: "Tôi cần một cái túi để xách cho tiện".
Tôi từng chứng kiến ở nhiều siêu thị, dù đã có biển khuyến khích mang túi cá nhân, nhưng không ít người vẫn vui vẻ nhận thêm túi nhựa miễn phí. Có người thậm chí còn lấy dư vài chiếc "để dùng dần". Trong khi đó, những chiếc túi vải, túi giấy, hộp đựng cá nhân - những giải pháp thay thế bền vững hơn - lại bị xem là phiền phức, tốn công mang theo.
Chúng ta thường nói về phát triển bền vững, về bảo vệ môi trường, về biến đổi khí hậu. Nhưng nếu ngay cả việc từ chối một chiếc túi nilon dư thừa cũng khó thực hiện, thì những mục tiêu lớn lao kia liệu có trở nên xa vời? Bảo vệ môi trường không chỉ là câu chuyện của chính phủ hay các tổ chức quốc tế. Nó bắt đầu từ những hành động rất nhỏ trong đời sống hằng ngày.
Ở một số quốc gia, túi nilon bị đánh thuế cao hoặc cấm sử dụng hoàn toàn tại các cửa hàng. Người dân buộc phải thay đổi thói quen, mang theo túi cá nhân khi đi mua sắm. Ban đầu có thể bất tiện, nhưng dần dần trở thành nếp sống mới. Còn ở Việt Nam, dù đã có nhiều chiến dịch kêu gọi hạn chế rác thải nhựa, việc thực thi vẫn còn nhiều hạn chế. Túi nilon vẫn được phát miễn phí tràn lan. Khi một món đồ không phải trả tiền, người ta dễ dàng sử dụng mà không cân nhắc.
Sự thay đổi nào cũng đi kèm xung đột. Nhưng nếu vì sợ xung đột mà chúng ta tiếp tục chiều theo thói quen cũ, môi trường sẽ là bên chịu thiệt thòi nhất. Trong khi đó, bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung, không ai có thể đứng ngoài. Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại cách mình tiêu dùng. Một chiếc túi nilon không làm thay đổi thế giới, nhưng hàng triệu chiếc mỗi ngày thì có.
Nhật AnhBa lớp túi nilon đựng một chùm hoa quả
'Từ chối mua đồ siêu thị vì combo khay nhựa - màng bọc nilon'
Tôi đi siêu thị ở Đức không được cho túi nilon
Tôi sốc vì cả trăm túi nilon, đồ nhựa gia đình mình thải ra một tháng
Tôi từ chối mua khi cửa hàng tiện lợi quay nóng đồ ăn còn nguyên túi nilon
Tôi bị cười nhạo vì cái túi nilon đứt quai dùng một năm trời
Khi tôi đi câu cá biển về và tổ chức nướng mọi, không nêm nếm bất cứ thứ gì, mời đứa em qua nhà, trong sân vườn chúng tôi vừa nướng cá vừa ăn. Mùi cá biển tươi trên than hồng bốc lên, đứa em bảo sao ngon quá. Một cảm giác tươi ngon như nghe mùi gió biển đâu đây.
Nhưng khi ăn, đứa em này lại chê nhạt nhẽo. Lẽ ra trước khi nướng phải ướp gia vị và cần làm một bát nước chấm thật đậm đà.
Chuyện này làm tôi thắc mắc rằng phải chăng nhiều người đã bị hỏng khẩu vị vì ngày thường ăn phải những món ăn nêm nếm đậm đà, sử dụng gia vị một cách vô tội vạ?
Các món ăn của gia đình tôi khi nấu chỉ cho thêm một chút muối, ngoài ra không nêm nếm những gia vị nào khác.
Trên thực tế, từ tô phở cho tới nấu ăn bếp nhà, nhiều người nấu ăn cứ phải nêm nếm cho thật đậm đà... Nhưng chính cái thói quen nêm nếm vô tội vạ ấy lại đang âm thầm làm hỏng khẩu vị và cả cách chúng ta cảm nhận món ăn.
Chúng ta vẫn thường nhầm lẫn giữa ngon và đậm. Một món ăn nhiều gia vị chưa chắc đã ngon, nhưng một món ăn giữ được vị tự nhiên thì gần như chắc chắn là dễ ăn.
Con cá tươi nướng chỉ cần chút muối vẫn khiến người ta xuýt xoa. Bát canh rau đơn giản, nếu nguyên liệu đủ tốt, khi húp một thìa nước canh thấy vị khoan khoái, người cũng nhẹ nhõm.
Nhưng trong nhịp sống hiện đại, nhiều người dường như không còn đủ kiên nhẫn để cảm nhận những điều đơn giản ấy. Gia vị trở thành lối tắt cho vị giác. Thiếu một chút mặn thì thêm nước mắm, thêm muối, thiếu ngọt thì cho đường, chưa đã miệng thì thêm bột nêm, mì chính..
Và cứ thế, món ăn dần bị phủ kín bởi các lớp vị nhân tạo, đến mức không còn nhận ra nguyên liệu ban đầu có vị gì.
Đáng nói hơn, việc nêm nếm quá tay không chỉ dừng lại ở thói quen cá nhân, mà còn tạo ra một vòng lặp khẩu vị. Ăn mặn quen thì sẽ thấy nhạt là dở. Ăn nhiều gia vị quen thì món tự nhiên lại bị cho là thiếu hấp dẫn.
Một hệ quả khác ít được nhắc đến là sự lãng phí. Như câu chuyện những chén nước mắm pha đầy ắp, thêm đủ thứ tỏi, ớt, sa tế... nhưng chỉ chấm vài lần rồi bỏ lại. Hay những bát phở bị vắt quá nhiều chanh, chan quá nhiều tương, để rồi chính người ăn cũng không thể ăn hết. Đó không chỉ là lãng phí vật chất, mà còn là sự thiếu tôn trọng công sức của người nấu.
Nấu ăn không phải là cuộc thi xem ai cho nhiều gia vị hơn, mà là cách để tôn trọng nguyên liệu và giữ gìn khẩu vị tự nhiên. Ăn uống cũng không chỉ để no hay đã miệng, mà còn là cách rèn luyện sự tiết chế.
Tôi là một cô gái đi làm xa nhà, mỗi tháng đều đặn gửi tiền về cho mẹ. Với tôi, đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là cách để cảm thấy mình vẫn đang chăm lo cho gia đình, dù không ở bên cạnh. Mẹ cũng từng nói với tôi rằng "cứ gửi tiền về, mẹ giữ giúp, khi nào cần mẹ sẽ đưa lại".
Nhưng có một lần tôi thực sự cần tiền. Tôi ngỏ ý muốn lấy lại một khoản mình đã gửi trước đó. Câu chuyện tưởng chừng đơn giản lại trở thành một cuộc tranh cãi. Mẹ không đồng ý, hai bên nói qua nói lại rồi căng thẳng. Cuối cùng, tôi không mượn được tiền của chính mình.
Từ đó, tôi bắt đầu suy nghĩ lại. Tôi đi làm, tự lo chi phí sinh hoạt, tự gánh những khoản nợ phát sinh. Có lúc túng quá, tôi phải vay bên ngoài với lãi suất cao vì không còn cách nào khác. Trong khi đó, số tiền tôi gửi về lại không thể sử dụng khi cần. Tôi thấy mình rơi vào một tình thế rất khó xử.
>> Con trai út được 3/4 tài sản thừa kế dù nhà năm anh em
Tôi đã nhiều lần thử nói với mẹ rằng bản thân muốn tạm thời không gửi tiền về nữa, để tự dành dụm phòng thân. Nhưng cứ mỗi lần nhắc đến, câu chuyện lại đi vào ngõ cụt. Mẹ so sánh tôi với "con nhà người ta", nói tôi bất hiếu, rằng đi làm mà không gửi tiền về là không biết nghĩ. Có khi mẹ còn nói những lời rất nặng nề như từ mặt hay cắt đứt quan hệ. Chúng tôi gần như không thể nói chuyện quá vài câu khi chạm đến vấn đề này.
Tôi thực sự bối rối. Một bên là mong muốn được tự chủ tài chính, có một khoản dự phòng cho bản thân để không rơi vào cảnh bế tắc. Một bên là áp lực phải làm "đứa con ngoan", sợ làm mẹ buồn, sợ bị hiểu lầm là vô tâm, bất hiếu.
Tôi không nghĩ việc muốn giữ lại tiền mình làm ra để phòng thân là sai. Nhưng cách để nói điều đó với mẹ, để không biến nó thành mâu thuẫn, lại là điều tôi chưa tìm được. Tôi cũng tự hỏi, liệu việc im lặng và âm thầm không gửi tiền nữa có khiến mọi chuyện đỡ căng thẳng hơn, hay chỉ khiến khoảng cách giữa hai mẹ con ngày càng lớn?
Tôi viết những dòng này mong nhận được lời khuyên từ những người từng ở trong hoàn cảnh tương tự. Làm sao để vừa giữ được sự tôn trọng với gia đình, vừa được tự chủ tài chính?