Bác sĩ Hà Hải Nam, Phó trưởng Khoa Ngoại bụng 1, cho biết ung thư đại trực tràng thường bắt đầu âm thầm, không có dấu hiệu rõ ràng ở giai đoạn đầu. Đến khi bệnh tiến triển, triệu chứng có thể xuất hiện như đầy bụng, rối loạn tiêu hóa, đi ngoài ra máu, phân chuyển màu hoặc bị táo bón xen kẽ tiêu chảy. Nếu để muộn, người bệnh có thể gặp biến chứng nguy hiểm như tắc ruột, thủng đại tràng hay xuất huyết tiêu hóa.
Theo thống kê của Tổ chức Ung thư Thế giới (Globocan) năm 2020, Việt Nam có hơn 14.000 ca mắc mới và hơn 7.500 ca tử vong do ung thư đại trực tràng. Đáng lo ngại, bệnh đang có xu hướng gia tăng ở nhóm tuổi 30-40, thậm chí dưới 20 tuổi.
“Trong đó, chế độ ăn không khoa học trở thành yếu tố nguy cơ cao dẫn đến ung thư, thậm chí khiến bệnh tiến triển nhanh hơn”, bác sĩ Nam nói.
Đầu tiên, chế độ ăn nhiều thịt đỏ, thịt chế biến sẵn, ít rau quả là thói quen gây hại sức khỏe, tiếp tay cho ung thư tiêu hóa. Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) đã đưa thịt đỏ, đặc biệt là thịt chế biến ở nhiệt độ cao như chiên hay nướng vào nhóm 2A, tức là “có thể gây ung thư cho con người”.
Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng việc tiêu thụ thịt đỏ hay thịt chế biến sẵn nhiều lần mỗi tuần làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư tiêu hóa. Ví dụ, chỉ cần ăn 100g thịt đỏ mỗi ngày đã có thể tăng nguy cơ ung thư lên 17%. Nếu thêm 50g thịt chế biến sẵn hàng ngày (như xúc xích, thịt xông khói), nguy cơ này sẽ thêm 18%. Các chất bảo quản thường dùng trong thịt chế biến sẵn như nitrat, nitrit khi vào cơ thể có thể chuyển hóa thành hợp chất gây ung thư. Một nghiên cứu từ Singapore cũng cho thấy những thực phẩm chế biến giàu đường và chất béo còn sản sinh ra hợp chất methylglyoxal, tác động đến gene chống khối u và tăng nguy cơ mắc ung thư.
Lạm dụng thức ăn chiên, nướng nhiều lần, sử dụng thực phẩm ôi thiu, quá hạn, hay lạm dụng gia vị không đảm bảo an toàn cũng là những yếu tố nguy hiểm. Nướng đồ ăn trên than hoa, than củi cũng gây độc.
Chế độ ăn mặn cũng là yếu tố nguy cơ. Thực tế, người Việt Nam đang tiêu thụ trung bình 8,1g muối/ngày và 46,5g đường tự do/ngày, cao gần gấp hai lần so với khuyến cáo của WHO về mức tiêu thụ có lợi cho sức khỏe.
Theo Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) cho biết, Việt Nam là một trong 10 nước có người dân lười vận động nhất thế giới. Nghiên cứu của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, 30% người Việt trưởng thành thiếu vận động thể lực. Tố chất về thể lực, sức bền và sức mạnh của thanh thanh niên Việt Nam xếp vào mức kém so với tiêu chuẩn.
Tình trạng trẻ hóa người nghiện thuốc lá, nhất là loại thế hệ mới như thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng là nguyên nhân gây bệnh. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hút thuốc lá gây nhiều bệnh mạn tính và nan y. Trong khói thuốc lá có khoảng 7.000 chất hóa học, bao gồm 69 chất gây ung thư và là nguyên nhân gây ra 25 nhóm bệnh khác nhau, như 11 loại ung thư, các bệnh về tim mạch, hô hấp, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của cả nam và nữ. Ước tính, cứ hai người hút thuốc lá thì một người sẽ chết sớm, trong đó 1/2 số ca tử vong xảy ra ở tuổi trung niên.
Bên cạnh chế độ ăn uống, các yếu tố khác như tuổi tác, tiền sử viêm ruột mạn tính, xạ trị vùng bụng, hoặc gia đình có người mắc ung thư đại trực tràng, đa polyp tuyến, cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Khoảng 5% trường hợp liên quan đến đột biến gene như hội chứng Lynch.
Ung thư đại trực tràng có thể liên quan đến một số yếu tố như bệnh viêm ruột (bệnh Crohn, viêm loét đại tràng), yếu tố di truyền từ gia đình.
Bác sĩ khuyến cáo mọi người có thể giảm nguy cơ ung thư bằng những thay đổi nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Ăn nhiều rau củ, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, hạn chế thịt đỏ và đặc biệt nói không với thịt chế biến sẵn. Tăng cường vận động và duy trì tập thể dục ít nhất 30 phút/ngày sẽ không chỉ giúp cơ thể khỏe hơn mà còn đẩy lùi nguy cơ ung thư hiệu quả.
Nên sàng lọc định kỳ để phát hiện sớm polyp tiền ung thư. Nếu cắt bỏ polyp kịp thời, nguy cơ ung thư giảm tới 90%. Theo khuyến cáo Hiệp hội Ung thư Mỹ, người từ 45 tuổi nên sàng lọc dù không có triệu chứng. Với người có yếu tố nguy cơ cao (tiền sử cá nhân ung thư đại trực tràng hoặc polyp đại trực tràng, gia đình ung thư đại trực tràng, bệnh ruột viêm, tiền sử xạ trị vùng bụng hoặc chậu), cần sàng lọc sớm hơn, thậm chí từ 20-30 tuổi.
Ngày 15-4, Công an tỉnh Gia Lai cho biết Phòng Cảnh sát kinh tế vừa phối hợp với Sở Y tế tỉnh Gia Lai và Công an xã Bình Dương kiểm tra đột xuất cơ sở do N.T.U.N. (27 tuổi) làm chủ, thực hiện pha trộn các sản phẩm mỹ phẩm, kem dưỡng da các loại.
Tại thời điểm kiểm tra, cơ sở đang sản xuất, kinh doanh 4 loại mỹ phẩm gồm: kem body ủ lạnh siêu trắng 350g, kem body ủ lạnh siêu trắng 500g, bột lá tắm bà đẻ, kem cốt.
Cơ sở sản xuất này có diện tích khoảng 150m2, quy trình sản xuất hoàn toàn thủ công trên nền gạch, không có các biện pháp đảm bảo tiêu chuẩn an toàn.
Cụ thể, cơ sở này sử dụng các loại thau để chứa nguyên liệu sản xuất với thành phần chính là bột gạo. Từ đó phối trộn với các loại hóa chất, mỹ phẩm khác được mua trôi nổi trên thị trường, bao gồm những sản phẩm có chữ Trung Quốc không có nhãn phụ.
Sau đó cơ sở phối trộn và đóng chai, lọ theo khối lượng, dán nhãn thành các sản phẩm để kinh doanh qua các nền tảng trực tuyến, sàn thương mại điện tử.
Đoàn kiểm tra xác định cơ sở sản xuất, kinh doanh mỹ phẩm của N.T.U.N. có các hành vi vi phạm gồm: sản xuất mỹ phẩm khi chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm; đưa các sản phẩm mỹ phẩm ra lưu thông trên thị trường khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp số tiếp nhận phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm; kinh doanh mỹ phẩm không có hồ sơ thông tin sản phẩm.
Tại buổi kiểm tra, đoàn kiểm tra đã thu giữ 3 mẫu sản phẩm gồm kem body ủ lạnh siêu trắng 350g, kem body ủ lạnh siêu trắng 500g, bột lá tắm bà đẻ để phân tích, đánh giá chất lượng sản phẩm.
Ngoài ra đoàn kiểm tra cũng thu giữ toàn bộ "kem trộn" thành phẩm và các loại nguyên liệu dùng để sản xuất. Đồng thời yêu cầu cơ sở ngừng ngay hoạt động sản xuất, kinh doanh mỹ phẩm để làm rõ.
PGS-TS, bác sĩ Lương Tuấn Khanh, Giám đốc Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trung tâm tiếp nhận nhiều người bệnh đến khám, điều trị trong tình trạng đau do viêm quanh khớp vai.
Nguyên nhân viêm quanh khớp vai do tổn thương các cấu trúc mô mềm quanh khớp như gân, cơ, dây chằng, bao khớp, không liên quan trực tiếp đến tổn thương xương hay sụn khớp, chủ yếu ở phần mô mềm, nhưng lại gây ảnh hưởng rất lớn đến chức năng vận động.
Có 4 thể bệnh thường gặp, trong đó, thể đơn thuần thường do bệnh lý gân cơ; thể đau vai cấp; thể đông cứng do viêm dính, co thắt bao khớp, bao khớp dày, dẫn đến giảm vận động khớp ổ chảo - cánh tay; thể giả liệt do đứt gân cơ trên gai. Trong thực tế, các thể trên có thể kết hợp với nhau.
Các tổn thương thường gặp nhất trong viêm quanh khớp vai là tổn thương các gân cơ xoay gân cơ nhị đầu và bao thanh mạc dưới mỏm cùng vai.
Bệnh thường xuất phát từ 3 cơ chế chính: thoái hóa gân và chóp xoay theo tuổi; viêm bao hoạt dịch, viêm gân do vận động căng giãn gân cơ khớp vai lặp lại; co rút bao khớp (đông cứng khớp vai) gây hạn chế vận động.
Ngoài ra, những yếu tố như: lao động tay quá đầu (các hoạt động sử dụng cánh tay ở vị trí cao hơn vai, quá tầm đầu trong thời gian dài, hoặc lặp lại); chơi thể thao lặp đi lặp lại (tennis, golf, pickleball…), chấn thương hoặc phẫu thuật vùng vai, ít vận động hoặc bất động kéo dài đều có thể thúc đẩy bệnh tiến triển.
Về điều trị viêm quanh khớp vai, bác sĩ Khanh chia sẻ, nguyên tắc điều trị gồm 3 yếu tố chính: giảm đau, chống viêm; phục hồi tầm vận động khớp vai tăng sức mạnh cơ và ổn định khớp.
Trong đó, phục hồi chức năng và tập vận động là nền tảng quan trọng nhất, quyết định kết quả lâu dài, giúp người bệnh quay trở lại với các chức năng sinh hoạt bình thường.
Bệnh nhân cần được điều trị kết hợp: vật lý trị liệu (điện trị liệu và nhiệt trị liệu như: siêu âm trị liệu, điện xung, laser công suất cao, sóng xung kích, sóng ngắn; chương trình tập vận động trị liệu theo phác đồ cá thể hóa) và thuốc giảm đau, chống viêm khi cần.
"Điểm mấu chốt là không chỉ điều trị triệu chứng mà phục hồi chức năng vận động thực sự cho người bệnh", bác sĩ Khanh cho biết.
"Do triệu chứng ban đầu khá nhẹ, người bệnh thường nghĩ là đau cơ thông thường nên không đi khám. Ngoài ra, nhiều người ngại vận động vì sợ đau, điều này lại khiến khớp càng cứng hơn, tạo thành vòng xoắn bệnh lý", bác sĩ Khanh lưu ý.
Thạc sĩ vật lý trị liệu Nguyễn Thành Nam (Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai), chia sẻ thêm khi tham gia điều trị người bệnh thường sợ đau nên không muốn trị liệu, tập vận động, ngại hoặc bỏ dở tập giữa chừng, khiến bệnh kéo dài hoặc nặng hơn.
Với mỗi người, khi áp dụng vật lý trị liệu cũng như tập vận động phục hồi chức năng, kỹ thuật viên sẽ cài đặt, điều chỉnh các phương pháp vật lý trị liệu, thiết kế bài tập phù hợp với từng giai đoạn và theo dõi phản ứng của người bệnh, điều chỉnh cường độ tập.
Người bệnh cần tập vận động đúng hướng dẫn và duy trì luyện tập đều đặn; không bỏ tập giữa chừng, tập quá sức; không tự ý tập theo mạng.
Hạch to bằng ngón tay cái xuất hiện ở vùng cổ bên phải, không đau, anh dùng nhang đang cháy để châm đốt trực tiếp vào vùng da có hạch. Hạch không tan mà vùng da cổ bị bỏng để lại nhiều vết sẹo rỗ lỗ chỗ. Hạch ngày càng phình to, biến dạng vùng cổ, anh đến Bệnh viện Ung bướu TP HCM kiểm tra.
TS.BS.CK2 Lâm Đức Hoàng, Trưởng khoa Xạ trị Đầu cổ, Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, cho biết kết quả nội soi vòm hầu bệnh nhân phát hiện khối u sùi dễ chảy máu đã phát triển bít tắc hoàn toàn lỗ mũi trái. Hạch cổ xuất hiện ở cả hai bên (trái lớn hơn phải), dính chặt thành một khối to 6-7 cm.
Các kết quả chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu cho thấy bệnh đã tiến triển nặng. CT scan ghi nhận khối choán chỗ ở vòm hầu đã xâm lấn lên nền sọ giữa. Xạ hình xương phát hiện các tổn thương hủy xương vùng nền sọ. Xét nghiệm định lượng virus EBV - tác nhân liên quan mật thiết đến ung thư vòm hầu, tăng vọt.
Bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân mắc ung thư vòm hầu giai đoạn cuối. Khối u đã lớn và xâm lấn phức tạp, bệnh nhân được hóa trị trước nhằm kiểm soát bệnh và thu nhỏ khối bướu.
Theo bác sĩ Hoàng, các triệu chứng ung thư vòm hầu thường không đặc hiệu, dễ nhầm với bệnh tai mũi họng thông thường nên nhiều người bỏ qua "thời gian vàng".
Ung thư vùng đầu cổ có tốc độ nhân đôi và phát triển rất nhanh so với nhiều bệnh lý khác, có thể diễn tiến tại chỗ, tại vùng và di căn xa chỉ trong một thời gian ngắn. Phát hiện và can thiệp sớm, cơ hội điều trị hiệu quả rất cao, có thể khỏi bệnh. Trì hoãn điều trị hoặc áp dụng phương pháp thiếu khoa học như đốt thuốc, đắp lá... có thể kích thích khối u phát triển nhanh, tăng nguy cơ di căn.
Ù tai thường là dấu hiệu sớm và hay gặp nhất của ung thư vòm hầu, kèm theo nghe kém một hoặc hai bên tai. Bệnh có thể gây nghẹt mũi, chảy dịch mũi lẫn máu, nhức đầu, đau mặt giống viêm xoang. Ngoài ra, người bệnh dễ bị chảy máu cam tái diễn, đôi khi dẫn đến thiếu máu mạn tính.
Bác sĩ khuyến cáo không áp dụng các phương pháp thiếu chứng cứ khoa học như đắp lá, châm cứu hay "đốt nhang" vào các khối u, hạch bất thường trên cơ thể. Điều này có thể kích thích tế bào ung thư phát triển nhanh hơn, gieo rắc ra mô lành xung quanh và thậm chí đẩy tế bào ung thư di căn xa theo đường máu.
Cần đi khám sớm khi có dấu hiệu như ù tai, nghẹt mũi kéo dài, chảy máu mũi hoặc hạch cổ to dần, ít đau. Hạch nghi ngờ ung thư thường trên một cm, cứng chắc, không đau, di động kém cần được kiểm tra kịp thời.