Nghị định quy định chi tiết một số điều của luật Nhà giáo mới đây đã đưa ra chính sách thu hút, trọng dụng đối với nhà giáo, trong đó đối tượng được hưởng chính sách thu hút, trọng dụng bao gồm nhiều nhóm giảng viên.
Cụ thể, thứ nhất là người có tài năng (tốt nghiệp thủ khoa ĐH trong nước hoặc loại giỏi ở nước ngoài; tốt nghiệp ĐH xuất sắc từng đạt giải 3 các kỳ thi học sinh giỏi tỉnh, giải khuyến khích kỳ thi quốc gia trở lên; chuyên gia, nhà khoa học trẻ tài năng..)
Thứ hai là giáo sư, phó giáo sư hoặc được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh này. Thứ ba là người đạt thành tích cao cấp quốc gia, quốc tế trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, các ngành nghề truyền thống.
Thứ tư là nghệ nhân, nghệ sĩ, thầy thuốc có danh hiệu ưu tú, nhân dân; người có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 4/5 hoặc có chứng nhận kỹ năng nghề xuất sắc, đạt giải tại các kỳ thi này cấp khu vực, quốc tế.
Thứ năm là người đến làm việc tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Thứ sáu là giảng viên trong lĩnh vực trọng yếu, thiết yếu theo nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Cuối cùng là giảng viên dạy các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu; các ngành nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao, y tế, quốc phòng và an ninh.
Trong đó, giảng viên thuộc nhóm thứ năm được tuyển dụng theo hình thức tiếp nhận nhà giáo và không yêu cầu đáp ứng điều kiện về thời gian công tác; được hưởng chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định.
Các nhóm còn lại các ưu đãi được áp dụng thực hiện theo quy định tại Nghị định 179 của Chính phủ, như hưởng 100% lương trong thời gian tập sự, hưởng phụ cấp tăng thêm hàng tháng bằng 150% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng trong thời hạn 5 năm kể từ ngày có quyết định tuyển dụng; được ưu tiên thuê nhà công vụ, ưu tiên cao nhất khi mua nhà ở xã hội… phụ cấp tăng thêm.
Giáo Dục
Phát động cuộc thi hackathon về môi trường, tổng giải thưởng hơn 600 triệu đồng

Ngày 6-4, ba đơn vị thành viên của Tập đoàn Vingroup, gồm Quỹ Vì tương lai xanh, Trường đại học VinUni và Câu lạc bộ Tài năng công nghệ trẻ Vingroup - VinTechTalent, phát động cuộc thi hackathon phát triển giải pháp công nghệ vì tương lai bền vững - Asian Hackathon for Green Future.
Cuộc thi dành cho sinh viên, học viên cao học tại các trường đại học trên toàn châu Á, với tổng giá trị giải thưởng lên tới 24.000 USD (khoảng 632 triệu đồng).
Theo ban tổ chức, đây là lần đầu tiên một cuộc thi hackathon về môi trường quy mô toàn châu Á, dành riêng cho sinh viên, học viên cao học được tổ chức tại Việt Nam.
Cuộc thi hướng tới mục đích tìm kiếm và phát triển giải pháp công nghệ giúp giải quyết những thách thức môi trường cấp bách, đồng thời thúc đẩy tinh thần đổi mới sáng tạo và hợp tác liên ngành trong thế hệ trẻ.
Các thí sinh tham gia sẽ trải qua 3 vòng chính: vòng sơ loại (từ ngày 6-4 đến 17-5), vòng đào tạo trực tuyến (từ ngày 2 đến 28-6), và vòng chung kết - hackathon sẽ diễn ra tại Trường đại học VinUni (dự kiến từ ngày 2 đến 5-7).
Ở vòng sơ loại, các thí sinh đăng ký trực tuyến theo nhóm, mỗi đội tối đa 4 thành viên. Các thí sinh cần đảm bảo điều kiện đang là sinh viên hoặc học viên cao học tại các trường đại học trên toàn khu vực châu Á.
Hồ sơ dự thi bao gồm bản đề xuất ý tưởng và video giới thiệu. Trên cơ sở đánh giá của hội đồng chuyên môn, 30 đội xuất sắc nhất sẽ được lựa chọn vào vòng tiếp theo.
Cuộc thi khuyến khích các ý tưởng liên ngành, kết hợp nhiều lĩnh vực: công nghệ, môi trường, kinh tế và khoa học xã hội, tạo ra các giải pháp vừa đổi mới, vừa khả thi và có giá trị xã hội.
Các ý tưởng tập trung vào 3 nhóm thách thức: năng lượng tái tạo và giao thông phát thải thấp, chất lượng không khí đô thị và khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu, tài nguyên nước và nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tại vòng đào tạo trực tuyến, top 30 đội sẽ tham gia chuỗi huấn luyện và tư vấn chuyên sâu cùng các chuyên gia đa lĩnh vực để được trang bị thêm kiến thức chuyên ngành, cập nhật xu thế phát triển bền vững và công nghệ liên quan, từ đó giúp hoàn thiện và mở rộng ý tưởng cho giải pháp.
Ở vòng chung kết và lễ trao giải, các đội sẽ được tài trợ toàn bộ chi phí di chuyển và lưu trú. Các đội sẽ bước vào thử thách hackathon kéo dài 24 giờ liên tục tại Trường đại học VinUni (Hà Nội) nhằm phát triển và hoàn thiện giải pháp công nghệ, trước khi trình bày với hội đồng giám khảo. Từ đó, top 9 đội xuất sắc sẽ được lựa chọn để bước vào vòng đánh giá cuối cùng, tìm ra đội chiến thắng.
TS Lê Thái Hà - Giám đốc điều hành Quỹ Vì tương lai xanh, Trưởng ban tổ chức cuộc thi - cho biết Asian Hackathon for Green Future được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tinh thần đổi mới sáng tạo gắn với phát triển bền vững, đồng thời góp phần hình thành một thế hệ tài năng trẻ có khả năng hợp tác xuyên biên giới, cùng kiến tạo các giải pháp mang lại tác động tích cực và lâu dài cho khu vực.

Đối sánh môn toán giai đoạn 2021-2025 cho thấy chất lượng có sự phân hóa rõ giữa các vùng, miền, thậm chí trong nhóm thành phố trực thuộc T.Ư cũng tồn tại khoảng cách đáng kể. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận sâu hơn, không chỉ ở điểm thi mà ở cấu trúc chất lượng dạy học và các yếu tố hệ thống phía sau.
Trong thời đại công nghiệp 4.0, khi trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn chi phối đời sống, môn toán giữ vai trò nền tảng trong giáo dục phổ thông (GDPT). Không chỉ dừng ở tính toán, toán học rèn luyện cho học sinh tư duy logic, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề – những năng lực cốt lõi của tư duy khoa học và tư duy thuật toán.
Toán học là ngôn ngữ của khoa học – công nghệ, hiện diện trong nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu, kỹ thuật, tài chính hay y học. Vì vậy, chất lượng dạy và học toán ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành nguồn nhân lực công nghệ, đặc biệt là AI.
Nhiều quốc gia đã đổi mới mạnh mẽ dạy và học toán theo hướng phát triển năng lực: giảm ghi nhớ máy móc, tăng cường giải quyết vấn đề thực tiễn, mô hình hóa, tư duy thống kê và ứng dụng công nghệ số. Học sinh được khuyến khích khám phá, thảo luận, trình bày nhiều cách giải, làm dự án thực tiễn, thay vì học công thức, giải đề.
Chương trình GDPT 2018 đã tiếp cận theo hướng này. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn phụ thuộc lớn vào năng lực giáo viên, điều kiện dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá. Chính vì vậy, kết quả thi toán còn là "tấm gương" của toàn bộ hệ thống giáo dục.
Trong kỷ nguyên số, toán là nền tảng để làm chủ công nghệ và giữ vai trò then chốt trong các kỳ thi, đặc biệt kỳ thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, so sánh toàn quốc chưa phản ánh rõ khác biệt vùng miền, nên cần đối sánh theo nhóm địa phương có điều kiện tương đồng.
Trước ngày 1.7.2025, Việt Nam có 6 thành phố trực thuộc T.Ư. Sau mốc này, có thêm 6 tỉnh được sáp nhập vào 6 thành phố. Vì vậy, khi phân tích kết quả môn toán giai đoạn 2021–2025, cần đặt trong bối cảnh nhóm 12 địa phương, để bảo đảm tính hợp lý thực tiễn phát triển giáo dục.
Điểm trung bình của nhóm được tính bằng trung bình cộng điểm toán của 12 địa phương theo từng năm, trong khi mức trung bình cả nước là kết quả của 63 địa phương. Kết quả cho thấy điểm trung bình của nhóm luôn cao hơn mặt bằng chung cả nước.
Tính bình quân 5 năm, mỗi địa phương được lấy điểm trung bình của 5 năm liên tiếp. Nhóm 12 địa phương đạt mức 6,24 điểm, cao hơn mức 5,93 của cả nước khoảng 0,3 điểm. Dù không lớn, khoảng cách này cho thấy đây là nhóm có chất lượng dạy và học toán khá tốt, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và đội ngũ giáo viên ở các đô thị, địa phương phát triển.
Tuy nhiên, chênh lệch trong nhóm vẫn rõ rệt. So với mức trung bình cả nước, có 10 địa phương cao hơn, trong khi Hậu Giang và Sóc Trăng thấp hơn. Nếu so với mức trung bình của nhóm, chỉ 7 địa phương vượt lên, chủ yếu là các đô thị lớn và địa phương có điều kiện kinh tế tốt như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM và các tỉnh công nghiệp. Những nơi này có hệ thống trường học đa dạng, môi trường cạnh tranh và khả năng tiếp cận giáo dục STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học) tốt hơn.
Ngược lại, các địa phương như Huế, Cần Thơ, Quảng Nam, Hậu Giang, Sóc Trăng có điểm thấp hơn trung bình nhóm, chủ yếu do còn nhiều khu vực khó khăn, điều kiện dạy và học hạn chế.
Khoảng cách giữa địa phương cao nhất và thấp nhất lên tới hơn 1,2 điểm, phản ánh rõ sự khác biệt về điều kiện phát triển và chất lượng giáo dục. Nhìn chung, các vùng kinh tế phát triển vẫn có lợi thế rõ rệt, trong khi một số khu vực còn nhiều thách thức. Dữ liệu điểm và thứ hạng môn toán của 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Nếu đặt kết quả môn toán năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư (mới) trong tương quan xếp hạng với 34 tỉnh, thành phố mới sau sáp nhập, có thể rút ra một số nhận định tổng quan sau.
Trước hết, phần lớn các thành phố trực thuộc trung ương đều nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về môn toán. Hà Nội đạt 5,29 điểm (hạng 2/34), TP.HCM 5,26 điểm (hạng 3/34), và Hải Phòng 5,13 điểm (hạng 4/34). Ba đô thị lớn này đều thuộc top 5, cho thấy lợi thế rõ rệt về dạy và học toán.
Tiếp theo là Huế (4,90 điểm, hạng 7) và Đà Nẵng (4,89 điểm, hạng 8), tiếp tục khẳng định mặt bằng dạy học toán ở các đô thị lớn nhìn chung vẫn ở mức cao so với cả nước.
Trong khi đó, Cần Thơ chỉ đạt 4,32 điểm, xếp hạng 27/34, thấp hơn đáng kể. Kết quả này phản ánh phần nào thực trạng chung của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi điểm toán thường thấp hơn nhiều vùng khác.
Nhìn tổng thể, 5/6 thành phố trực thuộc T.Ư nằm trong top 10 toàn quốc về môn toán năm 2025, cho thấy lợi thế của đô thị lớn về điều kiện giáo dục, đội ngũ và môi trường học tập. Tuy nhiên, khoảng cách giữa Cần Thơ và các thành phố còn lại cũng cho thấy chênh lệch vùng miền vẫn tồn tại.
Đáng lưu ý, sau sáp nhập, sự chênh lệch này có thể bị "che lấp" trong số liệu trung bình. Nếu thiếu phân tích chi tiết theo vùng, nguy cơ bỏ sót các "vùng trũng" giáo dục là rất lớn.
Để lý giải sự khác biệt trên, cần nhìn từ 3 cấp độ: lớp học, nhà trường và hệ thống.
Ở cấp lớp học, phương pháp dạy học vẫn là yếu tố quyết định. Nhiều nơi vẫn nặng về luyện tập dạng bài, trong khi yêu cầu mới là phát triển tư duy và năng lực. Khi đề thi thay đổi, những hạn chế này bộc lộ rõ và những học sinh yếu sẽ mất tự tin khi gặp dạng đề thi mới.
Ở cấp nhà trường, sự khác biệt về điều kiện cơ sở vật chất, quy mô lớp học, và văn hóa học tập ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả. Những trường có môi trường học tập tích cực, chú trọng STEM thường có kết quả tốt hơn.
Ở cấp hệ thống, việc phân bổ giáo viên, đầu tư nguồn lực và chính sách hỗ trợ vùng khó khăn đóng vai trò then chốt. Những địa phương thiếu giáo viên toán giỏi thường gặp khó khăn kéo dài, khó cải thiện trong ngắn hạn.
Giáo Dục
Muốn mở chương trình đại học phải có tối thiểu 7 tiến sĩ, siết mạnh chuẩn đào tạo

Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nâng chuẩn đội ngũ giảng viên, tăng số lượng tiến sĩ, cơ sở vật chất và học liệu, chuyển sang quản lý chất lượng chương trình đào tạo giáo dục đại học thay vì chỉ kiểm soát thủ tục mở ngành.
Dự thảo thông tư cũng quy định rõ các yêu cầu về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu và hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ. Đồng thời thiết lập cơ chế công khai, minh bạch và cải tiến liên tục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tăng khả năng hội nhập quốc tế của giáo dục đại học.
Theo dự thảo, một chương trình đào tạo trình độ đại học thông thường muốn triển khai phải có ít nhất 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì, trong đó có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về xây dựng và tổ chức thực hiện.
Đối với các ngành đặc thù như sức khỏe, pháp luật, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, yêu cầu còn được thiết kế chặt chẽ hơn theo từng lĩnh vực.
Giảng viên chủ trì không chỉ cần đúng chuyên môn mà còn phải đáp ứng tiêu chuẩn về nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế hoặc thành tựu học thuật tương đương.
Trong thời gian tối thiểu ba năm tính đến ngày 31-12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích…
Đối với chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, trừ các chương trình đào tạo đặc thù, mỗi chương trình đào tạo phải có ít nhất 5 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, 2 phó giáo sư và 1 giáo sư có chuyên môn phù hợp chủ trì. Trong đó có 2 giảng viên và trong 2 giảng viên đó phải ít nhất 1 giảng viên có chuyên môn ngành gần chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình…
Bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 3 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế.
Dự thảo đồng thời giới hạn tỉ lệ giảng viên thỉnh giảng, yêu cầu giảng viên cơ hữu giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức đào tạo nhằm bảo đảm tính ổn định và chất lượng học thuật của chương trình.
Bên cạnh chuẩn về nhân lực, dự thảo siết đồng bộ điều kiện bảo đảm chất lượng đối với cơ sở vật chất và học liệu.
Theo đó, cơ sở đào tạo phải có đầy đủ phòng học, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành, cơ sở thực tập, hệ thống công nghệ thông tin và hạ tầng số phù hợp với từng chương trình đào tạo.
Với các ngành có yêu cầu thực hành cao, trường phải có cơ sở thực hành riêng hoặc ký kết hợp tác với đơn vị đủ điều kiện.
Đối với học liệu, giáo trình phải được cung cấp đầy đủ dưới dạng in hoặc số, phù hợp chuẩn đầu ra, cập nhật kiến thức mới và được rà soát định kỳ tối đa 6 năm/lần.
Điểm mới quan trọng là các điều kiện này không chỉ cần có tại thời điểm mở chương trình mà phải được duy trì trong suốt quá trình đào tạo, thể hiện sự chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang quản lý chất lượng xuyên suốt vòng đời chương trình.
Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo thông tư là chuyển đổi căn bản cách tiếp cận quản lý từ "mở ngành đào tạo", sang quản lý chương trình đào tạo dựa trên chuẩn và điều kiện bảo đảm chất lượng.
Theo đó, giảm mạnh cơ chế tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm và giám sát theo vòng đời chương trình đào tạo. Đồng thời gắn quyền tự chủ học thuật của cơ sở đào tạo với trách nhiệm giải trình và công khai thông tin.
Bên cạnh đó, thông tư thiết kế hệ thống chuẩn chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra, bảo đảm sự liên kết giữa mục tiêu, nội dung đào tạo và phương thức đánh giá.
Tăng tính linh hoạt trong xây dựng chương trình, cho phép phát triển các mô hình đào tạo đa dạng như liên ngành, xuyên ngành, tích hợp, song ngành... phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đáng chú ý, thông tư được xây dựng để thay thế và hợp nhất nhiều văn bản hiện hành, qua đó tạo sự thống nhất trong hệ thống quy định, phù hợp với mô hình quản lý mới của giáo dục đại học, chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý chất lượng dựa trên chuẩn và kết quả.

