Theo báo cáo kinh tế – xã hội quý 1/2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (quý 1/2025 tăng 7,07%). Đây cũng là mức tăng GDP quý đầu năm cao nhất trong vòng 10 năm qua. Đáng chú ý, những lĩnh vực vốn được đánh giá sẽ chịu tác động trực tiếp ngay khi chiến sự tại Trung Đông nổ ra vẫn có sự bứt phá ngoạn mục. Trong đó, hoạt động xuất khẩu vẫn tăng cao bất chấp cước phí logistics nhảy vọt. Cụ thể, cước container đi Mỹ và EU tăng gấp 2 – 3 lần so với trước đó nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3 vẫn tăng đến 40,3% so với tháng 2 và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đưa xuất khẩu cả nước trong quý đầu năm đạt 122,93 tỉ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tương tự, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có sự đảo chiều ngoạn mục. Nếu như tháng đầu năm, vốn FDI đăng ký chỉ đạt khoảng 2,57 tỉ USD, giảm so với cùng kỳ năm trước và tổng cộng sau 2 tháng chỉ đạt hơn 6 tỉ USD thì bước sang tháng 3, vốn FDI nhảy vọt. Tổng cộng cả quý 1, VN thu hút vốn FDI đạt 15,2 tỉ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đà tăng của tổng số vốn đăng ký, vốn FDI thực hiện trong 3 tháng đầu năm đạt 5,41 tỉ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất của 3 tháng đầu năm trong 5 năm qua, tiếp tục giữ vững mức đỉnh liên tục cao nhất trong 5 năm trở lại đây của vốn giải ngân. Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) nhận định trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới gia tăng, nhiều tập đoàn đa quốc gia có xu hướng điều chỉnh chiến lược đầu tư theo hướng thận trọng hơn, ưu tiên tối ưu hóa chuỗi cung ứng hiện hữu và đánh giá lại kế hoạch mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực châu Á – Thái Bình Dương vẫn tiếp tục diễn ra, trong đó VN vẫn được đánh giá là điểm đến có sức hấp dẫn nhờ môi trường chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng và vị trí thuận lợi trong chuỗi sản xuất khu vực.
Một lĩnh vực giữ vững phong độ dù bị tác động trực tiếp là du lịch. Số liệu công bố cho thấy trong tháng 3, VN đón gần 2,1 triệu lượt khách quốc tế, đánh dấu lần đầu tiên 3 tháng liên tiếp VN vượt mốc 2 triệu lượt khách quốc tế. Tổng cả quý 1, VN đón 6,76 triệu lượt khách quốc tế, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức cao nhất trong quý 1 từ trước đến nay. Tuy nhiên, nếu chỉ nói về mức tăng số lượng khách nước ngoài là chưa đủ bởi việc duy trì ở mức cao liên tục trong tháng 3 cho thấy trong mắt du khách, VN vẫn là điểm đến an toàn, hấp dẫn. Con số này càng trở nên ý nghĩa khi trong tháng 3, hàng loạt chuyến bay quốc tế bị hoãn, hủy cũng như giá vé máy bay nhảy vọt khiến nhiều người phải thay đổi kế hoạch du lịch. Thế nhưng, khách quốc tế đến VN vẫn tăng trưởng ổn định, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành thương mại và dịch vụ trong những tháng đầu năm…
Chuyên gia kinh tế, đại biểu Quốc hội, PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhận định kết quả tăng trưởng ấn tượng quý 1/2026 của VN không đến một cách tự nhiên mà là kết quả của quá trình cải cách, chuẩn bị trong thời gian vừa qua. Đó là cải cách thể chế, thực hiện chính quyền theo mô hình 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp phân quyền cho địa phương. “Xuất phát từ khát vọng, niềm tin của người dân từ các hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày đất nước thống nhất, kỷ niệm 80 năm thành lập nước, thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và cả dân tộc bước vào kỷ nguyên mới cũng góp phần tạo nên tăng trưởng kinh tế cao. Hơn nữa, kết quả đó cũng thể hiện sự điều hành sát sao, kịp thời của Chính phủ, đặc biệt trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới lên cao trong đầu năm nay”, ông Trần Hoàng Ngân lý giải.
Đáng chú ý, trong bối cảnh nhiều quốc gia Đông Nam Á lao đao vì cú sốc năng lượng khi chiến sự tại Trung Đông bùng nổ từ cuối tháng 2, VN nổi lên như một điểm sáng hiếm hoi giữa cơn khủng hoảng được đánh giá là nghiêm trọng nhất trong nhiều thập niên khi giữ ổn định thị trường xăng dầu, duy trì nguồn cung năng lượng cho các hoạt động kinh tế – xã hội…
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, từ đầu tháng 3 đến nay, tình hình thế giới bắt đầu có những biến động lớn. Căng thẳng tại khu vực Trung Đông, đặc biệt là xung đột giữa Iran và Mỹ – Israel đã tạo ra nguy cơ khủng hoảng năng lượng. Giá dầu thô tăng cực mạnh, chi phí logistics, phí bảo hiểm hàng hóa và chi phí vận chuyển đều tăng vọt. Nhờ Chính phủ có những chính sách kịp thời như giảm thuế, phí liên quan đến xăng dầu, sử dụng Quỹ bình ổn để bình ổn giá nhiên liệu, kịp thời cắt đứt tâm lý kỳ vọng lạm phát và tình trạng đầu cơ, tích trữ. “Chính sách phản ứng linh hoạt, đồng bộ đã giúp kinh tế trong nước vượt qua cú sốc lớn từ thế giới. Đồng thời, việc tiếp tục triển khai tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, các dự án tồn đọng hay giải ngân đầu tư công đã mang lại kết quả rõ nét. Cùng với sự điều hành linh hoạt của Chính phủ và sự đồng lòng của các địa phương, nhất là những đầu tàu kinh tế như TP.HCM, Hà Nội… chúng ta đã đạt được kết quả tích cực. Nếu không có cú sốc từ chiến sự ở khu vực Trung Đông, tăng trưởng kinh tế VN trong quý đầu năm nay có thể còn tăng cao hơn, vượt 8%”, PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng (Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân) cũng đánh giá rất cao quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Bộ Chính trị. Bởi VN đã trải qua 40 năm đổi mới với nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn thiếu những đột phá mang tính bước ngoặt, khiến nền kinh tế chưa thể vượt khỏi bẫy thu nhập trung bình. Nếu tiếp tục duy trì tốc độ phát triển như hiện nay, phải cần thêm hàng chục năm để hình thành nền công nghiệp hiện đại. Chưa kể, các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đang hội tụ, nếu không kịp nắm bắt, cơ hội này sẽ khó lặp lại.
Với tinh thần đó, Chính phủ đã có ứng biến rất nhanh, rất linh hoạt trước cơn bão giá nhiên liệu bất ngờ ập tới. Mặc dù đã tích lũy được sức mạnh nội sinh vững chắc, song, với đặc thù phụ thuộc một phần vào năng lượng nhập khẩu, VN khó tránh khỏi những tác động lan tỏa từ thị trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, nguồn cung xăng dầu trong nước vẫn cơ bản được bảo đảm, chuỗi cung ứng duy trì thông suốt, góp phần giảm áp lực lên sản xuất, kinh doanh và chi phí sinh hoạt của người dân. Một loạt quyết sách thuế mang tính “phòng thủ” và “trợ lực” rất mạnh mẽ, thậm chí hiếm thấy, như rút ngắn chu kỳ điều hành giá xăng dầu, đã được ban hành thần tốc, không chỉ giúp bình ổn tâm lý thị trường mà còn trực tiếp kiềm chế lạm phát trong bối cảnh áp lực chi phí đầu vào tăng cao. Đặc biệt, Chỉ thị 09 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông điện được PGS-TS Nguyễn Thường Lạng ví như “cơn mưa đúng lúc”, giúp định hướng rõ ràng cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong việc ứng phó thách thức trước mắt, đồng thời chuẩn bị cho chiến lược dài hạn.
“Việc tăng cường tiết kiệm năng lượng được xem là giải pháp “hai trong một” khi vừa giúp giảm áp lực lên nguồn cung, vừa trực tiếp cắt giảm chi phí cho nền kinh tế. Có thể thấy, từ các biện pháp ngắn hạn đến định hướng dài hạn về cung ứng, dự trữ nguyên, nhiên liệu, các quyết định đều được đưa ra rất nhanh, linh hoạt, bám sát thực tiễn. Các quyết sách không chỉ hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô trong biến động ngắn hạn của thị trường năng lượng mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của những người lãnh đạo đất nước tiến tới một mô hình tăng trưởng bền vững hơn trong tương lai”, PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhận xét.
Kết quả tăng trưởng quý 1 khả quan nhưng các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng trong quý 2/2026, kinh tế – xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động từ các biến động địa chính trị thế giới, dịch bệnh, thiên tai khó dự báo. Với sự kiên định từ Đảng và Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên thì nhiệm vụ của các quý còn lại trong năm rất nặng nề. PGS-TS Nguyễn Thường Lạng lưu ý trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, chính sách tài khóa và tiền tệ cần phải phối hợp nhịp nhàng, vừa định hướng, vừa khuyến khích phát triển, phù hợp chiến lược tăng trưởng của đất nước. Cách triển khai cũng phải linh hoạt, nới lỏng có kiểm soát để vừa thúc đẩy sản xuất và đầu tư, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Cụ thể, cần tập trung thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học – công nghệ và chuyển đổi số. Các công cụ như thuế, chi tiêu công, đặc biệt là đầu tư công, phải được sử dụng hiệu quả, có trọng tâm, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm và hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn.
Quan trọng hơn, cần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, nhất là về công nghệ; nếu phụ thuộc vào bên ngoài sẽ khó đạt tốc độ phát triển nhanh và bền vững. Chính sách tài khóa, tiền tệ cần hướng tới xây dựng năng lực nội sinh vững mạnh, từ công nghệ, mô hình phát triển đến nguồn lực và phương thức tổ chức. Nhà nước cần nhanh chóng đầu tư mạnh mẽ vào khoa học, công nghệ, tập trung giải quyết những vấn đề then chốt, đặc biệt là 11 công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ trọng điểm. Sau đó, ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, dịch vụ và đời sống. Đây là nền tảng để nâng cao năng suất, hiệu quả và xây dựng mô hình phát triển thông minh, bền vững. Bên cạnh đó, cần tập trung vào “đại dự án”, “đại tập đoàn” và “đại vùng kinh tế” có sức lan tỏa lớn, khả năng kết nối mạng lưới rộng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và cập nhật xu hướng công nghệ, phát triển toàn cầu. Những dự án trọng điểm sẽ trở thành hạt nhân dẫn dắt, tạo mô hình phát triển thông minh, sáng tạo và nâng cao chất lượng tăng trưởng. PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh: “Đây sẽ là những “động lực của động lực”, dẫn dắt VN bước vào kỷ nguyên tăng trưởng mới với tốc độ và hiệu quả chưa từng có”.
Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng để đảm bảo đạt mục tiêu tăng trưởng cao đã đề ra, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phân cấp phân quyền cho các địa phương. Chính phủ phải có niềm tin và để địa phương quyết, địa phương làm và địa phương tự chịu trách nhiệm. Việc này song hành với hoàn thiện thể chế sẽ tháo gỡ được các điểm nghẽn lâu nay của nền kinh tế. Từ đó giúp các bộ ngành hay tỉnh, thành tránh được tình trạng có tiền nhưng không tiêu được, các dự án đầu tư công sẽ được triển khai kịp thời, đúng tiến độ. Đặc biệt, Chính phủ cần triển khai kịp thời 3 đột phá chiến lược đã đề ra tại Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Đó là đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, đột phá về nguồn nhân lực và đột phá về hạ tầng. Đồng thời, phát triển khoa học – công nghệ, chuyển đổi số vẫn là chiến lược xuyên suốt để tạo động lực cho các ngành kinh tế tăng tốc đi lên. Song song đó, Chính phủ cũng cần bám sát các nghị quyết của Bộ Chính trị ban hành trong điều hành kinh tế – xã hội. Tất cả những hoạt động cần phải được thực hiện nhanh hơn, thực chất hơn để tạo ra sự đồng lòng của cả nước. Từ đó có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng cao, thực chất và bền vững mà Đảng đã đề ra.
Tại khu vực miền Nam, từ ngày 1 đến ngày 3.4, ông Cao Quang Quỳnh, Thành viên Hội đồng thành viên EVN, cùng lãnh đạo Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), lãnh đạo Trung tâm điều độ Hệ thống điện miền Nam (SSO) đã làm việc với UBND Tây Ninh, UBND TP.Cần Thơ và các sở ngành liên quan. Qua đó, ngành Điện và chính quyền địa phương đã quán triệt và thể hiện rõ tinh thần phối hợp chặt chẽ, cùng đồng hành để đảm bảo cung ứng điện trong cao điểm nắng nóng và cả năm 2026; đồng thời quyết tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắt để đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình lưới điện trên địa bàn.
Nhằm đảm bảo cung ứng điện trong mùa nắng nóng và cả năm 2026, bên cạnh các giải pháp quản lý, vận hành, các đơn vị Điện lực tại Tây Ninh và TP.Cần Thơ đặc biệt chú trọng đến công tác tiết kiệm điện, điều chỉnh phụ tải.
Theo đó, các đơn vị đã ký thỏa thuận tiết kiệm điện với các khách hàng lớn; phối hợp Sở Công thương, các cơ quan sở ngành và đoàn thể địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền tiết kiệm điện; theo dõi, đánh giá định kỳ kết quả thực hiện các chỉ tiêu tiết kiệm điện hằng tháng để kịp thời chấn chỉnh; triển khai hiệu quả công tác điều chỉnh phụ tải (DR), dịch chuyển phụ tải tự nguyện; làm việc với khách hàng để huy động máy phát điện diesel trong tình huống khẩn cấp của hệ thống điện…
Hiện, ngành Điện đã và đang chủ động triển khai các giải pháp, nỗ lực đảm bảo cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, trước tình hình nắng nóng đến sớm ở cả ba miền, thậm chí gay gắt tại khu vực miền Nam, tình hình chiến sự Trung Đông và bất ổn chính trị trên thế thế giới làm đứt gãy chuỗi cung ứng, ảnh hưởng đến an ninh năng lượng.
Ông Bùi Quốc Hoan, Phó tổng giám đốc EVNSPC cho biết, để đảm bảo cung ứng điện trong năm 2026, đặc biệt trước mùa khô, EVN, EVNSPC rất cần sự phối hợp chặt chẽ, vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa của chính quyền các địa phương và khách hàng sử dụng điện trong triển khai 4 giải pháp trọng tâm: Quyết liệt trong sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả; khuyến khích lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS);đẩy mạnh chương trình dịch chuyển phụ tải vào các giờ cao điểm; tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ các công trình điện trên địa bàn, nhất là các công trình trọng điểm, cấp bách tăng khả năng cấp điện cho các địa phương.
Theo ông Nguyễn Mạnh Tùng, Giám đốc SSO, thời gian qua, được sự chỉ đạo từ các cấp thẩm quyền, SSO đã phối hợp với EVNSPC, các Công ty Điện lực phía Nam xây dựng, tham mưu và được UBND các tỉnh phê duyệt, ban hành danh sách phụ tải cấp điện ưu tiên, phương án cấp điện trong tình huống mất cân đối cung cầu hệ thống… Đây là cơ sở quan trọng để SSO, EVNSPC vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định trong thời gian tới.
Khẳng định EVN sẽ nỗ lực tối đa để đảm bảo cung ứng điện cho phát triển kinh tế xã hội, sinh hoạt của nhân dân của các địa phương trong năm 2026, ông Cao Quang Quỳnh, Thành viên Hội đồng thành viên EVN, mong tiếp tục nhận sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ hơn nữa của lãnh đạo UBND, cơ quan, sở ngành các tỉnh, thành phố….
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt yêu cầu tăng trưởng 2 con số, EVN, EVNSPC đã ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển lưới điện trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và TP.Cần Thơ. Tuy nhiên, hiện còn rất nhiều công trình đang gặp rào cản trong công tác giải phóng mặt bằng và vướng mắc thủ tục đầu tư, ảnh hưởng đến tiến độ, trong đó có nhiều công trình trọng điểm, cấp bách đảm bảo điện cho địa phương. Do đó, ngành Điện rất cần sự vào cuộc quyết liệt hơn nữa của chính quyền các địa phương trong việc tháo gỡ những rào cản, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, nâng cao năng lực cung ứng điện.
Lãnh đạo EVN cũng kiến nghị chính quyền địa phương quan tâm, có chỉ đạo quyết liệt để người dân, doanh nghiệp, cũng như các cơ quan, ban ngành tại các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà. Mục tiêu đặt ra là tiết kiệm 3% tổng sản lượng điện tiêu thụ, riêng các tháng cao điểm (tháng 4,5,6) phải phấn đấu đạt trên 10%; trong đó, nhóm cơ quan công sở yêu cầu phải tiết kiệm tối thiểu 5% so với cùng kỳ; nhóm chiếu sáng công cộng tiết kiệm tối thiểu 30% so với cùng kỳ; và nhóm thương mại dịch vụ tiết kiệm tối thiểu 50% phần chiếu sáng quảng cáo...
Là một trong những tỉnh có tăng trưởng phụ tải điện cao của khu vực phía Nam, trong đó thành phần công nghiệp - xây dựng chiếm tỉ trọng tới 71,63% điện thương phẩm, ông Nguyễn Hồng Thanh, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Tây Ninh, đánh giá cao tinh thần chủ động, tích cực của EVN và các đơn vị trực thuộc trong việc chuẩn bị kỹ lượng, bài bản các phương án đảm bảo điện cho địa phương.
Phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với EVN, ông Nguyễn Hồng Thanh yêu cầu cơ quan, sở ban ngành của tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện đồng bộ, phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đầu mối, từ đó sớm thống nhất, triển khai văn bản phối hợp giữa ngành Điện và địa phương làm căn cứ kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai. Đặc biệt, cần bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện nghiêm yêu cầu "năm rõ, sáu rõ" trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Đánh giá cao sự chủ động của EVN, EVNSPC và các đơn vị liên quan trong việc triển khai các giải pháp đảm bảo điện năm 2026, cũng như mùa khô sắp tới, ông Vương Quốc Nam, Phó chủ tịch UBND TP.Cần Thơ cho biết, thành phố đặt quyết tâm tăng trưởng 2 con số, kéo theo nhu cầu điện sẽ tăng trưởng mạnh. Để đảm bảo cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế xã hội, chính quyền thành phố cam kết đồng hành cùng ngành Điện trong việc tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, đặc biệt là công tác giải phóng mặt bằng các công trình điện trên địa bàn.
Lãnh đạo TP.Cần Thơ yêu cầu Sở Công thương, các cơ quan, Sở ngành liên quan trên địa bàn và Công ty Điện lực TP.Cần Thơ phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm nhằm đẩy mạnh thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong năm 2026.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.
Theo Bộ Xây dựng, sau giai đoạn duy trì ổn định năm 2025 và 2 tháng đầu năm, giá nhiên liệu đã "nhảy vọt" trong tháng 3, đặc biệt là mặt hàng dầu diesel. Tính đến hết 31.3, giá xăng E5 A92 tăng 4.703 đồng/lít và dầu diesel 0,055 tăng 17.117 đồng/lít so với trung bình tháng 2. Giá xăng E5 A92 và dầu diesel 0,055 trung bình tháng 3 tăng so với giá bình quân tháng trước lần lượt là 26,2% và 57,4%.
Bộ Xây dựng đánh giá đây là mức tăng không theo quy luật thông thường của mức biến động giá nhiên liệu trong những giai đoạn trước đây. Điều này cũng tạo áp lực dây chuyền lên giá thành sản xuất và chi phí vận chuyển của hầu hết các loại vật liệu xây dựng so với tháng 2.
Tính đến 31.3, giá xi măng đã tăng khoảng 7,2%; thép tăng 2,2%; gạch lát khoảng 4,8%; các vật liệu cát, đá, gạch xây tăng khoảng 13,5 - 23,3%; riêng giá nhựa đường tăng đột biến khoảng 31,77%. Giá vật liệu xây dựng có xu hướng tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Bộ Xây dựng cho biết, cả nước có 44 dự án trọng điểm đang triển khai với tổng đầu tư khoảng 569.000 tỉ đồng. Việc tăng giá nhiên liệu xăng dầu và vật liệu xây dựng đã ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí đầu tư xây dựng các công trình, đặc biệt là các công trình giao thông trọng điểm.
Theo ước tính, với mức biến động giá vật liệu xây dựng và giá nhiên liệu như trên, dự toán xây dựng các công trình ước tăng từ 1,91 - 8,09% tùy từng loại công trình. Trong đó, dự toán xây dựng tăng nhiều nhất đối với loại công trình giao thông (8,09%). Kịch bản xấu nhất, nếu giá nhiên liệu tăng 100% so với tháng 2 do xung đột Trung Đông, dự toán công trình giao thông có thể đội vốn xấp xỉ 16%. Chi phí xây dựng các dự án giao thông trọng điểm ước tăng 42.300 tỉ đồng, gây áp lực rất lớn lên ngân sách.
Bộ Xây dựng đánh giá nguyên vật liệu tăng giá khiến các nhà thầu có tâm lý e dè, thi công cầm chừng, nhất là với các dự án hợp đồng trọn gói hoặc hợp đồng theo đơn giá cố định, gây ảnh hưởng tiến độ dự án. Mặt khác, xung đột Trung Đông có nguy cơ kéo dài, ảnh hưởng tăng giá xăng dầu còn tiếp diễn.
Do đó, Bộ Xây dựng kiến nghị UBND cấp tỉnh tại các địa phương tổng hợp tình hình biến động giá vật liệu xây dựng, gửi báo cáo về Bộ theo định kỳ hàng tháng. Đồng thời, chủ động, cân đối nguồn lực, ưu tiên hoàn thành các công trình, dự án hạ tầng trọng điểm. Bên cạnh đó, lãnh đạo địa phương cần kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng, không để xảy ra tình trạng găm hàng, đầu cơ, thổi giá; kiểm soát chặt chẽ sản lượng khai thác khoáng sản.
Các Ban quản lý dự án, chủ đầu tư các dự án được giao kiểm soát chặt chẽ chi phí đầu tư xây dựng, chủ động đánh giá tác động của việc tăng giá xăng dầu, vật liệu xây dựng để có phương án sử dụng chi phí dự phòng hiệu quả, hợp lý, quyết định lựa chọn hình thức giá hợp đồng và kế hoạch lựa chọn nhà thầu phù hợp với diễn biến thị trường.
Bộ yêu cầu khẩn trương rà soát các hợp đồng xây dựng đang thực hiện, đặc biệt là hợp đồng trọn gói và đơn giá cố định, để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng; chủ động phối hợp với các nhà thầu xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tiến độ triển khai các dự án.
Chủ đầu tư, nhà thầu cũng cần phải có đánh giá, phân tích kỹ lưỡng theo hợp đồng cụ thể để có đề xuất kiến nghị rõ, khả thi. Cùng với đó, nghiên cứu quy định pháp luật về điều chỉnh hợp đồng, về bất khả kháng, về hoàn cảnh thay đổi cơ bản... để đánh giá tác động của việc tăng giá xăng dầu đến việc thực hiện hợp đồng xây dựng; làm cơ sở xem xét, sửa đổi hợp đồng xây dựng theo thẩm quyền.