Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nâng chuẩn đội ngũ giảng viên, tăng số lượng tiến sĩ, cơ sở vật chất và học liệu, chuyển sang quản lý chất lượng chương trình đào tạo giáo dục đại học thay vì chỉ kiểm soát thủ tục mở ngành.
Dự thảo thông tư cũng quy định rõ các yêu cầu về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu và hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ. Đồng thời thiết lập cơ chế công khai, minh bạch và cải tiến liên tục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tăng khả năng hội nhập quốc tế của giáo dục đại học.
Theo dự thảo, một chương trình đào tạo trình độ đại học thông thường muốn triển khai phải có ít nhất 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì, trong đó có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về xây dựng và tổ chức thực hiện.
Đối với các ngành đặc thù như sức khỏe, pháp luật, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, yêu cầu còn được thiết kế chặt chẽ hơn theo từng lĩnh vực.
Giảng viên chủ trì không chỉ cần đúng chuyên môn mà còn phải đáp ứng tiêu chuẩn về nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế hoặc thành tựu học thuật tương đương.
Trong thời gian tối thiểu ba năm tính đến ngày 31-12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích…
Đối với chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, trừ các chương trình đào tạo đặc thù, mỗi chương trình đào tạo phải có ít nhất 5 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, 2 phó giáo sư và 1 giáo sư có chuyên môn phù hợp chủ trì. Trong đó có 2 giảng viên và trong 2 giảng viên đó phải ít nhất 1 giảng viên có chuyên môn ngành gần chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình…
Bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 3 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế.
Dự thảo đồng thời giới hạn tỉ lệ giảng viên thỉnh giảng, yêu cầu giảng viên cơ hữu giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức đào tạo nhằm bảo đảm tính ổn định và chất lượng học thuật của chương trình.
Bên cạnh chuẩn về nhân lực, dự thảo siết đồng bộ điều kiện bảo đảm chất lượng đối với cơ sở vật chất và học liệu.
Theo đó, cơ sở đào tạo phải có đầy đủ phòng học, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành, cơ sở thực tập, hệ thống công nghệ thông tin và hạ tầng số phù hợp với từng chương trình đào tạo.
Với các ngành có yêu cầu thực hành cao, trường phải có cơ sở thực hành riêng hoặc ký kết hợp tác với đơn vị đủ điều kiện.
Đối với học liệu, giáo trình phải được cung cấp đầy đủ dưới dạng in hoặc số, phù hợp chuẩn đầu ra, cập nhật kiến thức mới và được rà soát định kỳ tối đa 6 năm/lần.
Điểm mới quan trọng là các điều kiện này không chỉ cần có tại thời điểm mở chương trình mà phải được duy trì trong suốt quá trình đào tạo, thể hiện sự chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang quản lý chất lượng xuyên suốt vòng đời chương trình.
Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo thông tư là chuyển đổi căn bản cách tiếp cận quản lý từ “mở ngành đào tạo”, sang quản lý chương trình đào tạo dựa trên chuẩn và điều kiện bảo đảm chất lượng.
Theo đó, giảm mạnh cơ chế tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm và giám sát theo vòng đời chương trình đào tạo. Đồng thời gắn quyền tự chủ học thuật của cơ sở đào tạo với trách nhiệm giải trình và công khai thông tin.
Bên cạnh đó, thông tư thiết kế hệ thống chuẩn chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra, bảo đảm sự liên kết giữa mục tiêu, nội dung đào tạo và phương thức đánh giá.
Tăng tính linh hoạt trong xây dựng chương trình, cho phép phát triển các mô hình đào tạo đa dạng như liên ngành, xuyên ngành, tích hợp, song ngành… phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đáng chú ý, thông tư được xây dựng để thay thế và hợp nhất nhiều văn bản hiện hành, qua đó tạo sự thống nhất trong hệ thống quy định, phù hợp với mô hình quản lý mới của giáo dục đại học, chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý chất lượng dựa trên chuẩn và kết quả.
Trường đại học Cửu Long là trường đại học ngoài công lập đầu tiên của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích hơn 22ha, bao gồm khu làm việc dành cho cán bộ quản lý, hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm, phòng mô phỏng doanh nghiệp, thư viện điện tử, khu nhà nghỉ, nhà ăn, khu thể thao sinh viên…
Tính đến nay trường đã đi qua hơn 24 năm xây dựng và phát triển. Trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực và cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng nhu cầu xã hội.
Đây cũng là trung tâm nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, văn hóa cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.
Đến với số phát sóng ngày 7-4 của Khám phá trường học 2026, quý phụ huynh và học sinh sẽ được khám phá đầy đủ cơ sở vật chất tại trường từ phòng học đến thư viện, các phòng thực hành dành cho sinh viên.
Ngoài ra, những hoạt động của các câu lạc bộ sinh hoạt trong nhà trường cũng được thể hiện trong tập phát sóng lần này.
Qua đó giúp các em học sinh có góc nhìn đầy đủ hơn về môi trường học tập mà mình đang cân nhắc, có phù hợp với sở thích và năng lực cá nhân hay không.
Bên cạnh đó, các phương thức tuyển sinh, chính sách dành cho người học của trường cũng sẽ được các giảng viên chia sẻ một cách chi tiết.
Từ đó giúp học sinh và quý phụ huynh có sự chuẩn bị tốt nhất cho hành trình tiếp theo của mình.
Khán giả có thể theo dõi chương trình vào lúc 19h ngày 7-4 trên các nền tảng của Tuổi Trẻ Online gồm tuoitre.vn, kênh YouTube báo Tuổi Trẻ…
Một số câu lạc bộ học tập và sinh hoạt tại Trường đại học Cửu Long
Phát biểu tại hội thảo "Đào tạo, trọng dụng tài năng trong bối cảnh mới" hôm qua 8.4, GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục cho rằng đào tạo và sử dụng nhân tài là giải pháp then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng "hai con số". Mặc dù các trường đại học đang được tạo điều kiện tối đa để trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và hạt nhân của hệ sinh thái khoa học công nghệ nhưng "chương trình tài năng vẫn còn là thuật ngữ xa xỉ" và "nhân tài ở đâu đó chứ không hiện hữu quanh ta".
"Chính sách phát hiện và bồi dưỡng nhân tài còn thiếu hệ thống và chưa liên tục. Liên kết giữa đào tạo - nghiên cứu - sử dụng còn lỏng lẻo. Chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển chưa đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa nhân lực chất lượng cao. Hiện tượng "chảy máu chất xám" và lãng phí nhân tài vẫn còn hiện hữu", GS Nguyễn Tiến Thảo nói.
GS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội cho biết, dù điều kiện thực hành ở bậc đại học đã có những bước tiến dài, nhưng nếu nhìn vào các phòng thí nghiệm dành cho hệ sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ), Việt Nam vẫn còn ở khoảng cách "rất xa so với thế giới". Mặt khác, chúng ta chưa tạo ra được môi trường để những người có tài năng thiên bẩm mang kiến thức vào thực tế cuộc sống và dẫn dắt xã hội.
TS Đặng Văn Huấn, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học cũng chia sẻ diễn biến triển khai Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025 - 2035 và định hướng tới 2045 mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt hồi tháng 5.2025.
Theo đó, Bộ GD-ĐT đã có một lộ trình khắt khe để đưa thuật ngữ "tài năng" thoát khỏi sự xa xỉ và trở nên thực chất hơn. Chuẩn chương trình đào tạo tài năng sẽ không dành cho số đông. Để được gọi là "tài năng", sinh viên phải vượt qua những rào cản đầu vào gắt gao: hoặc là những người đoạt giải quốc gia, quốc tế; hoặc phải nằm trong nhóm 20% có điểm số cao nhất toàn quốc.
TS Đặng Văn Huấn đưa ra một bảng tiêu chí lựa chọn cơ sở đào tạo tài năng với thang điểm 100 đầy thách thức. Chẳng hạn, một trường đại học muốn đào tạo tài năng phải có uy tín trong đào tạo tiến sĩ (20 điểm), có hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại (10 điểm) và các nhóm nghiên cứu mạnh với nhiều công bố quốc tế (15 điểm). Trong đợt xét chọn đầu tiên, chỉ có 92 ngành đào tạo đáp ứng được các tiêu chuẩn này, phần lớn tập trung vào lĩnh vực kỹ thuật và máy tính.
Theo tiến sĩ Verónica Boix-Mansilla, nghiên cứu viên chính tại Project Zero - nhóm nghiên cứu thuộc Trường sau ĐH về giáo dục Harvard thuộc ĐH Harvard (Mỹ), con em của chúng ta đang sống trong một thời đại mới nơi xung đột ngày càng gia tăng, sự phân cực chính trị ngày càng rõ rệt và những bất định ngày càng bủa vây. Thực tế đó đòi hỏi một thế hệ người trẻ có năng lực chung sống và làm việc với những người có suy nghĩ, lối sống hoàn toàn khác mình.
Để làm được điều này, bà đề cập đến khái niệm "năng lực toàn cầu" (global competence) - tức năng lực hiểu biết, phân tích và hành động trước các vấn đề toàn cầu hoặc liên văn hóa. Bà lưu ý, năng lực toàn cầu không phải là sao chép ý tưởng của người khác để áp dụng ở đất nước mình hay tệ hơn là trở thành ai đó khác. Ngược lại, đó là hiểu rõ bản thân: biết mình là ai, đến từ nền văn hóa nào và tôn trọng những giá trị gì.
"Năng lực toàn cầu phải được xây dựng trên những người trẻ có kết nối vững chắc với văn hóa bản địa và biết cách chủ động, sáng tạo, sống có trách nhiệm khi bước ra thế giới", tiến sĩ Boix-Mansilla nêu quan điểm tại hội thảo quốc tế "Việt Nam - Điểm chạm học thuật toàn cầu" tổ chức mới đây ở Dinh Độc Lập.
Kể với Thanh Niên, bà Boix-Mansilla khẳng định trong bối cảnh toàn cầu hóa, căn tính dân tộc là yếu tố vô cùng quan trọng. Nếu hòa tan quá mức (over-adaptation), bạn trẻ tăng nguy cơ bị khủng hoảng căn tính cá nhân và dễ đối diện với các vấn đề sức khỏe tinh thần. Nhưng ngược lại, nếu chỉ giữ khư khư căn tính Việt mà không chịu khó tìm hiểu về những nền văn hóa khác, khả năng thích nghi của các bạn với trật tự toàn cầu mới cũng bị hạn chế.
Căn tính dân tộc cũng cần đề cao khi người trẻ phát triển năng lực toàn cầu.
"Người trẻ cần học tiếng Anh không chỉ để hiểu những gì đang diễn ra ở New York và Điện Buckingham, mà còn để kể câu chuyện xảy ra ở đất nước nơi mình thuộc về cũng như tăng cường hiện diện trong những cuộc đối thoại toàn cầu", bà nói. Điều này đặc biệt quan trọng vì trong một thế giới mở, các bạn cần kết nối hiểu biết về địa phương với hiểu biết toàn cầu để đi tìm lời giải cho các vấn đề cộng đồng mình đang gặp phải.
Đồng tình, tiến sĩ Murat Günel, nguyên Tổng giám đốc The Koç School (Thổ Nhĩ Kỳ), cho biết nhiều học sinh trường ông chuộng đi nước ngoài để làm việc, trải nghiệm, từ Thái Lan, Ấn Độ đến Anh, Mỹ. Trong số đó, có em cho rằng việc tìm hiểu văn hóa nước mình là điều gì đó "tầm thường" và việc tỏ tường những nền văn hóa khác mới là "đẳng cấp".
"Các em chưa biết rằng, nếu không hiểu mình thì chẳng thể hiểu được người", ông nói.
Đó là lý do nam tiến sĩ khuyên người trẻ cần nắm chắc nguồn lực nội tại của bản thân trước, từ đó mới có thể chuyển hóa thành điều khác. Ví dụ việc học ngoại ngữ như tiếng Anh phải được xây dựng trên vốn liếng của ngôn ngữ mẹ đẻ - ở trường hợp này là tiếng Việt.
Ông Trung Lê, đồng sáng lập ReGenerating Education (Mỹ), cho biết trong một trật tự thế giới mới, một niềm tin cũ đang quay trở lại. Đó là đặt người trẻ vào những vấn đề thật, với quyền chủ động thực sự để tạo ra tác động đến xã hội thay vì chỉ để các em học trong những tòa "tháp ngà" học thuật. Điều này đã và đang thay đổi mục đích của việc học, từ "Con biết được bao nhiêu kiến thức?" thành "Con biết mình sẽ trở thành kiểu người thế nào?".
Đồng tình, tiến sĩ Verónica Boix-Mansilla lưu ý thế giới ngày nay đòi hỏi nhiều hơn ở việc học. Không chỉ là học kiến thức, mà còn phải học cách bảo vệ Trái đất, học cách tránh xung đột, học cách làm chủ những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ... "Tri thức không còn cố định mà liên tục sinh sôi, khiến những điều ta biết rõ hôm nay có thể chẳng là gì vào ngày mai", bà chia sẻ.
Nghệ sĩ Thanh Bùi, nhà sáng lập Trường phổ thông liên cấp Việt Nam Tinh Hoa (TP.HCM), chung quan điểm. Làm quen với sự thay đổi sẽ là kỹ năng sống còn, ông nhận định, vì ngày nay đã không còn cái gọi là "an toàn tuyệt đối". "Hàng chục nghìn gia đình nhận email lúc 6 giờ sáng để nhận tin mình bị sa thải vì cắt giảm nhân sự không còn là điều mới mẻ", ông chia sẻ.
"Trẻ cần học cách đủ dũng cảm chấp nhận sự thay đổi và chủ động thích nghi với nó", ông nói thêm.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Diệu Anh, giảng viên ở Khoa Tâm lý học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), thì lưu ý thêm song song với kiến thức, các em cũng cần được giáo dục nhận thức và hành vi về sức khỏe tâm thần, và yếu tố này cũng phải tích hợp trong bộ khung năng lực toàn cầu. "Để thành công, điều này cần có sự chung tay, đồng thuận giữa ba bên là giáo viên, phụ huynh và nhà trường", bà nói.