3 giờ sáng, khi sương muối còn bao phủ mặt biển, hàng chục chiếc thuyền nan công suất nhỏ của ngư dân xã Đồng Tiến (Hà Tĩnh) đồng loạt nổ máy, xé tan không gian tĩnh lặng, rẽ sóng vươn khơi. Chẳng cần đi đâu xa, chỉ cách bờ chừng hơn 1 hải lý, “vương quốc” nhuyễn thể không xương dập dềnh chờ những người con của biển.
Khi ánh nắng bắt đầu xuyên thấu lớp sương mù, tiếng máy nổ xình xịch quen thuộc lại vang lên báo hiệu những chiếc thuyền đầu tiên trở về. Dưới khoang, thành quả của cuộc mưu sinh lúc rạng sáng là hàng chục con sứa trắng muốt, có con to hơn cả vành nón lá, nằm chồng chất lên nhau.
Vừa cập bến với khoang thuyền đầy ắp sứa, ngư dân Hồ Phi Kính (56 tuổi) quệt vội những giọt mồ hôi, cười rạng rỡ: “Năm nay sứa về sớm và nhiều hơn mọi năm. Chỉ cần đi từ sớm đến khoảng 8 giờ sáng là thuyền đầy khoang. Có ngày cha con tôi trúng đậm hơn 5 tấn sứa, thu về 7 – 8 triệu đồng là chuyện thường”.
Dưới cái nắng vàng, ngư dân Nguyễn Văn Nam (50 tuổi) cùng vợ vận chuyển những con sứa khổng lồ lên bờ để bán cho cơ sở chế biến. Ông phấn khởi bảo: “Đây là chuyến thứ 2 trong ngày của tôi đấy, được khoảng hơn 2 tấn. Chuyến trước bán được hơn 3 triệu tiền sứa tươi. Giờ tôi phải quay ra làm thêm chuyến nữa vì lưới vẫn còn đang thả ngoài lộng. Với 3 chuyến trong ngày, dự kiến tôi thu về khoảng chục triệu”.
Theo các ngư dân, mùa sứa thường bắt đầu từ tháng giêng đến hết tháng 4 âm lịch. Việc đánh bắt sứa khá đơn giản, không cần máy móc hiện đại, chỉ với những chiếc lưới mắt thưa và kinh nghiệm quan sát dòng chảy, mỗi ngày một ngư dân có thể đánh bắt được từ 2 – 6 tấn sứa. Với giá bán tại bãi dao động từ 1.000 – 2.000 đồng/kg sứa thô, mỗi chuyến đi biển ngắn ngủi vài tiếng đồng hồ cũng giúp người dân thu về tiền triệu.
“Mùa này sứa nhiều vô kể, cứ cập bờ là cầm chắc tiền triệu trong tay. Chỉ sợ không đủ sức thu hoạch thôi!”, ngư dân Nguyễn Đình Hạnh (54 tuổi) hồ hởi nói.
Sứa lên bờ đến đâu, thương lái và các cơ sở chế biến chờ sẵn thu mua đến đó. Tại xã Đồng Tiến, một “công xưởng” dã chiến rộng chừng hơn 100 m2 mọc lên ngay sát mép biển, trở thành đại bản doanh của những “phu sứa” địa phương. Mùa này, xưởng sơ chế sứa của chị Nguyễn Thị Mai chưa bao giờ ngớt tiếng.
Bên trong, hơn 10 lao động, đa phần là phụ nữ, thoăn thoắt phân loại sản vật. Đôi tay của chị em cứ thế nhịp nhàng: chân sứa tách riêng, thân sứa được xẻ gọn thành từng miếng trắng trong, đều tăm tắp. Đang bóc tách từng thớ sứa một cách thuần thục, bà Ngô Thị Tín (53 tuổi) chia sẻ: “Cứ trúng mùa sứa là cả làng cùng vui. Không chỉ cánh đàn ông đi biển có tiền, mà chị em phụ nữ hay người già ở nhà cũng không hết việc”.
Với bà Tín và nhiều lao động tại đây, mùa sứa chính là “mùa vàng” thu hoạch. “Cứ mỗi buổi thế này, chủ trả cho chúng tôi tiền công 500.000 đồng. Hôm nào sứa về trắng bãi, làm tăng ca, có khi đút túi cả triệu bạc như chơi”, bà Tín phấn khởi nói thêm.
Đứng thu mua sứa cho ngư dân ngay tại xưởng, chị Mai bảo cái nghề làm sứa này cũng lắm công, cực nhọc vô cùng. Muốn miếng sứa giữ được cái chất giòn sần sật, mọng nước mà không nát, là một cuộc đua với thời gian. “Sứa vừa cập bờ là phải xử lý ngay. Sau công đoạn làm sạch nội tạng, sứa được cho vào những bể chứa khổng lồ, quậy đánh liên hồi để vắt bớt nước. Những thân sứa nhớt nhèo phải được rửa liên tục bằng nước biển mặn mòi mới dần săn lại được”, chị Mai chỉ tay về phía những bể chứa lớn nói.
Nhìn con số 50 tấn sứa tươi chị thu mua mỗi ngày từ ngư dân, ít ai hình dung được tỷ lệ hao hụt rất lớn khi chế biến loài nhuyễn thể này. Chị Mai bấm đốt ngón tay: “Cứ 10 kg sứa tươi rói từ biển về, phân loại chán chê mới chắt bóp được đúng 1 kg thành phẩm”. Với hàng chục tấn sứa được thu mua trong ngày, chị Mai phải thuê hơn 10 nhân công thời vụ làm việc luôn tay luôn chân để kịp giữ trọn cái vị thanh mát của biển trước khi sứa lên đường đến với bàn ăn của thực khách.
Sau khi rời khoang thuyền và qua sơ chế, sứa còn phải trải qua hành trình “lột xác” đầy công phu tại các cơ sở sản xuất đạt chuẩn OCOP.
Dẫn chúng tôi tham quan xưởng chế biến đạt chuẩn OCOP, ông Nguyễn Đình Dung, chủ một cơ sở có tiếng tại xã Đồng Tiến, ví von quy trình làm sứa chẳng khác nào một cuộc khổ luyện. Để có được miếng sứa trong veo, giòn sần sật, công đoạn đầu tiên là đưa sứa vào máy quay ly tâm, đánh liên tục suốt 8 tiếng đồng hồ. “Phải đánh ròng rã như thế mới loại bỏ sạch nhớt và tạp chất”, ông Dung chia sẻ.
Sau khi “tắm” sạch, sứa được ngâm trong muối tinh để săn lại, rồi tiếp tục trải qua quy trình ngâm nước sôi để nguội khép kín. Cuối cùng, những miếng sứa đạt chuẩn được đóng hũ nhựa hoặc hút chân không, quyện cùng nước dùng gia vị đặc trưng từ ớt, tỏi cay nồng.
Với những người làm sứa OCOP như ông Dung, cái khó nhất không nằm ở máy móc mà ở sự nhạy bén của người thợ. “Cực nhất là khâu canh thời gian. Sứa ngâm từ 8 – 10 ngày mới gọi là chín. Chỉ cần quá tay một chút là sứa cứng quắt, mà thiếu một ngày thì bị bở, coi như hỏng cả mẻ. Ngay cả lượng muối tinh cũng phải được cân đo chuẩn xác để giữ được độ thanh, giòn mà không còn mùi tanh của biển”, ông chủ dày dạn kinh nghiệm bộc bạch.
Ông Dung bảo trước đây, do sứa chỉ được xuất bán làm nguyên liệu thô, giá trị kinh tế không cao nên ngư dân chẳng mấy mặn mà. Trăn trở trước tình trạng đó, năm 2008, ông lặn lội ra các tỉnh phía bắc học nghề chế biến, sản xuất các sản phẩm từ sứa. Vài tháng sau, ông Dung về mở xưởng chế biến, mở ra hướng đi mới và giúp ngư dân yên tâm bám biển khi được thu mua với giá cao.
Đến năm 2020, để nâng tầm giá trị, xưởng chế biến sứa ép của ông Dung tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) và được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao. “Nếu như trước đây sứa ép của gia đình tôi chủ yếu bán ở các chợ thì giờ đây con sứa đã thực sự thoát khỏi ao làng, đàng hoàng tiến vào siêu thị và theo những chuyến xe đi xa, mang theo vị mặn mòi của biển miền Trung đến với thực khách cả nước. Nhiều năm nay, sứa của gia đình cũng đã xuất ngoại ra các thị trường như Đài Loan, Nhật Bản”, ông Dung phấn khởi khoe.
Giữa xưởng chế biến lồng lộng gió biển, ông Dung cho hay mỗi kg sứa thành phẩm hiện có giá dao động từ 40.000 – 45.000 đồng. Trung bình mỗi năm, cơ sở của ông tung ra thị trường mấy chục tấn sứa, doanh thu đạt hàng tỉ đồng.
Giữa lúc kinh tế còn nhiều khó khăn, những mô hình kinh tế biển hiệu quả như của gia đình ông Dung đang góp phần thay đổi diện mạo làng chài, giúp người dân bám biển, bám nghề bền vững. (còn tiếp)
Thông tin được ghi nhận tại báo cáo thị trường lao động quý 1 của Trung tâm Dịch vụ việc làm TP HCM (Sở Nội vụ). Nhu cầu tuyển dụng vượt khả năng cung ứng của thị trường, song doanh nghiệp vẫn hướng đến nhóm lao động trẻ hơn.
Từ dữ liệu của trụ sở chính và các điểm tiếp nhận, trung tâm ghi nhận hơn 52.600 người có nhu cầu tìm việc, trong khi doanh nghiệp cần tuyển tới 82.700 vị trí. Thị trường ở trạng thái "cầu vượt cung", nhưng phân bổ không đồng đều giữa các nhóm tuổi, trình độ và ngành nghề.
Nhóm 36–49 tuổi dẫn đầu nguồn cung với gần 21.000 người, tương đương gần 40%, cao hơn cả nhóm 25–35 tuổi, gần 38%.
Trong khi đó, phía nhà tuyển dụng, ở các vị trí yêu cầu độ tuổi, nhu cầu tuyển dụng dành riêng cho nhóm 36–49 tuổi chỉ ở mức 0,32%. Doanh nghiệp vẫn ưu tiên lao động trẻ 18–35 tuổi, với trên 41%.
Phân tích nguyên nhân, bà Nguyễn Văn Hạnh Thục, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm TP HCM, cho biết nhóm lao động trung niên chiếm tỷ lệ cao trong số người tìm việc chủ yếu là những người đã tích lũy kinh nghiệm, có xu hướng chuyển việc để cải thiện thu nhập hoặc môi trường làm việc.
Trong khi đó, phân khúc thị trường đang thiếu nhân lực nhiều nhất lại là lao động phổ thông, chiếm hơn 33%, tương đương hơn 27.600 vị trí. Doanh nghiệp cũng không đặt nặng trình độ khi tới 82% nhu cầu tuyển dụng không yêu cầu bằng cấp hoặc chỉ từ trung học phổ thông trở xuống. Nhu cầu chủ yếu đến từ các khu công nghiệp, khu chế xuất, nơi ưu tiên lao động trẻ, dễ thích nghi với điều kiện sản xuất.
Sự lệch pha cung – cầu này khiến không ít lao động trung niên gặp khó khăn, bởi dù có kinh nghiệm. Nhiều người không còn phù hợp với nhu cầu mới, nhất là ở các ngành sản xuất, kỹ thuật đòi hỏi kỹ năng thực hành và khả năng tiếp cận công nghệ.
Tuy nhiên, theo bà Thục, đây chưa hẳn là tín hiệu đáng lo. Với nhóm lao động có kinh nghiệm và trình độ, cơ hội việc làm vẫn đến từ các mối quan hệ cá nhân hoặc kênh tuyển dụng riêng. Ngoài ra, Trung tâm Dịch vụ việc làm TP HCM ghi nhận hơn 58% vị trí, tương đương khoảng 48.000 việc làm, không giới hạn độ tuổi, mở ra cơ hội cho lao động trung niên.
Một số ngành như sản xuất, cơ khí, bảo trì, vận hành máy vẫn thiếu nhân lực tay nghề cao, phù hợp với nhóm lao động giàu kinh nghiệm. Lĩnh vực bán hàng, dịch vụ cũng có khả năng tiếp nhận lao động phổ thông thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn.
Dự báo trong quý 2, nhu cầu tuyển dụng tiếp tục dao động 60.000-75.000 vị trí khi doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất. Tuy nhiên, nguồn cung có thể giảm nhẹ do người lao động có xu hướng ưu tiên ổn định sau giai đoạn biến động đầu năm.
Trước những đòi hỏi mới của quá trình phát triển, việc đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Tại Đà Nẵng, quá trình này được triển khai với tinh thần quyết liệt, đồng bộ và mang tính đột phá.
Thực hiện Nghị quyết 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng xác định rõ: tinh gọn bộ máy không chỉ nhằm giảm đầu mối mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Ngay từ khi bắt đầu triển khai, thành phố đã xây dựng lộ trình cụ thể, bài bản, thể hiện quyết tâm cao. Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy được xem là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, mang tính chất của một "cuộc cách mạng" trong hệ thống chính trị.
Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận của Đà Nẵng không dừng lại ở việc giảm số lượng cơ quan, đơn vị, mà hướng tới thay đổi về chất. Việc tinh gọn được đặt trong tổng thể yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị, cải cách hành chính và tăng cường hiệu quả phục vụ.
Theo đó, các cấp ủy, tổ chức Đảng chủ động rà soát, sắp xếp lại đầu mối bên trong từng cơ quan, đơn vị phù hợp với đặc điểm và yêu cầu phát triển. Đây không phải là quá trình cắt giảm cơ học mà đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng, gắn với chức năng, nhiệm vụ cụ thể.
Một trong những quan điểm xuyên suốt của thành phố là mọi cải cách đều phải hướng tới phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp. Đây cũng là xu hướng quản trị hiện đại, trong đó chính quyền không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn đóng vai trò là "chính quyền phục vụ", lấy sự hài lòng làm thước đo hiệu quả.
Một thách thức lớn trong quá trình tinh gọn bộ máy là làm sao vừa giảm đầu mối, vừa không làm gián đoạn hoạt động, thậm chí còn phải nâng cao hiệu quả. Đà Nẵng đã lựa chọn cách tiếp cận đồng bộ, đặc biệt chú trọng đến yếu tố con người.
Theo định hướng của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, việc sắp xếp tổ chức phải đi đôi với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Những vị trí chồng chéo chức năng, nhiệm vụ được rà soát, điều chỉnh; cán bộ có năng lực được bố trí phù hợp để phát huy tối đa hiệu quả.
Tinh gọn bộ máy không đồng nghĩa với cắt giảm đơn thuần, mà là quá trình chọn lọc, sắp xếp hợp lý để đúng người, đúng việc. Chỉ khi đội ngũ cán bộ thực sự tinh nhuệ, có năng lực và trách nhiệm, bộ máy mới vận hành hiệu quả.
Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số được xem là "đòn bẩy" quan trọng. Khi các quy trình được số hóa, minh bạch và tự động hóa, nhu cầu về các khâu trung gian sẽ giảm, góp phần làm cho bộ máy gọn nhẹ và linh hoạt hơn.
Một điểm nổi bật trong cách làm của Đà Nẵng là sự chủ động của các cấp ủy trong triển khai nhiệm vụ. Thay vì chờ hướng dẫn chi tiết, các cơ quan, đơn vị được khuyến khích đề xuất phương án sắp xếp phù hợp với thực tiễn.
Cách làm này giúp quá trình tinh gọn trở nên linh hoạt, tránh cứng nhắc, đồng thời phản ánh đúng đặc thù của từng lĩnh vực. Quan trọng hơn, nó tạo ra sự đồng thuận và nâng cao trách nhiệm trong toàn hệ thống, nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất.
Phát biểu tại các cuộc họp, ông Lê Ngọc Quang, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, luôn nhấn mạnh rằng việc tinh gọn bộ máy không chỉ nhằm giảm chi phí hay tăng tính gọn nhẹ, mà mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng phục vụ, tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp.
Theo ông, nếu bộ máy được tinh gọn nhưng hoạt động không hiệu quả, không giải quyết nhanh chóng thủ tục hành chính, không tháo gỡ được khó khăn cho doanh nghiệp thì cải cách sẽ không đạt ý nghĩa thực chất. Vì vậy, việc tổ chức lại bộ máy phải gắn với cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ và nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức.
Bí thư Thành ủy cũng yêu cầu phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực hợp lý cho cấp cơ sở. Theo đó, cấp thành phố tập trung vào hoạch định chiến lược, trong khi cấp xã, phường đóng vai trò chủ lực trong tổ chức thực thi.
Cùng với đó, cải cách bộ máy phải góp phần tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển. Chính quyền cần đóng vai trò đồng hành, chủ động tháo gỡ khó khăn, qua đó góp phần duy trì vị thế của Đà Nẵng trong nhóm địa phương có chỉ số cải cách hành chính và năng lực cạnh tranh cao.
Bí thư Thành ủy Đà Nẵng khẳng định mục tiêu cuối cùng của mọi cải cách vẫn là nâng cao chất lượng phục vụ. Khi bộ máy thực sự tinh gọn, vận hành hiệu lực, hiệu quả, đó không chỉ là thành công về tổ chức mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong giai đoạn mới.
Có thể thấy, với cách làm quyết liệt, linh hoạt và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, thành phố Đà Nẵng đang trở thành điểm sáng trong triển khai Nghị quyết 18.
Hơn hai tháng nữa đến thời hạn TP Hà Nội thực hiện Nghị quyết 57/2025 của HĐND thành phố về thực hiện vùng phát thải thấp (Lez), trong đó cấm xe máy chạy xăng theo khung giờ hoặc trong khu vực xác định thuộc vành đai 1.
Tại cuộc họp báo thường kỳ của UBND thành phố chiều 6/4, Sở Xây dựng cho biết việc cấm xe xăng từ 1/7/2026 được thí điểm theo vùng, kiểm soát khí thải ôtô, xe môtô, xe gắn máy có lộ trình, có phạm vi, thời gian và đối tượng phù hợp, không triển khai đồng loạt trên toàn vành đai 1.
Cấm xe xăng buộc người dân phải chuyển sang xe điện, hoặc sử dụng phương tiện vận tải công cộng. Sở Xây dựng cho hay thành phố đã chuẩn bị từ sớm về năng lực vận tải hành khách công cộng. Hiện vành đai 1 đã có hai tuyến đường sắt đô thị (Cát Linh - Hà Đông và Nhổn - Ga Hà Nội) với tổng công suất khoảng 462.000 lượt hành khách mỗi ngày và 45 tuyến xe buýt trợ giá.
Bên cạnh đó, Hà Nội đang phấn đấu tối đa hóa tỷ lệ xe buýt xanh hoạt động trong vành đai 1 trước thời điểm thí điểm. Dự kiến trong quý II/2026, thành phố sẽ bổ sung nhiều trạm xe đạp công cộng để giải quyết khoảng trống kết nối chặng cuối, đồng thời nghiên cứu mở thêm một số tuyến buýt điện cỡ nhỏ phù hợp với ngõ, phố hẹp trong vành đai.
Sở cũng đang lập phương án bố trí các bãi đỗ tại vị trí cửa ngõ giáp ranh vùng thí điểm để người dân gửi xe cá nhân rồi chuyển sang phương tiện công cộng. Bước đầu, Sở đã rà soát được hơn 210 vị trí trong vành đai 1.
Về hạ tầng trạm sạc và tủ đổi pin, hành lang pháp lý về phòng cháy chữa cháy cho trạm sạc dưới hầm chung cư cũ đang được cấp có thẩm quyền hoàn thành. Song song với đó, Tổ công tác liên ngành của thành phố đã xây dựng phương án ưu tiên triển khai mạng lưới tủ đổi pin nhỏ gọn tại không gian công cộng phù hợp, người dân chỉ mất 2-3 phút đổi pin, giải quyết đồng thời bài toán an toàn phòng cháy chữa cháy và không gian tại các khu tập thể cũ, phố cổ.
Sở Xây dựng đang phối hợp hoàn thiện dự thảo Nghị quyết về chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương tiện sử dụng năng lượng sạch để trình HĐND thành phố xem xét. Khung chính sách được đề xuất theo hướng phân rõ đối tượng, đảm bảo nhóm thu nhập thấp không bị thiệt thòi trong quá trình chuyển đổi.
Trước đó hôm 17/3, tại hội thảo "Kinh nghiệm quốc tế trong thúc đẩy chuyển đổi giao thông xanh", bà Lê Thanh Thủy, Phó trưởng phòng Môi trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội) cho biết một trong những định hướng đầu tiên thực hiện Nghị quyết 57/2025 là xác định phạm vi và mục tiêu của vùng phát thải thấp.
Bà Chi cho rằng Hà Nội không thể ngay lập tức làm một cách mạnh mẽ như ở các nước đang có tiền đề về tài chính, công nghệ, chính sách đầy đủ và toàn diện mà thành phố sẽ đi theo con đường từ bé đến lớn.
Cụ thể, thành phố thí điểm vùng phát thải thấp từ ngày 1/7 đến cuối năm 2026. Khu vực thí điểm là "một vành đai rất nhỏ trong vùng lõi của Hoàn Kiếm". Theo bà Chi, bản chất phố đi bộ Hồ Gươm và vùng phụ cận chính là vùng phát thải thấp, giờ sẽ tiếp tục thí điểm và mở rộng hơn.
Giai đoạn tiếp theo Hà Nội sẽ mở rộng ra toàn bộ khu vực trung tâm của phường Hoàn Kiếm, tiếp cận thêm một số phường khác và dần dần mở rộng để lộ trình 3 đến 5 năm tới ra hết vành đai 1 sang vành đai 2 và vành đai 3 như yêu cầu trong Chỉ thị 20 của Thủ tướng.
Chỉ thị số 20 ngày 12/7/2025 của Thủ tướng yêu cầu Hà Nội thực hiện các giải pháp để tổ chức, cá nhân chuyển đổi phương tiện, lộ trình đến ngày 1/7/2026 không có xe môtô, xe gắn máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch lưu thông trong vành đai 1; từ ngày 1/1/2028 không có xe môtô, xe gắn máy, hạn chế xe ôtô cá nhân sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong vành đai 1 và 2; từ năm 2030 tiếp tục mở rộng thực hiện trong vành đai 3.
Thực hiện chỉ thị, cuối năm 2025 HĐND thành phố thông qua Nghị quyết 57 về quy định thực hiện vùng phát thải thấp, trong đó từ 1/7/2026, thành phố sẽ cấm xe máy chạy xăng theo khung giờ hoặc trong khu vực xác định thuộc vành đai 1. Theo Luật Thủ đô 2024, vùng phát thải thấp là khu vực được xác định để hạn chế phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường. Hà Nội xác định xây dựng vùng phát thải thấp là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm ô nhiễm không khí - vấn đề thành phố đang đối mặt nhiều năm qua.