Đặc biệt tại các khu vực có tỷ lệ nhập cư cao hoặc biến động dân số lớn, tiềm ẩn nguy cơ quá tải hoặc thiếu học sinh (HS) tại một số trường.
Theo kết quả khảo sát hệ thống giáo dục công lập của 168 phường, xã, đặc khu của Sở GD-ĐT TP.HCM cho thấy TP.HCM sau khi sáp nhập có 1.245 trường, trong đó có 781 trường tiểu học và 464 trường THCS…
Đối với việc phân bổ các trường theo từng địa phương, qua khảo sát ghi nhận ở cấp tiểu học đảm bảo phân bổ đầy đủ tại 168/168 đơn vị hành chính, mỗi địa phương có tối thiểu một trường. Đối với cấp THCS, sở này ghi nhận có 4 phường, xã thuộc TP.HCM cũ và Bình Dương cũ chưa bố trí trường mặc dù vẫn duy trì 3 trường tiểu học/phường.
Đó là P.Phú Thuận (thuộc địa bàn Q.7 cũ), P.Tân Sơn (thuộc địa bàn Q.Tân Bình cũ), P.Tây Nam và xã Phước Thành (Bình Dương cũ). Đáng chú ý, cả 2 phường thuộc TP.HCM cũ đều nằm trong danh sách địa phương có nhiều lao động trên địa bàn TP.HCM” theo điều 75 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14.12.2020 của Chính phủ do UBND TP.HCM công bố vào ngày 16.3 vừa qua.
Khảo sát của phóng viên Thanh Niên trên địa bàn P.Phú Thuận cho thấy tại đây bậc mầm non có 2 trường công lập là Hoa Hồng, Phú Thuận. Bậc tiểu học có 3 trường công lập là Nguyễn Văn Hưởng, Phú Thuận, Lê Anh Xuân. Kế bên P.Phú Thuận là P.Tân Hưng, P.Tân Mỹ, P.Tân Thuận, những phường này đều có nhiều trường THCS.
Còn tại P.Tân Sơn có các trường mầm non Phường 15, tiểu học Tân Trụ, tiểu học Nguyễn Văn Kịp, tiểu học Phan Huy Ích.
Chị N.Y có con gái út đang học tại Trường tiểu học Nguyễn Văn Hưởng (P.Phú Thuận). Hai năm trước, con gái lớn của chị (cũng học tại Trường tiểu học Nguyễn Văn Hưởng) khi lên lớp 6 được phân bổ vào Trường THCS Nguyễn Thị Thập, P.Tân Hưng. Khoảng cách từ nơi ở của chị tới trường học của 2 con đều khá cân đối. “Phụ huynh không phải lo lắng, nguyên tắc thì mầm non 5 tuổi, bậc tiểu học, THCS sẽ luôn đảm bảo HS có đủ chỗ học trong các trường công lập”, chị chia sẻ.
Trong tháng 3, tại các buổi tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND TP.HCM, phụ huynh Nguyễn Quang Linh, cư trú tại P.Tây Thạnh, phản ánh trên địa bàn phường này hiện có ít trường mầm non và chỉ có một trường tiểu học, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu học bán trú của HS trên địa bàn. Hay phụ huynh Nguyễn Hùng Tráng (P.An Phú) phản ánh trên địa bàn phường hiện chỉ có một trường THCS nên chưa bảo đảm chất lượng công tác giảng dạy và học tập của HS. Cử tri kiến nghị thành phố quan tâm xem xét, bố trí nguồn lực đầu tư bổ sung, mở rộng cơ sở trường, lớp học, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, học bán trú của HS và từng bước nâng cao chất lượng giáo dục.
Hiệu trưởng một trường tiểu học trên địa bàn P.Tân Sơn, TP.HCM hiện nay cho biết trước khi sáp nhập và còn Q.Tân Bình, để chuẩn bị cho quá trình tuyển sinh đầu cấp thì sẽ có các buổi họp. Tại đây, hiệu trưởng các trường tiểu học và THCS trên địa bàn phường cùng ngồi lại, báo cáo, thống nhất số liệu HS lớp 5 chuẩn bị ra trường, nhu cầu cần bao nhiêu chỗ học của HS lớp 6… Dựa trên các số liệu này, bộ phận tuyển sinh đầu cấp của phòng GD-ĐT quận sẽ phân bổ số HS tương ứng vào các trường THCS, làm sao đảm bảo tất cả HS đều có chỗ học. Nếu cần thiết, để việc học tập thuận lợi, các em cũng có thể được bố trí học tập ở những trường THCS ở phường giáp ranh, căn cứ theo bản đồ GIS để HS đều được học gần nhà nhất có thể.
Đáng chú ý, vị hiệu trưởng này cũng cho hay việc phân bổ, sắp xếp chỗ học đảm bảo liền mạch, xuyên suốt chương trình học tập của các em. Song hiện nay địa bàn P.Tân Sơn không có trường THCS, nhiều phụ huynh không biết sắp tới các con sẽ học lớp 6 tại trường nào.
Hiệu trưởng này cho hay đến nay chưa có thông báo, hướng dẫn chính thức từ UBND phường về vấn đề này, song luôn nhấn mạnh nguyên tắc là đảm bảo đủ chỗ học, quyền lợi học tập của HS, không nhất thiết là cư trú ở địa bàn phường nào thì chỉ đi học THCS ở phường đó.
Lãnh đạo Sở GD-ĐT TP.HCM cho hay theo phân cấp, UBND 168 phường, xã, đặc khu chịu trách nhiệm tổ chức quy hoạch và phân bổ HS theo đúng chỉ tiêu và kế hoạch tuyển sinh tại địa phương bảo đảm công khai, minh bạch và phù hợp năng lực tiếp nhận của từng cơ sở giáo dục. Với những khu vực đặc thù hoặc những khu vực quy mô trường lớp ở các cấp học còn chưa có sự đồng đều, sở sẽ có những hướng dẫn cụ thể trong quá trình phân bổ linh hoạt.
Theo ông Nguyễn Văn Phong, Phó giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, đối với xã, phường không có trường THCS công lập, Sở GD-ĐT sẽ đóng vai trò điều phối, hướng dẫn các phường, xã lân cận phối hợp tiếp nhận HS. Cụ thể, HS hoàn thành chương trình tiểu học tại các địa bàn này sẽ được phân bổ vào các trường THCS ở khu vực giáp ranh. Sở sẽ trực tiếp làm việc với từng địa phương để có sự thống nhất chung, hỗ trợ các phường, xã tuyển sinh một cách hợp lý nhất.
Đối với xã, phường đang chịu áp lực dân số lớn, đông HS nhưng chỉ có một trường THCS công lập hoặc một trường tiểu học công lập, ông Phong cho biết phương án được đưa ra là trường sẽ ưu tiên tuyển HS ở khu vực địa bàn trước. Trong trường hợp vượt quá khả năng tiếp nhận, những HS ở khu vực xa trường hơn sẽ được bố trí sang các trường ở phường kế bên để học tập, đảm bảo quyền lợi và thuận lợi trong quá trình học tập.
“Bản đồ GIS kết hợp với dữ liệu cư trú từ hệ thống VNeID sẽ giúp xác định chính xác nơi ở hiện tại của từng HS. Quan điểm của Sở GD-ĐT TP là công tác tuyển sinh khách quan, minh bạch, công bằng, đảm bảo HS được học tại ngôi trường gần nơi cư trú nhất có thể, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho HS và gia đình”, ông Nguyễn Văn Phong nhấn mạnh.
Đối với riêng ý kiến cử tri là phụ huynh ở những khu vực quy mô trường lớp còn hạn chế, Sở GD-ĐT cho hay việc chủ động rà soát quỹ đất, lập quy hoạch và đề xuất đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học và THCS thuộc thẩm quyền và trách nhiệm trực tiếp của chính quyền địa phương cấp xã.
Từ đó, Sở GD-ĐT đề nghị UBND các phường Tây Thạnh, An Phú trực tiếp chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xử lý theo thẩm quyền khẩn trương rà soát lại tình hình thực tế về mạng lưới trường lớp, quỹ đất giáo dục và nhu cầu học tập, học bán trú của HS trên địa bàn để có phương án bố trí nguồn lực đầu tư phù hợp.
Bên cạnh đó, lãnh đạo Sở GD-ĐT cho hay sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong việc thẩm định chuyên môn, hướng dẫn quy chuẩn về cơ sở vật chất và phân bổ đội ngũ giáo viên.
Cụ thể, thí sinh có thể xem kết quả thi thông qua tài khoản đã đăng ký dự thi trên trang thông tin điện tử chính thức của kỳ thi tại địa chỉ: https://thinangluc.vnuhcm.edu.vn.
Theo kế hoạch, từ nay đến ngày 16/4, Ban chấm thi kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia TPHCM tiến hành chấm bài thi đợt 1. Kết quả dự kiến sẽ được công bố vào ngày 17/4.
Về cách tính điểm, theo quy định của Đại học Quốc gia TPHCM, bài thi đánh giá năng lực gồm 120 câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Cấu trúc đề thi được chia thành 3 phần: Sử dụng ngôn ngữ (gồm hai phần là tiếng Việt và tiếng Anh), Toán học và Tư duy khoa học.
Điểm của từng câu hỏi được phân bổ theo trọng số khác nhau, tùy thuộc vào độ khó của câu hỏi. Tổng điểm bài thi được quy đổi theo từng thành phần.
Thang điểm tối đa của bài thi là 1.200 điểm. Trong đó, điểm tối đa của từng phần được thể hiện trên phiếu điểm gồm: Tiếng Việt 300 điểm, tiếng Anh 300 điểm, Toán học 300 điểm và Tư duy khoa học 300 điểm.
Đại học Quốc gia TPHCM tiếp tục áp dụng hình thức cấp giấy chứng nhận kết quả thi điện tử. Sau khi có kết quả, thí sinh có thể chủ động truy cập vào trang thông tin điện tử của kỳ thi để tải về và in giấy chứng nhận khi cần thiết.
Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo của Đại học Quốc gia TPHCM sẽ thực hiện xác minh kết quả thi của thí sinh khi nhận được yêu cầu từ các cơ sở giáo dục sử dụng kết quả kỳ thi này trong tuyển sinh.
Thời gian sử dụng kết quả thi đánh giá năng lực để xét tuyển sẽ do từng cơ sở đào tạo quy định trong đề án tuyển sinh hằng năm, phù hợp với quy chế tuyển sinh của Bộ GD&ĐT.
Đợt 2 của kỳ thi đánh giá năng lực năm 2026 dự kiến được tổ chức vào ngày 24/5 tại 36 điểm thi thuộc 9 tỉnh, thành phố, gồm: Huế, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, TPHCM, Đồng Nai, Đồng Tháp và An Giang.
Kết quả của đợt thi này dự kiến được công bố vào ngày 6/6.
Huỳnh Quốc Bảo nhận kết quả thi SAT hồi cuối tuần trước. Bảo kể không có mục tiêu điểm số trước ngày thi. Đây cũng là tâm thế của em trong học tập nói chung – không đặt nặng thành tích, miễn học hết sức và phát huy đúng năng lực.
SAT là bài thi chuẩn hóa bằng tiếng Anh, gồm hai phần Đọc - Viết (54 câu) và Toán (44 câu), được dùng rộng rãi trong xét tuyển đại học ở Mỹ và các nước châu Âu. Theo College Board, đơn vị tổ chức, từ mức 1520 điểm, thí sinh đã thuộc nhóm 1% cao nhất toàn cầu.
Nam sinh có kế hoạch ôn thi SAT từ cuối năm lớp 11 để tăng cơ hội trúng tuyển vào đại học. Tháng 6 năm ngoái, Bảo bắt đầu tìm hiểu những chủ đề kiến thức chung. Đến tháng 9, em được chọn vào đội tuyển của TP HCM dự thi học sinh giỏi cấp quốc gia môn Hóa nên phải tạm ngưng.
Nam sinh sau đó đạt giải ba – đủ điều kiện được tuyển thẳng vào đại học nhưng vẫn tiếp tục ôn tập, luyện đề SAT, để chủ động cơ hội lựa chọn ngành nghề.
Lần thi thử đầu tiên, Bảo đạt 1500 điểm. Nam sinh nhận ra bản thân "sa lầy" ở những câu khó, bỏ qua nhiều câu dễ nên mất điểm đáng tiếc. Bảo sau đó vạch chiến lược phân bổ thời gian hợp lý, giải quyết câu dễ trước, khó sau và luôn dành thời gian kiểm tra lại bài.
Ngày thi chính thức, Bảo không gặp khó khăn với phần Toán nhưng mất thời gian với một số câu Đọc - Viết khó. Em dùng phương pháp loại trừ, suy luận để chọn phương án.
"Có một số câu em không chắc chắn nhưng kết quả này nằm trong dự tính của em", Bảo cho hay.
Theo em, câu hỏi và dữ kiện trong đề SAT thường khó hiểu vì dài và ngữ pháp phức tạp. Nếu đọc nhanh, thí sinh thường cảm thấy mơ hồ và phải đọc lại, từ đó làm ảnh hưởng đến thời gian làm bài.
"SAT cũng hiểm hóc ở chỗ mọi từ trong câu đều có nghĩa. Nếu đọc lướt, mình dễ hiểu sai rồi chọn phương án sai", Bảo phân tích. "Em luôn cẩn thận, tỉ mỉ khi đọc".
Nam sinh nhìn nhận SAT đòi hỏi thí sinh phải có vốn từ vựng dồi dào để đọc hiểu dữ liệu. Khi đọc đề, em phân tích các thành phần chính trong câu, ý chính trong đoạn văn để chọn đáp án logic nhất.
Tiếng Anh là lợi thế của Bảo nhờ học từ nhỏ, đã thi đạt chứng chỉ IELTS 7.5 hồi năm ngoái. Để tích lũy vốn từ, nam sinh hay dùng "vòng quay may mắn" để học từ mới. Yếu tố bất ngờ mỗi khi quay chữ giúp em có phản xạ nhanh và nhớ lâu hơn. Ngoài ra, Bảo hay tạo ví dụ gắn liền với từ vựng để dễ dàng liên tưởng.
Bảo kể vốn định đi theo hướng chuyên Anh cho đến khi được tiếp xúc với môn Hóa vào năm lớp 8. Nam sinh bị thu hút bởi những nguyên tố độc lạ, phản ứng hóa học đầy màu sắc trong phòng thí nghiệm.
"Em học tốt Toán, Lý nhưng không thấy hứng thú. Hóa cho em cảm giác muốn khám phá, giải nghĩa vì sao lại có những hiện tượng xảy ra khi các chất tiếp xúc với nhau", Bảo nói.
Dù vậy, cậu vẫn duy trì đầu tư cho Toán và Tiếng Anh. Bảo nhận thấy hai môn này bổ trợ nhiều cho việc học Hóa, đặc biệt là kiến thức bồi dưỡng học sinh giỏi. Với các phương trình hóa học nâng cao, học sinh phải vận dụng tư duy Toán học để tính chuẩn xác. Tiếng Anh giúp em tiếp cận những tài liệu chuyên Hóa mới nhất trên thế giới.
Sự kết hợp này giúp Bảo vượt cấp tham gia kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh dành cho học sinh lớp 11 (Olympic 27/4) của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũ và đạt giải khuyến khích ngay từ lớp 10. Hai năm sau, em giành hàng loạt giải thưởng, từ thủ khoa Olympic 27/4, huy chương vàng Olympic truyền thống 30/4, giải khuyến khích rồi đến giải ba cấp quốc gia.
Có những thời điểm phải dồn sức cả bài vở trên lớp lẫn các cuộc thi nhưng Bảo vẫn dành thời gian chơi piano hoặc guitar để giải tỏa căng thẳng, hỗ trợ hoạt động ngoại khóa, văn nghệ của trường. Đặc biệt, nam sinh đặt ra kỷ luật với giấc ngủ để giữ sức khỏe.
"Phương châm của em là học ít mà hiệu quả còn hơn cày ngày cày đêm. Càng thức khuya năng suất càng giảm nên em hiếm khi đi ngủ trễ hơn 22h30", Bảo nói.
Chủ nhiệm lớp Bảo suốt 3 năm qua, cô Nguyễn Thị Liên, đánh giá Bảo sống tình cảm, khiêm tốn và kiên định với con đường của mình thay vì chạy theo số đông. Với sức học và tính cách của Bảo, nhiều thầy cô gợi ý em đi theo khối ngành y dược, nhưng Bảo vẫn chọn gắn bó với Hóa.
Ngoài ra, dù phải dành thời gian nhiều cho các cuộc thi và môn chuyên, nhưng với các môn phụ, Bảo vẫn học nghiêm túc, không bỏ bê.
"Em ấy học tập trong tâm thế thoải mái, không đặt nặng phải đạt giải cao nên trong lớp rất hay nhường nhịn, giúp đỡ bạn bè", cô Liên cho biết.
Nhiều khả năng được tuyển thẳng nhưng Bảo cho biết vẫn cố gắng tối đa trong kỳ thi tốt nghiệp THPT sắp tới. Nam sinh đang cân nhắc đặt nguyện vọng vào ngành Kỹ thuật Hóa, Hóa học hoặc Sư phạm Hóa của trường Đại học Bách khoa, Khoa học Tự nhiên, Sư phạm TP HCM.
"Em dự định hoàn thành chương trình cử nhân trong nước sau đó tìm kiếm học bổng du học ngành Hóa ứng dụng", Bảo nói.
Hàng triệu lao động nữ phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc trẻ
Ngày 3/4, tại hội thảo “Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục Mầm non và Ngân hàng Thế giới tổ chức, các chuyên gia đã đưa ra loạt khuyến nghị đáng chú ý.
Trình bày báo cáo tại hội thảo, bà Helle Buchhave, Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới, cho biết Việt Nam hiện có khoảng 4,8 triệu lao động nữ trong lĩnh vực sản xuất tại các khu công nghiệp, tương đương 19% số lao động nữ. Đây là nhóm chịu tác động trực tiếp từ sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc trẻ.
Dữ liệu cho thấy nhu cầu gửi trẻ, đặc biệt dưới 3 tuổi, đang rất lớn nhưng chưa được đáp ứng. Có tới 75% bà mẹ có con dưới 2 tuổi chưa sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ, dù sẵn sàng sử dụng nếu có dịch vụ phù hợp với chi phí hợp lý.
Trong khi đó, hệ thống công lập còn hạn chế, chỉ 23% cơ sở nhận trẻ dưới 2 tuổi. Ở khu vực ngoài công lập, nhiều cơ sở gặp khó khăn về nhân lực đạt chuẩn, nguồn lực tài chính và tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Các chuyên gia nhấn mạnh, đầu tư vào giáo dục mầm non không chỉ là chính sách xã hội mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Ước tính, việc phổ cập dịch vụ chăm sóc trẻ có thể mang lại tổng lợi ích kinh tế lên tới 3,02 tỷ USD, thông qua việc tăng tỷ lệ tham gia lao động của phụ nữ và nâng cao năng suất.
Bàn giải pháp nâng chất giáo dục mầm non ở địa bàn có khu công nghiệp
Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh Việt Nam cần những điều chỉnh chính sách mạnh mẽ để giải quyết “điểm nghẽn” trong hệ thống chăm sóc trẻ nhỏ, đặc biệt tại khu đô thị và khu công nghiệp.
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đưa ra 3 nhóm giải pháp lớn. Một trong những giải pháp quan trọng là cải thiện chế độ cho đội ngũ giáo viên mầm non. Mức hỗ trợ hiện nay còn thấp, khiến thu nhập của giáo viên, đặc biệt ở khu vực ngoài công lập còn hạn chế.
Vì vậy, cần xây dựng chính sách tiền lương ở tầm quốc gia, đồng thời tăng lương theo lộ trình gắn với trình độ chuyên môn.
Đồng thời, cần tăng nguồn cung dịch vụ với chi phí hợp lý, trong đó nhấn mạnh mở rộng hệ thống mầm non công lập, đặc biệt cho trẻ dưới 3 tuổi; đồng thời cải cách mô hình hợp tác công – tư (PPP), giảm rào cản để thu hút các nhà đầu tư.
Đáng chú ý, chuyên gia Ngân hàng Thế giới cũng đề xuất điều chỉnh chính sách lao động theo hướng thân thiện hơn với gia đình, trong đó có việc kéo dài thời gian nghỉ thai sản lên 12 tháng. Phương án được đưa ra là mỗi phụ huynh nghỉ 6 tháng, nhằm san sẻ trách nhiệm chăm sóc con nhỏ.
Bà Buchhave chỉ ra khoảng trống lớn hiện nay: sau 6 tháng nghỉ thai sản, nhiều gia đình không có nơi gửi trẻ do phần lớn cơ sở mầm non công lập chưa nhận trẻ dưới 12 tháng tuổi. Điều này khiến không ít phụ nữ buộc phải rời bỏ thị trường lao động hoặc chấp nhận những lựa chọn không bền vững.
“Khung chính sách của Việt Nam đã có đủ các cam kết cần thiết để hành động”, bà nhấn mạnh.
Tuy nhiên, chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cũng cho biết đây là những chiến lược dài hạn. Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra một số hành động cần thực hiện trong ngắn hạn như: Tăng số lượng chỗ học cho trẻ dưới 3 tuổi tại cơ sở mầm non công lập, nới lỏng trần biên chế, kéo dài giờ hoạt động ở trường, loại bỏ rào cản hành chính đối với người di cư, đồng bộ chính sách chăm sóc trẻ em với chính sách nghỉ phép của cha mẹ và làm việc linh hoạt…
Áp lực lớn tại các đô thị, khu công nghiệp
Tại hội thảo, bà Lê Thuỵ Mỵ Châu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM, cho biết thành phố hiện có hơn 1.800 cơ sở mầm non với trên 520.000 trẻ, hơn 47.000 giáo viên, cán bộ quản lý - quy mô lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, áp lực về chỗ học, đặc biệt cho con em công nhân và lao động nhập cư, vẫn rất lớn.
Nhiều mô hình linh hoạt đã được triển khai như giữ trẻ ngoài giờ, trường do doanh nghiệp đầu tư hay cơ sở mầm non tại khu lưu trú công nhân, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động, quản lý. Dù vậy, bài toán về nguồn lực, quy hoạch và chất lượng vẫn còn nhiều thách thức.
Ở góc độ quản lý, bà Hoàng Thị Dinh, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ GD&ĐT, nhấn mạnh sự cần thiết của việc triển khai đồng bộ chương trình quốc gia, đặc biệt tại các địa phương có khu công nghiệp lớn.
Bà cho rằng cần tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương trong việc tham mưu và triển khai giải pháp phù hợp với thực tiễn.
Đồng thời, các địa phương cần chú trọng mở rộng quy mô, tăng tỷ lệ trẻ đến trường, nhất là nhóm trẻ nhà trẻ, vốn còn nhiều hạn chế so với bậc mẫu giáo.
Đại diện Bộ GD&ĐT cho biết đang triển khai chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại khu đô thị, khu công nghiệp, với mục tiêu đến năm 2035, 100% trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi là con công nhân, người lao động có nhu cầu sẽ được đến trường.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, giáo dục mầm non cần được nhìn nhận không chỉ là lĩnh vực giáo dục mà còn là câu chuyện chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ trong những năm đầu đời.
Theo ông Vinh, đây là giai đoạn nền tảng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi con người. Những gì trẻ được tiếp cận trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng lâu dài đến kết quả học tập, khả năng học tập suốt đời và năng suất lao động khi trưởng thành.
"Giáo dục mầm non phải là câu chuyện của tiếp cận sớm, cơ hội sớm và đầu tư sớm, không chỉ trong ngành giáo dục mà trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội", ông Vinh nhấn mạnh.