Chị Nguyễn Thị Hòa (sinh năm 1982), hiện sống tại Phúc Yên, từng có một hành trình đầy gian nan để cân chỉnh vóc dáng. Sau khi sinh bé thứ ba, cơ thể chị biến đổi trầm trọng. Cân nặng tăng không kiểm soát, kèm theo bệnh lý suy giáp do viêm giáp tự miễn khiến chị luôn trong trạng thái mệt mỏi và tự ti về ngoại hình mà chị tự mô tả là “sồ sề”.
“Mình cao 1,52 m nhưng nặng tới gần 55 kg, vòng eo chạm mốc 82 cm. Cảm giác như mỗi ngày đều phải vác một chiếc ‘thùng nước lèo’ trước bụng. Điều mình trăn trở nhất là làm sao để khỏe mạnh, làm tấm gương về lối sống cho ba đứa con”, chị Hòa chia sẻ.
Nôn nóng tìm lại vóc dáng, chị bắt đầu với chế độ ăn Keto (cắt giảm tối đa tinh bột). Trong hai tháng kiên trì, chị có giảm được số cân như ý nhưng cái giá phải trả không hề rẻ. Cơ thể chị luôn uể oải, thiếu sức sống do thiếu hụt tinh bột trầm trọng. Chồng chị thậm chí phản đối kịch liệt vì thấy vợ “hành xác” thay vì khỏe lên. Ngay sau khi quay lại chế độ ăn bình thường, cân nặng của chị nhanh chóng quay về vạch xuất phát.
Keto (ketogenic) là phương pháp giảm cân dựa trên việc cắt giảm tối đa carbohydrate, tăng chất béo và ăn protein ở mức vừa phải nhằm buộc cơ thể chuyển sang trạng thái đốt mỡ thay vì đường (ketosis). Tuy nhiên, chế độ ăn này cũng tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ như có thể khiến cơ thể thiếu chất, rối loạn điện giải, gây táo bón, những vấn đề về thận nếu không áp dụng đúng cách hoặc kéo dài, theo Very Well Health.
Tháng 6/2023, sau nửa năm theo dõi và tìm hiểu qua một người bạn, chị Hòa quyết định tham gia chương trình cân chỉnh vóc dáng dựa trên cơ cấu dinh dưỡng bền vững. Thay vì loại bỏ nhóm chất, chị học cách ăn đúng và đủ 4 nhóm: Đạm động vật, đạm thực vật, chất xơ và tinh bột.
Từ tháng 6 đến tháng 9/2023, trong vòng 90 ngày, chị Hòa tuân thủ nghiêm ngặt cơ cấu bữa ăn nhưng với tâm thế hoàn toàn thoải mái. “Điều mình thích nhất là không phải ăn kiêng. Mình nhận ra bấy lâu nay cả gia đình đã ăn sai, ăn thiếu chất mà không biết. Giờ đây, thực phẩm chỉ là rau củ quả theo mùa, theo vùng miền nên rất dễ chế biến và tiết kiệm”, chị Hòa cho biết.
Song song với việc điều chỉnh thực đơn, chị Hòa chọn đi bộ làm môn thể thao chính. Bắt đầu từ những bước chân nhỏ với 5.000 bước mỗi ngày, hiện tại chị duy trì đều đặn 10.000 bước.
Theo chị, đi bộ là bộ môn “rẻ nhất, dễ nhất” nhưng mang lại giá trị tinh thần cực lớn. Nó không chỉ giúp đốt cháy năng lượng mà còn là khoảng thời gian để chị giảm stress, kết nối với thiên nhiên và những người xung quanh. Sự nhẹ nhõm về cả thể chất lẫn tinh thần khiến chị cảm giác như được tìm lại “thanh xuân lần thứ hai”.
Đi bộ 10.000 bước mỗi ngày được xem là mục tiêu vận động của nhiều người. Hiệu quả tùy thuộc vào thể trạng của từng cá nhân, song bài tập này mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe tổng thể như giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tăng cường các cơ thân dưới, giảm cân hiệu quả, cải thiện tâm trạng và tập trung.
Lưu ý 10.000 bước không phải là mục tiêu tối ưu với mọi người. Số bước tốt nhất với mỗi người có thể thay đổi hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, dựa trên một số yếu tố như tuổi tác, thể lực, cân nặng, mục tiêu cá nhân, thói quen hoạt động thể chất nói chung. Người mới tập thể dục có thể giảm số bước chân mỗi ngày, trong khi người hay hoạt động cường độ cao trong thời gian ngắn có thể tăng số bước.
Kết quả sau 3 tháng khiến chính chị cũng ngỡ ngàng. Cân nặng giảm từ 54,8 kg xuống 49 kg, vòng eo giảm ngoạn mục 15 cm (từ 82 cm xuống 67 cm). Vòng một và vòng ba cũng trở nên săn chắc, gọn gàng hơn.
Dữ liệu từ cân sinh học – thiết bị đo lường tác động của lão hóa lên chức năng cơ thể – ghi nhận tuổi sinh học của Hòa dao động ở mức 32, trẻ hơn tuổi thực khi đó 10 năm.
“Mặc dù khái niệm tuổi sinh học vẫn còn nhiều tranh luận trong giới y khoa về phương pháp đo lường chuẩn xác, nhưng sự cải thiện rõ rệt về năng lượng và sức bền của là những bằng chứng thực tế”, người phụ nữ nói.
Thay đổi của chị Hòa đã lan tỏa thành lối sống của cả gia đình. Con cái chị hào hứng hơn với những bữa cơm “đa dạng sắc màu”, đủ chất xơ và đạm sạch. Thậm chí, người phụ nữ còn có thể áp dụng quy tắc ăn uống này ngay cả khi đi dự tiệc mà không lo tăng cân trở lại.
“Từ một bà nội trợ vừa kinh doanh vừa chăm con, việc thay đổi vóc dáng thành công không chỉ giúp mình khỏe hơn mà còn mở ra cơ hội nghề nghiệp mới. Mình có thêm công việc tay trái từ chính trải nghiệm của bản thân”, chị Hòa hạnh phúc chia sẻ.
Tại hội thảo quốc tế “Siêu âm vú 3D tự động (ABUS)” do Bệnh viện Từ Dũ tổ chức chiều 7-4, BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) - cho biết ung thư vú hiện nay vẫn là một trong những bệnh lý ác tính hàng đầu ở phụ nữ trên toàn thế giới, với xu hướng ngày càng gia tăng và trẻ hóa.
Theo thống kê của Globocan năm 2022, ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Việt Nam, với hơn 24.500 ca mắc mới và trên 10.000 ca tử vong mỗi năm, chiếm tỉ lệ 28,9% trong các loại ung thư ở nữ giới.
Riêng các ca ung thư vú ghi nhận tại Bệnh viện Từ Dũ, bác sĩ Hải cho hay cũng nằm trong xu hướng chung của thế giới và cả nước.
Theo ông, việc phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm giúp người bệnh có cơ hội điều trị hiệu quả và sớm quay trở lại cuộc sống bình thường. Ở giai đoạn này, nhiều trường hợp có thể được chỉ định các phương pháp điều trị bảo tồn thay vì phải đoạn nhũ.
Ngược lại, nếu phát hiện muộn khi khối u đã sờ thấy hoặc đã di căn, việc điều trị sẽ trở nên phức tạp hơn và tiên lượng kém hơn.
"Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao hiệu quả tầm soát, chẩn đoán sớm và quản lý bệnh một cách toàn diện", ông nhấn mạnh.
Bác sĩ Hải cho rằng với phương pháp siêu âm truyền thống (2D) thường không đau, thời gian nhanh, nhưng phải phụ thuộc hoàn toàn vào tay nghề và cách đặt đầu dò của bác sĩ, dễ bỏ sót các tổn thương nhỏ hoặc nằm ở vị trí khó.
Còn chụp nhũ ảnh thì rất đau do phải ép mạnh mô vú để chụp X-quang tuyến vú (nhũ ảnh) và phụ thuộc vào kỹ thuật ép cũng như máy X-quang, quy trình phức tạp, bệnh nhân có tâm lý lo sợ…
Trong khi đó siêu âm vú 3D tự động (ABUS) được xem là bước tiến quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú, cho phép khảo sát toàn bộ mô vú, tái tạo hình ảnh 3D, giúp phát hiện tổn thương tốt hơn, đặc biệt ở phụ nữ có mô vú dày, góp phần chuẩn hóa quy trình, giảm phụ thuộc người vận hành và hỗ trợ theo dõi tổn thương hiệu quả theo thời gian.
“Không có phương pháp nào thay thế được, mỗi phương pháp đều có giới hạn. Tùy trường hợp, bác sĩ có thể kết hợp linh hoạt phương pháp hay kết hợp nhiều phương pháp để đạt kết quả chẩn đoán chính xác. Với riêng siêu âm vú 3D sẽ tránh sai sót do yếu tố con người”, bác sĩ Hải nhận xét.
Theo BS.CKI Trịnh Thị Thu Thảo - khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ Dũ, với siêu âm 2D, bác sĩ phải trực tiếp thực hiện. Trong khi đó siêu âm 3D chỉ cần kỹ thuật viên, còn bác sĩ sẽ đọc và phân tích kết quả sau. Siêu âm 3D phù hợp hơn trong triển khai tầm soát diện rộng trong cộng đồng.
Bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, chuyên khoa Nội thuộc Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam, cho biết nhìn bằng mắt thường, methanol giống hệt ethanol an toàn do có dạng lỏng, trong suốt và mang mùi cồn. Tuy nhiên, ngay khi người dùng uống vào, cơ thể sẽ hấp thu nhanh độc chất qua dạ dày, ruột rồi phân bố khắp hệ tuần hoàn.
Điểm nguy hiểm nhất của ngộ độc methanol là giai đoạn "êm" đánh lừa nạn nhân. Trong vài giờ đầu, người uống chỉ thấy hơi chếnh choáng, buồn nôn, choáng váng giống hệt say rượu thông thường. Phải đến 12-24 giờ sau, khi gan dùng men alcohol dehydrogenase (ADH) biến methanol thành formaldehyde, rồi men aldehyde dehydrogenase (ALDH) tiếp tục chuyển hóa chúng thành acid formic, độc tính mới thực sự bùng phát. Chính acid formic trực tiếp tàn phá các cơ quan tiêu thụ nhiều năng lượng như não, dây thần kinh thị giác, tim và thận.
Lúc này, nạn nhân bắt đầu đau đầu dữ dội, nôn mửa, khó thở và rối loạn ý thức. Mắt họ mờ dần, nhìn thấy cảnh vật như có sương mù bao phủ, hiện tượng "tuyết rơi" hoặc trắng xóa trước mặt. Bác sĩ Hoàng nhấn mạnh đây là dấu hiệu hệ thần kinh thị giác đang chịu tổn thương nặng nề. Mọi ly rượu không nhãn mác, không kiểm định đều mang nguy cơ trở thành liều thuốc độc âm thầm.
Các bác sĩ hoàn toàn có thể cứu sống bệnh nhân ngộ độc methanol nếu người nhà đưa họ đến viện kịp thời. Cơ sở y tế sẽ lập tức áp dụng biện pháp lọc máu để loại bỏ nhanh methanol cùng acid formic ra khỏi cơ thể, đồng thời điều chỉnh rối loạn điện giải và hỗ trợ hô hấp. Ngược lại, việc cấp cứu muộn khiến bệnh nhân rơi vào hôn mê sâu, toan máu nặng. Khi đó, độc tố phá hủy não và mắt không thể đảo ngược, đẩy người bệnh vào cảnh mù lòa, tàn phế hoặc tử vong dù qua cơn nguy kịch.
Chuyên gia y tế khuyên người dân cảnh giác cao độ với đồ uống không rõ nguồn gốc. Nếu cơ thể xuất hiện triệu chứng đau đầu khác thường, nôn nhiều, mệt lả, mờ mắt hay thở sâu sau khi uống rượu 12-24 giờ, nạn nhân phải lập tức đến phòng cấp cứu. Mọi người tuyệt đối không giữ suy nghĩ "ngủ một giấc sáng mai sẽ đỡ" nhằm tránh đánh mất cơ hội chữa trị vàng.
Trong nhiều năm, các yếu tố nguy cơ của đột quỵ thường được xác định dựa trên lối sống và tình trạng sức khỏe ở tuổi trưởng thành, như béo phì, hút thuốc hay tăng huyết áp. Tuy nhiên, nghiên cứu mới do các nhà khoa học từ University of Gothenburg thực hiện đã mở rộng góc nhìn: nguy cơ đột quỵ có thể đã được "lập trình" từ khi một người chào đời.
Công trình phân tích dữ liệu của gần 800.000 người sinh tại Thụy Điển trong giai đoạn 1973-1982, theo dõi đến năm 2022. Kết quả cho thấy những người có cân nặng khi sinh dưới mức trung bình (khoảng 3kg) có nguy cơ đột quỵ cao hơn rõ rệt khi bước vào tuổi trưởng thành.
Cụ thể, nhóm này có nguy cơ mắc tất cả các dạng đột quỵ tăng khoảng 21%, trong đó nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ tăng đáng kể, còn xuất huyết nội sọ, dạng đột quỵ nguy hiểm hơn, tăng tới 27%.
Điều đáng chú ý là mối liên hệ này không bị ảnh hưởng bởi chỉ số BMI khi trưởng thành hay tuổi thai lúc sinh, cho thấy cân nặng khi sinh là một yếu tố độc lập.
Các nhà khoa học cho rằng cân nặng khi sinh phản ánh môi trường phát triển trong tử cung. Khi thai nhi không nhận đủ dinh dưỡng hoặc gặp điều kiện bất lợi, cơ thể có thể "thích nghi" bằng cách thay đổi cấu trúc và chức năng của các cơ quan, bao gồm hệ tim mạch và mạch máu não.
Những thay đổi này có thể không biểu hiện ngay nhưng âm thầm làm tăng nguy cơ bệnh lý trong tương lai, đặc biệt là các bệnh liên quan đến tuần hoàn máu như đột quỵ.
Nói cách khác, cơ thể "ghi nhớ" điều kiện sống từ trong bụng mẹ, và điều đó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe suốt nhiều thập kỷ sau.
Mặc dù tỉ lệ đột quỵ đã giảm ở nhiều quốc gia phát triển, nhưng xu hướng này không rõ rệt ở người trẻ. Thậm chí, tại một số khu vực ở Đông Nam Á và các nước phát triển, tỉ lệ đột quỵ ở người trẻ và trung niên đang có dấu hiệu gia tăng.
Điều này khiến các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến những yếu tố nguy cơ "sớm" như cân nặng khi sinh, những yếu tố mà trước đây ít được chú ý trong đánh giá nguy cơ.
Không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể phòng ngừa tương lai. Đối với người trưởng thành hiện nay, cân nặng khi sinh là yếu tố không thể thay đổi. Tuy nhiên, việc nhận diện nguy cơ sớm có thể giúp chủ động phòng ngừa.
Những người từng sinh nhẹ cân nên chú ý hơn đến các yếu tố nguy cơ khác như huyết áp, chế độ ăn, vận động và kiểm tra sức khỏe định kỳ. Việc kiểm soát tốt các yếu tố này có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ đột quỵ.
Quan trọng hơn, phát hiện này mở ra cơ hội can thiệp từ sớm, ngay từ giai đoạn mang thai. Chăm sóc dinh dưỡng tốt cho mẹ bầu, theo dõi thai kỳ chặt chẽ và đảm bảo điều kiện phát triển tối ưu cho thai nhi có thể góp phần giảm nguy cơ bệnh tật cho thế hệ tương lai.
Nghiên cứu được trình bày tại European Congress on Obesity 2026 không chỉ cung cấp thêm bằng chứng về mối liên hệ giữa giai đoạn đầu đời và sức khỏe lâu dài, mà còn gợi ý rằng cân nặng khi sinh có thể được đưa vào các mô hình đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch.
Đây là một bước tiến trong cách tiếp cận y học dự phòng, không chỉ nhìn vào hiện tại, mà còn xem xét toàn bộ "lịch sử sinh học" của một con người.