Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 – 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 – 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế – xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
“Việc đặt mục tiêu ở mức “trung bình cao” trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững”, TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các “đầu tàu” nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 – 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 – 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông – việc làm – nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công – tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
“Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045”, KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là “xương sống” của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.
Theo Cục Hàng không Việt Nam, việc xây dựng Thông tư nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời bảo đảm phù hợp với quy định của luật Hàng không dân dụng Việt Nam và luật Giá.
Dự thảo cũng hướng tới tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, vì thế có bổ sung một số nội dung mới, trong đó có chính sách ưu đãi giá tại các cảng hàng không mới.
Cụ thể, đối với các hãng hàng không khai thác chuyến bay quốc tế thường lệ đi và đến Cảng hàng không quốc tế Long Thành và duy trì hoạt động tối thiểu 12 tháng liên tục (không bao gồm các hãng đã khai thác tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất trong ít nhất 12 tháng trước thời điểm Long Thành đi vào hoạt động), Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng mức giá bằng 50% giá dịch vụ cất cánh, hạ cánh theo quy định. Thời gian ưu đãi kéo dài trong 24 tháng kể từ khi bắt đầu khai thác.
Đối với các hãng hàng không khai thác chuyến bay thường lệ tại các cảng hàng không mới khác của Việt Nam (ngoại trừ Long Thành) và duy trì hoạt động tối thiểu 12 tháng liên tục, cũng sẽ được hưởng mức giá bằng 50% giá dịch vụ cất, hạ cánh trong thời hạn 24 tháng kể từ khi cảng hàng không được đưa vào khai thác.
Trong quá trình xây dựng dự thảo, các doanh nghiệp cơ bản đồng thuận về sự cần thiết ban hành chính sách ưu đãi giá đối với các cảng hàng không mới nói chung và Cảng hàng không quốc tế Long Thành nói riêng, nhằm thu hút các hãng hàng không tham gia khai thác.
Bên cạnh các chính sách ưu đãi tại các cảng hàng không mới, dự thảo cũng đề xuất loại bỏ một số dịch vụ khỏi danh mục do Nhà nước định giá như: Dịch vụ bảo đảm an ninh hàng không (chuyển sang cơ chế phí); dịch vụ cho thuê mặt bằng tại cảng hàng không, sân bay; dịch vụ cơ bản, thiết yếu tại cảng hàng không; nhượng quyền khai thác dịch vụ kỹ thuật hàng không.
Ở chiều ngược lại, dự thảo bổ sung vào danh mục do Nhà nước định giá đối với hoạt động nhượng quyền khai thác dịch vụ bảo dưỡng tàu bay, động cơ, cánh quạt và các trang thiết bị tàu bay tại Việt Nam.
Ngoài ra, Bộ Xây dựng cũng đã làm rõ thêm các nội dung nhằm tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, như quy định giá dịch vụ đối với các chuyến bay đào tạo, huấn luyện; hoặc trường hợp tàu bay phải hạ cánh tại địa điểm khác so với kế hoạch ban đầu do các yếu tố bất khả kháng.
Chậm nhất đến ngày 20.4.2026, các cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh có doanh thu năm 2025 dưới 500 triệu đồng phải hoàn tất việc thông báo các tài khoản ngân hàng sử dụng cho hoạt động kinh doanh với cơ quan thuế. Quy định này cùng Thông tư 25 của Ngân hàng nhà nước có hiệu lực từ 1.3.2026 đặt ra yêu cầu hộ kinh doanh phải mở và sử dụng tài khoản phục vụ hoạt động kinh doanh đúng tên trên đăng ký kinh doanh. Với việc siết chặt yêu cầu minh bạch tài khoản và dòng tiền, các hộ kinh doanh không còn "được phép" đứng ngoài cuộc. Nhưng thay vì chỉ nhìn đây là áp lực tuân thủ, một cơ hội lớn đang mở ra: Lần đầu tiên, hộ kinh doanh có thể tiếp cận khoản vay tín chấp lên tới 2 tỉ đồng với lãi suất chỉ từ 10%/năm.
Thực tế, phần lớn hộ kinh doanh tại Việt Nam vẫn đang vận hành theo mô hình truyền thống với dòng tiền cá nhân và kinh doanh chưa tách bạch rõ ràng. Điều này có thể không gây ra vấn đề trong giai đoạn đầu, nhưng khi quy mô tăng lên, việc không kiểm soát được dòng tiền, không nắm rõ lợi nhuận sẽ trở thành rào cản lớn.
Thông tư 25 với yêu cầu rõ ràng hơn về việc thông báo và quản lý tài khoản phục vụ hoạt động kinh doanh, đang buộc các hộ kinh doanh phải thay đổi. Nhưng ở chiều ngược lại, đây cũng là thời điểm để thiết lập lại cách vận hành tài chính theo hướng bài bản hơn, từ việc tách tài khoản, theo dõi dòng tiền cho đến tận dụng các công cụ ngân hàng để tối ưu hoạt động.
Nắm bắt nhu cầu này, VPBank đã triển khai giải pháp tài khoản hộ kinh doanh với định hướng không chỉ đáp ứng yêu cầu tuân thủ, mà còn hỗ trợ người kinh doanh quản lý dòng tiền hiệu quả và tiếp cận các nguồn lực tài chính phù hợp.
Trong bối cảnh đó, tài khoản hộ kinh doanh dần trở thành nền tảng để người kinh doanh kiểm soát dòng tiền, chủ động nguồn vốn và xây dựng kế hoạch phát triển dài hạn.
VPBank mang đến loạt ưu đãi riêng cho tài khoản hộ kinh doanh và liên kết ETax đi kèm chính sách tín dụng trên thị trường. Theo đó, sản phẩm tín chấp hạn mức tới 2 tỉ đồng, lãi suất chỉ từ 10%/năm, hạn mức phê duyệt trước lên đến 500 triệu vô cùng phù hợp cho các yêu cầu kinh doanh cần bổ sung vốn nhanh, xoay vòng vốn linh hoạt.
Với hộ kinh doanh có nhu cầu vốn lớn hơn, gói vay thế chấp cho phép giải ngân tới 20 tỉ đồng, lãi suất từ 4,99%/năm, tạo ra một mặt bằng chi phí vốn đủ cạnh tranh để chủ hộ kinh doanh mạnh dạn đưa ra các quyết định đầu tư lớn. Song song với ưu đãi về vốn, VPBank triển khai gói giải pháp tài khoản hộ kinh doanh theo hướng "mở là dùng được ngay", với nhiều quyền lợi thiết thực dành cả cho hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh.
Đối với hộ kinh doanh, ngay khi mở tài khoản, khách hàng sẽ được tặng tài khoản số đẹp, ưu đãi loa Soundbox thông báo biến động số dư khi đạt đủ điều kiện, tặng bộ QR mẫu mã đa dạng và hoàn tiền đến 400.000 đồng khi đạt điều kiện duy trì số dư. Khách hàng cũng có cơ hội nhận loạt voucher ưu đãi từ đối tác uy tín của VPBank trong nhiều lĩnh vực như kế toán MISA, BE, LYNKID và BETA CINEMA. Nếu là cá nhân kinh doanh, khi mở tài khoản và liên kết ETax sẽ được miễn phí chọn Tài khoản số đẹp theo số điện thoại, ngày sinh, ngày kỷ niệm..., miễn phí mọi giao dịch chuyển tiền online, miễn phí rút tiền tại các ATM toàn quốc; đặc biệt, tính năng Super Sinh Lời với lãi suất vượt trội sẽ giúp tối ưu tiền nhàn rỗi trong tài khoản.
Mở tài khoản hộ kinh doanh tại VPBank, khách hàng được tiếp cận một hệ sinh thái giải pháp được thiết kế đồng bộ cho hoạt động kinh doanh. Trước hết là khả năng quản trị dòng tiền rõ ràng, minh bạch thông qua nền tảng Shop Thịnh Vượng, giúp theo dõi thu chi và hiệu quả vận hành. Tài khoản đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lý khi kết nối trực tiếp với phần mềm kế toán MISA và hệ thống thuế điện tử ETax, hỗ trợ kê khai và nộp thuế nhanh chóng, hạn chế sai sót. Sản phẩm còn mang lại giá trị gia tăng về tài chính với tính năng sinh lời trên số dư, lãi suất lên tới 4,5%/năm, đồng thời đi kèm các chương trình hoàn tiền khi đáp ứng điều kiện sử dụng. Toàn bộ quy trình mở tài khoản được số hóa, cho phép đăng ký trực tuyến chỉ trong khoảng một phút, giúp hộ kinh doanh nhanh chóng bắt đầu và tối ưu hoạt động ngay từ những bước đầu tiên.
Trong bối cảnh thị trường đang thay đổi nhanh, khi nhu cầu tiếp cận vốn tăng cao, việc sở hữu sẵn một nền tảng tài chính bài bản sẽ giúp hộ kinh doanh chủ động hơn thay vì bị động xoay xở. Việc mở tài khoản hộ kinh doanh ở thời điểm hiện tại không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu từ cơ quan quản lý, mà còn là cơ hội để tận dụng đồng thời nhiều lợi ích: từ nguồn vốn lớn với lãi suất thấp, công cụ quản lý dòng tiền hiệu quả cho đến các ưu đãi hỗ trợ vận hành.
Ở góc độ dài hạn, sự khác biệt giữa một hộ kinh doanh phát triển ổn định và một hộ kinh doanh chật vật thường không nằm ở việc bán được bao nhiêu, mà ở cách họ quản lý dòng tiền và tận dụng nguồn lực tài chính ra sao. Và trong bức tranh đó, việc chuyển đổi sang mô hình vận hành bài bản ngay từ bây giờ có thể là bước đi quyết định.
Để biết thêm thông tin chi tiết, Quý khách vui lòng liên hệ hotline 1900 54 54 15 hoặc truy cập website https://goihotrov20000.vpbank.com.vn/
Chính thức phát đi thông cáo báo chí chiều tối nay 6.4, ngay sau khi cơ quan công an công bố thông tin về việc Tổng giám đốc Vũ Minh Châu cùng 3 người khác bị khởi tốvề tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng, Công ty Bảo Tín Minh Châu cho biết, đã và đang phối hợp nghiêm túc, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Hoạt động kinh doanh của Bảo Tín Minh Châu vẫn diễn ra bình thường và thông suốt.
Những năm gần đây, Bảo Tín Minh Châu đã kiện toàn bộ máy quản trị theo hướng độc lập, minh bạch, chuyên nghiệp.
Từ tháng 10.2024, bà Phạm Lan Anh là giám đốc và người đại diện theo pháp luật của công ty. Mọi nghĩa vụ tài chính, quyền lợi của khách hàng và đối tác vẫn luôn được đảm bảo thực hiện đầy đủ theo đúng quy định.
Toàn bộ các sản phẩm vàng, bạc, đá quý công ty cung cấp ra thị trường luôn đáp ứng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về tuổi vàng, khối lượng và chất lượng.
"Sau khi có kết luận chính thức của cơ quan chức năng, chúng tôi cam kết sẽ khắc phục triệt để những tồn tại trước đây, tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản trị, tăng cường kiểm soát nội bộ và tuân thủ nghiêm ngặt hơn nữa những quy định của pháp luật với mục tiêu cao nhất là ổn định hoạt động, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiếp tục đóng góp vào ngân sách nhà nước, góp phần phát triển kinh tế, an sinh xã hội và đảm bảo việc làm cho người lao động", Bảo Tín Minh Châu khẳng định.
Ở thời điểm hiện tại, cũng có những ý kiến quan tâm tới khía cạnh, nếu đem vàng Bảo Tín Minh Châu bán lại cho các doanh nghiệp khác, người bán có bị thiệt thòi gì về giá hay gặp phức tạp trong kiểm tra chất lượng vàng hay không?
Thông thường, các doanh nghiệp kinh doanh vàng luôn mua lại vàng chính mình bán ra, vàng miếng SJC, đồng thời có thể cũng mua lại vàng của các thương hiệu khác.
Ví dụ, hôm nay, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý đang niêm yết giá mua bán của vàng miếng SJC, các sản phẩm của Phú Quý, đồng thời có một dòng niêm yết riêng giá mua vào của vàng 4 số 9 phi SJC nói chung.
Với Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Mạnh Hải, ngoài vàng miếng SJC và các sản phẩm của Bảo Tín Mạnh Hải, doanh nghiệp này còn niêm yết giá mua vào vàng nguyên liệu 4 số 9 và vàng nguyên liệu 3 số 9.
Điểm chung là giá các doanh nghiệp thu mua vào vàng các thương hiệu khác (trừ vàng miếng SJC) và vàng nguyên liệu thấp hơn đáng kể vàng của thương hiệu mình bán ra.
Theo đại diện một doanh nghiệp chuyên kinh doanh vàng, bạc, khi mua lại vàng từ thương hiệu khác, cửa hàng sẽ kiểm tra sơ bộ xem sản phẩm có nguyên vỉ của thương hiệu hay không. Cửa hàng sẽ thông báo cho khách hàng về việc phải bóc vỉ để nấu kiểm tra tuổi vàng và giá mua vào sẽ theo tuổi của vàng.
Thực tế cho thấy, đã là vàng thật, đạt chuẩn thì luôn có giá trị. Trường hợp xấu nhất, khách sẽ phải bán vàng với mức giá của vàng nguyên liệu. Hiện tại, hầu hết đơn vị kinh doanh vàng đều có nhu cầu mua vào vàng nguyên liệu có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.