Mỗi buổi chiều trên đường Dương Bá Trạc (TP.HCM), hình ảnh ông Tây bán xúc xích – ông Clifford Alexander Vantoor – đứng bên bếp, thoăn thoắt trở những cây xúc xích vàng óng đã trở nên quen thuộc với nhiều thực khách. Quán nhỏ mang tên “Anh Ba Tây” lúc nào cũng tấp nập người ra vào, mùi xúc xích nướng lan trong dòng xe cộ khiến không ít người phải dừng chân.
Đến Việt Nam vào năm 2013, ông Clifford nên duyên cùng chị Lan Trinh (33 tuổi), một cô gái Việt Nam. Cũng trong năm đó, chị Trinh nghỉ việc, cùng chồng bắt đầu khởi nghiệp với một xe xúc xích vỉa hè. Chiếc xe nhỏ vừa là phương tiện di chuyển, vừa là “căn bếp” di động, theo chân hai vợ chồng rong ruổi khắp các con phố để bán hàng trong những ngày đầu.
Sau hơn một năm rong ruổi, đến năm 2014, hai vợ chồng quyết định chuyển về đường Dương Bá Trạc, thuê mặt bằng cố định để thuận tiện buôn bán. Từ đó đến nay, quán xúc xích Anh Ba Tây trở nên nổi tiếng trong cộng đồng ẩm thực TP.HCM với hình ảnh ông Tây bán xúc xích bình dân, là điểm quen thuộc của nhiều thực khách, trong đó có không ít người đã gắn bó từ những ngày đầu.
Chia sẻ về tên gọi của tiệm, chị Lan Trinh cho biết đến năm 2016, quán mới chính thức có tên “Anh Ba Tây”. “Anh là con thứ ba trong gia đình, thấy cái tên nghe vui tai, dễ nhớ nên hai vợ chồng quyết định đặt vậy”, chị nói. Trước đó, quán chỉ đơn giản được gọi là “xúc xích Đức vỉa hè”.
Điểm giúp quán giữ chân khách suốt nhiều năm qua chính là nằm ở chất lượng nguyên liệu. Những cây xúc xích tại đây được làm hoàn toàn từ thịt nhập từ Đức, không pha thêm bột hay chất độn, đồng thời chỉ lấy từ một nguồn duy nhất để đảm bảo hương vị đồng nhất. Theo ông Clifford, xúc xích Đức có vị mặn nhẹ, thoang thoảng mùi khói đặc trưng, có thể hơi lạ với một số người nhưng càng ăn lại càng dễ “ghiền”.
Bên cạnh việc giữ nguyên hương vị truyền thống, quán cũng dần mở rộng thực đơn với nhiều biến tấu như hamburger, hot dog, xúc xích cà ri, xúc xích phô mai hay các món từ thịt xông khói.
Một số món “lạ” như xúc xích phô mai hay xúc xích cuộn dài cũng được nhiều khách tìm đến. Tuy nhiên, theo ông Clifford, điểm chung là tất cả món đều được chế biến tại chỗ, chỉ nướng khi có khách gọi để đảm bảo độ tươi ngon, dù đôi lúc khách phải chờ lâu hơn.
Dù chỉ là một tiệm nhỏ bán mang đi, nhưng mỗi vị khách ghé quán đều được chị Lan Trinh chào hỏi niềm nở như người thân. Nhiều người đã gắn bó với quán suốt nhiều năm, trở thành khách quen từ khi còn bán ở địa điểm cũ.
Những chiếc xúc xích vàng ươm được nướng tại chỗ mỗi khi có khách gọi, để giữ trọn hương vị khi đến tay thực khách
ẢNH: THÁI HÒA
Chị Tú Linh (33 tuổi) là một trong những khách hàng như vậy. Cả gia đình chị đều yêu thích hương vị xúc xích tại đây, đến mức chị có thể nhớ rõ đặc trưng của từng món sau nhiều năm thưởng thức.
“Một tuần tôi có thể ghé mua 2-3 lần, chưa kể người nhà đi ngang cũng mua về. Ăn từ 5-6 năm nay rồi. Tôi thích vì hương vị ở đây rất đặc trưng, đậm mùi bò thật chứ không phải gia vị”, chị chia sẻ.
Bán món Tây nhưng ông chủ lại vô cùng mê món Việt. Phải lòng ẩm thực Việt ngay từ những ngày đầu đặt chân đến TP.HCM, ông Clifford cho biết ấn tượng đầu tiên của anh là một bát phở nóng hổi với hương vị đậm đà.
Ông vẫn nhớ ngay khi vừa đến Việt Nam, món phở đã khiến ông bất ngờ với hương vị đặc biệt mà đến nay vẫn không thể quên. Chính sự cân bằng trong hương vị, từ nước dùng, thịt đến các loại rau ăn kèm, đã khiến ông nhanh chóng bị cuốn hút.
Gắn bó với TP.HCM hơn một thập kỷ, ông Clifford gần như đã thử qua hầu hết các món ăn địa phương. Không chỉ những món quen thuộc như phở hay bánh mì, ông còn chủ động trải nghiệm cả những món “khó” với người nước ngoài như hột vịt lộn, nước mắm và nhận ra rằng đây thực sự là một thiên đường ẩm thực.
Dù là người ít nói, ông có thể kể rành rọt những món mình yêu thích, trong đó bún đậu mắm tôm là lựa chọn khiến nhiều người bất ngờ. Với ông, chính hương vị đặc trưng, mạnh mẽ ấy lại là điều làm nên sức hấp dẫn của ẩm thực Việt. Khi được hỏi có món nào không thể ăn, ông cười và đáp ngắn gọn: “Tôi có thể ăn được mọi món ăn ở đây”.
Trong những bữa ăn hằng ngày, thực đơn của ông cũng gắn liền với các món Việt, phần lớn do chị Lan Trinh chuẩn bị. Theo ông, món Việt có sự hài hòa về gia vị, mang lại cảm giác ngon miệng mà không gây ngán.
Điều này hoàn toàn khác khi ở tại Hà Lan, ông thường chỉ ăn những món quen thuộc như bánh mì hay phô mai. “Ở Việt Nam, tôi có rất nhiều lựa chọn, mỗi ngày đều có thể ăn một món khác nhau”, ông chia sẻ.
Với ông Clifford, ẩm thực không chỉ đơn thuần là để no bụng mà còn là sợi dây kết nối với văn hóa và con người. Những món ăn ông từng thử, những quán ăn ông từng ghé qua đều giúp ông hiểu hơn về cuộc sống tại Việt Nam. Từ đó, ẩm thực không chỉ trở thành thói quen mà còn là một phần trong cách ông cảm nhận và gắn bó với mảnh đất này.
Những ngày đầu tháng 4, người dân xã Thanh Bồng (Quảng Ngãi) bước vào cao điểm vụ khai thác quế. Trong đó, một cây quế hơn 50 năm tuổi, kích thước hơn một người ôm vừa được người dân đưa vào thu hoạch đã thu hút sự quan tâm.
Theo ghi nhận, cây quế có thân lớn, đường kính hơn một vòng tay người ôm, cao gần 30 m. Ba người đàn ông phối hợp bóc lớp vỏ quế dày trên thân cây. Người dùng tay kéo lớp vỏ, người khác dùng dao cạy, người còn lại hỗ trợ phía dưới. Sau khi bóc, phần thân để lộ lớp gỗ màu vàng nhạt, nhựa quế chảy thành từng vệt dài.
Anh Hồ Văn Trường (ở xã Thanh Bồng), người đăng tải hình ảnh khai thác vỏ cây quế hơn 50 năm tuổi lên mạng xã hội, cho biết khoảng 9 giờ ngày 8.4, người dân thôn Cưa, xã Thanh Bồng vào vườn khai thác quế và chụp lại gửi cho anh. Nhận thấy cây quế có kích thước lớn hiếm gặp, anh đã đăng tải lên mạng xã hội.
"Cây quế này to hơn một người ôm, cao gần 30 m. Sau khi khai thác, sản lượng vỏ ước đạt khoảng 600 - 700 kg", anh Trường nói.
Tại "thủ phủ" quế Trà Bồng, mỗi năm có hai đợt thu hoạch chính. Đợt thứ nhất từ cuối tháng 2 đến hết tháng 4, được đồng bào Cor gọi là "mùa tiên"; đợt thứ hai từ tháng 7 đến tháng 8, khi vỏ quế dễ bóc và có hàm lượng tinh dầu cao.
Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Hồ Văn Thịnh, Phó chủ tịch UBND xã Thanh Bồng, cho biết toàn xã hiện có hơn 10 ha trồng quế. Tuy nhiên, năm nay giá quế có xu hướng giảm, dao động từ 32.000 - 37.000 đồng/kg quế khô, ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng.
"Trên địa bàn, người dân chủ yếu trồng quế và keo. Thời gian tới, địa phương sẽ định hướng phát triển thêm cây dược liệu nhằm đa dạng hóa cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế", ông Thịnh thông tin.
Đó là chia sẻ của anh Lê Du, chủ đại lý vé số cấp 1 Mỹ Hạnh ở xã Bà Điểm, TP.HCM sau khi vừa đổi thưởng 40 tờ vé số trúng giải nhất xổ số miền Nam cho 3 khách, tổng trị giá 1,2 tỉ đồng.
Cụ thể, những tờ vé may mắn có dãy số cuối 47750, trúng xổ số TP.HCM ngày 4 tháng 4. Trong khi đó, giải độc đắc của đài này thuộc về những tờ vé có dãy số 269291.
Theo lời kể anh Lê Du, 3 vị khách trúng 40 tờ vé số giải nhất trên gồm 2 nam, 1 nữ. Trong đó, 2 người trúng 16 tờ, người còn lại trúng 8 tờ. "Với 2 khách trúng 16 tờ, sau khi trừ thuế, mỗi người nhận 448 triệu đồng, khách trúng 8 tờ nhận 224 triệu đồng sau khi trừ thuế", đại lý Mỹ Hạnh chia sẻ.
Chủ đại lý cũng cho biết theo chia sẻ của những vị khách tới đổi thưởng, thời gian gần đây khu vực Bà Điểm thường xuyên có người trúng số lộ diện nên họ cũng mua để cầu may, bất ngờ trúng số.
Đại lý vé số Khắc Duy ở Vĩnh Long (Bến Tre cũ) cho biết vừa đổi thưởng cho khách có 2 tờ trúng độc đắc xổ số miền Nam. Cụ thể, 2 tờ có dãy số 837532 thuộc xổ số Hậu Giang ngày 4 tháng 4 trúng độc đắc trị giá 4 tỉ đồng (chưa trừ thuế).
"Người đàn ông trồng cây kiểng ở xã Chợ Lách mua ủng hộ người bán dạo 2 tờ, không ngờ trúng độc đắc. Người này nhận toàn bộ tiền trúng số qua hình thức chuyển khoản. Vị khách chỉ là người trồng cây kiểng thuê, không kinh doanh nên gửi toàn bộ tiền trúng số vào ngân hàng để tiết kiệm", đại lý vé số Khắc Duy chia sẻ.
Tôi sinh ra khi thành phố đã sáng trưng, khi những con đường ở TP.HCM về đêm không còn bóng tối, khi quạt, tivi, điều hòa trở thành điều hiển nhiên trong mỗi gia đình. Nhưng ký ức về "một thời thiếu điện" lại không phải của riêng tôi - nó là những câu chuyện được kể lại, từ ông bà, cha mẹ, và từ chính những con người đang ngày ngày giữ cho dòng điện không bao giờ đứt đoạn.
Ông ngoại tôi từng kể, những năm sau 1975, thành phố này chưa rực rỡ như bây giờ. Có những đêm mất điện kéo dài, cả xóm ngồi trước hiên nhà, thắp đèn dầu, trò chuyện với nhau trong cái nóng oi bức. Điện khi ấy không chỉ là tiện nghi - nó còn là hy vọng. Hy vọng về một ngày mai đủ sáng để con cái học hành, để nhà máy vận hành, để thành phố hồi sinh sau những năm tháng khó khăn.
Cha tôi làm trong ngành điện hơn 20 năm. Công việc của ông không phải ở văn phòng mát lạnh, mà là ngoài trời - nơi những cột điện vươn lên giữa nắng gắt và mưa giông. Tôi nhớ có lần bão lớn, điện khu tôi bị cắt để đảm bảo an toàn. Người dân sốt ruột, có người than phiền. Nhưng cha tôi chỉ lặng lẽ khoác áo mưa, cùng đồng nghiệp lao ra đường.
Đêm đó, tôi tỉnh giấc lúc gần 2 giờ sáng. Đèn trong nhà bật sáng trở lại. Mẹ tôi thở phào, còn tôi thì chạy ra cửa sổ nhìn xuống con hẻm nhỏ - nơi mấy chú công nhân điện vẫn còn đang kiểm tra đường dây. Họ ướt sũng, ánh đèn pin chập chờn, nhưng gương mặt ai cũng tập trung, không một lời than vãn.
Lúc ấy, tôi mới hiểu: ánh sáng không tự nhiên mà có.
Thành phố này lớn lên cùng ngành điện. Những khu công nghiệp ở ngoại ô, những tòa cao ốc giữa trung tâm, những con đường mới mở - tất cả đều cần điện để vận hành. Điện không chỉ thắp sáng, mà còn nuôi sống cả một nền kinh tế.
Tôi từng có dịp đến một xã vùng ven, nơi trước đây điện còn chập chờn. Người dân kể, từ khi lưới điện được nâng cấp, cuộc sống thay đổi rõ rệt. Trẻ em có thể học bài vào buổi tối, các hộ gia đình mở rộng sản xuất nhỏ, thậm chí có người bắt đầu kinh doanh online. Điện đã biến những điều tưởng như xa vời thành hiện thực rất gần.
Không chỉ dừng lại ở việc "có điện", ngành điện thành phố còn đang thay đổi cách người dân sử dụng điện. Ứng dụng điện lực trên điện thoại giúp tra cứu hóa đơn, báo sự cố, theo dõi mức tiêu thụ… tất cả chỉ trong vài thao tác. Những thứ mà trước đây phải mất cả buổi xếp hàng, giờ gói gọn trong vài phút.
Cha tôi nói, ngành điện bây giờ không chỉ "kéo dây" nữa, mà còn phải "kéo gần" người dân. Công nghệ, chuyển đổi số - nghe có vẻ lớn lao, nhưng thực chất là để phục vụ tốt hơn, nhanh hơn, minh bạch hơn.
Có một lần, tôi hỏi cha: "Cha có bao giờ thấy mệt không?" Ông cười: "Có chứ. Nhưng mỗi lần thấy đèn sáng lại, là hết mệt".
Câu trả lời đơn giản, nhưng khiến tôi suy nghĩ rất lâu.
Người ta thường nói về những ngành nghề "hào quang". Nhưng ngành điện thì khác. Họ làm việc trong thầm lặng, ít khi xuất hiện trên báo chí, và chỉ được nhắc đến nhiều nhất… khi có sự cố điện. Nhưng chính họ lại là những người giữ cho cuộc sống của hàng triệu người vận hành bình thường.
50 năm - một con số đủ lớn để nhìn lại. Từ những ngày thiếu thốn, đến một thành phố không ngủ, nơi ánh đèn chưa bao giờ tắt. Đó không chỉ là câu chuyện của hạ tầng, mà là câu chuyện của con người - của sự tận tụy, của trách nhiệm, của một niềm tin âm thầm nhưng bền bỉ.
Tôi không làm trong ngành điện. Tôi chỉ là một người được hưởng ánh sáng mỗi ngày. Nhưng tôi biết, phía sau công tắc nhỏ bé trong nhà mình là cả một hệ thống khổng lồ, và hơn hết, là những con người đang âm thầm giữ cho dòng điện chảy mãi.
Đêm nay, thành phố vẫn sáng.
Và tôi chợt thấy, ánh sáng ấy không chỉ đến từ điện - mà còn đến từ lòng người.