Theo Reuters, chính quyền Abu Dhabi (UAE) xác nhận nhiều đám cháy đã bùng phát ngày 5-4 tại một nhà máy hóa dầu ở thành phố Ruwais.
“Nhà chức trách đang ứng phó với nhiều đám cháy tại nhà máy hóa dầu Borouge, do mảnh vỡ rơi xuống sau khi hệ thống phòng không đánh chặn thành công”, UAE khẳng định.
Hoạt động tại cơ sở này đã bị tạm dừng ngay lập tức trong khi đánh giá thiệt hại. Không có thương vong nào được báo cáo. Bộ Quốc phòng UAE trước đó cho biết đang đáp trả các cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái của Iran.
Tại Bahrain cùng ngày 5-4, công ty năng lượng nhà nước cho biết cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Iran gây ra hỏa hoạn tại một bể chứa, nhưng sau đó đã được dập tắt.
“Bapco Energies xác nhận sự cố đã xảy ra tại một trong các kho dầu vào đầu ngày 5-4, dẫn đến hỏa hoạn tại một bể chứa. Vụ việc là hệ quả của cuộc tấn công bằng máy bay không người lái Iran”, công ty này nêu cáo buộc.
Trước đó, Bộ Điện và Nước Kuwait cho biết hai nhà máy điện và khử muối của Kuwait đã bị hư hại do cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Iran, gây ra “thiệt hại vật chất đáng kể và khiến hai tổ máy phát điện phải ngừng hoạt động”.
Cáo buộc các quốc gia vùng Vịnh đang tiếp tay cho Mỹ tấn công mục tiêu trên lãnh thổ Iran, Tehran đã nhiều lần tấn công cơ sở hạ tầng các nước trong khu vực bất chấp họ kịch liệt phủ nhận đang hỗ trợ Washington.
Hôm 4-4, quân đội Iran tuyên bố sẽ nhắm mục tiêu vào “các ngành công nghiệp nhôm” ở UAE và cơ sở hạ tầng quân sự của Mỹ ở Kuwait. Iran cũng mở rộng mục tiêu sang các nhà máy khử muối, vốn là những hạ tầng các quốc gia vùng Vịnh phụ thuộc rất nhiều để bảo đảm nguồn cấp nước.

Phát biểu tại Islamabad (Pakistan) ngày 12-4, Phó tổng thống Mỹ Vance xác nhận cuộc đàm phán marathon giữa Mỹ và Iran đã không đạt được thỏa thuận chấm dứt xung đột.
"Tin xấu là chúng tôi chưa đạt được thỏa thuận và tôi nghĩ đó là tin xấu đối với Iran nhiều hơn là đối với Mỹ", ông Vance nói và cho biết sẽ rời khỏi Pakistan để quay về Mỹ.
"Chúng tôi đã nói rõ những lằn ranh đỏ của mình, những điều chúng tôi sẵn sàng nhượng bộ và những điều chúng tôi không sẵn sàng nhượng bộ. Chúng tôi đã nói rõ điều đó hết mức có thể, nhưng Iran đã chọn không chấp nhận các điều khoản của Mỹ", Phó tổng thống Mỹ nói thêm.
Ông Vance cho biết hai bên đã thảo luận về một số vấn đề. Khi được hỏi về những điều mà phía Iran đã từ chối, Phó tổng thống Mỹ từ chối đi vào chi tiết song cho hay Washington muốn có sự xác nhận từ Tehran rằng nước này không tìm kiếm vũ khí hạt nhân.
"Đơn giản là chúng tôi cần thấy một cam kết khẳng định rằng Iran sẽ không tìm kiếm vũ khí hạt nhân cũng như tìm kiếm các công cụ cho phép Iran nhanh chóng có được vũ khí hạt nhân. Đó là mục tiêu cốt lõi của Tổng thống Mỹ và đó là điều chúng tôi đã cố gắng đạt được thông qua các cuộc đàm phán này", ông Vance nói.
Tuy nhiên, Phó tổng thống Mỹ cho biết vẫn chưa có tín hiệu nào từ cuộc đàm phán cho thấy Iran thực sự có ý định cam kết không tìm kiếm vũ khí hạt nhân.
"Tôi nghĩ chúng tôi đã khá linh hoạt, thậm chí có phần dễ tính", ông Vance nói tiếp và cho biết Mỹ đã đưa ra một đề xuất "rất đơn giản", "một đề nghị cuối cùng và tốt nhất" đối với Iran.
Vẫn chưa rõ nội dung của những gì ông Vance mô tả là đề nghị cuối cùng của Mỹ nhưng theo những gì ông Vance nói, đó là lựa chọn "chấp nhận hoặc từ chối" đối với Iran.
Phó tổng thống Mỹ cũng không đưa ra bất kỳ thông tin nào về các cuộc đàm phán trong tương lai để thu hẹp khác biệt giữa hai bên.
Một nguồn tin thân cận với phái đoàn đàm phán Iran nói với hãng thông tấn Fars của Iran rằng Mỹ đang "tìm cớ" để rời khỏi bàn đàm phán.
"Người Mỹ cần đàm phán để lấy lại thể diện trên trường quốc tế và không muốn hạ thấp kỳ vọng của họ, bất chấp thất bại và bế tắc trong cuộc chiến với Iran", nguồn tin cho biết. Fars tiết lộ thêm: "Iran không có kế hoạch cho vòng đàm phán tiếp theo".
Trong khi đó, Đài truyền hình Press TV của Iran đưa tin các cuộc đàm phán ở Islamabad đã kết thúc do "những yêu cầu quá đáng của Mỹ ngăn cản việc đạt được một khuôn khổ thỏa thuận".
Iran không chấp nhận các điều khoản Mỹ đưa ra liên quan đến eo biển Hormuz, "quyền phát triển năng lượng hạt nhân hòa bình" và một số vấn đề gây tranh cãi khác.
Theo phía Iran, Mỹ muốn "thông qua đàm phán để đạt được tất cả những gì họ không thể giành được trong chiến tranh".
Fars nhấn mạnh triển vọng đạt thỏa thuận phụ thuộc vào việc Mỹ có thay đổi những "yêu cầu vô lý" hay không, trong đó vấn đề eo biển Hormuz là trọng tâm. Hãng tin này cũng cho biết các chuyên gia hai bên đang nỗ lực tìm điểm chung, còn Pakistan - nước trung gian hòa giải - đang cố thu hẹp khoảng cách giữa hai phái đoàn.
Hiện các nhóm đàm phán đã tạm dừng để tham khảo ý kiến chuyên gia về các đề xuất được nêu ra. Đàm phán dự kiến nối lại khi hai bên hoàn tất dự thảo phản hồi.
"Phái đoàn Iran đã đàm phán liên tục và tích cực trong 21 giờ để bảo vệ lợi ích quốc gia của người dân Iran. Bất chấp nhiều sáng kiến từ phía phái đoàn Iran, những yêu cầu vô lý của phía Mỹ đã cản trở tiến trình đàm phán. Do đó, các cuộc đàm phán đã kết thúc", Đài IRIB của Iran cho biết trên Telegram.
Mỹ và Israel đã tấn công Iran vào ngày 28-2, dẫn tới sự trả đũa từ Tehran và đẩy Trung Đông vào tình hình căng thẳng với eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát, gây áp lực lên nền kinh tế toàn cầu.
Hôm 11-4 (giờ Mỹ), sau khi đàm phán giữa Mỹ và Iran bắt đầu được vài tiếng, Tổng thống Mỹ Donald Trump khẳng định ông không quan tâm đến kết quả cuộc gặp. Thay vào đó, ông Trump nhấn mạnh rằng Mỹ đã chiến thắng trên chiến trường bằng cách tiêu diệt các lãnh đạo Iran và phá hủy các cơ sở hạ tầng quân sự quan trọng.
"Chúng tôi đã liên tục nói chuyện với Tổng thống Trump. Tôi không biết chúng tôi đã nói chuyện với ông ấy bao nhiêu lần, khoảng nửa tá hay có khi một tá lần trong 21 giờ qua", ông Vance nói với các phóng viên ở Islamabad ngày 12-4.
Phó tổng thống Mỹ cũng cho biết ông đã nói chuyện với các quan chức cấp cao khác của Mỹ trong suốt các cuộc đàm phán, bao gồm Ngoại trưởng Marco Rubio, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth, Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent và Đô đốc Brad Cooper, chỉ huy Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ.

Tại cuộc họp báo ngày 9-4, Bộ trưởng Quốc phòng Anh John Healey nói rằng trong chiến dịch kéo dài hơn một tháng, tàu chiến và máy bay tuần tra biển P8 của nước này đã "theo dõi và ngăn chặn bất kỳ hoạt động nguy hiểm nào" của ba tàu ngầm Nga.
Ông Healey không tiết lộ chính xác địa điểm diễn ra chiến dịch, cho biết nó không diễn ra trong lãnh hải của Anh mà trong vùng đặc quyền kinh tế kéo dài 200 hải lý tính từ bờ biển Anh, hoặc khu vực tiếp giáp với ranh giới vùng đặc quyền của các quốc gia khác. Chiến dịch cũng có sự tham gia của Na Uy và các đồng minh không nêu tên.
Dù nói rằng không có bằng chứng nào cho thấy các tàu Nga đã gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng dưới biển, Bộ trưởng Quốc phòng Anh nói rằng việc này sẽ gửi một thông điệp tới Tổng thống Nga Vladimir Putin.
"Chúng tôi thấy hoạt động của các ông trên các đường cáp và đường ống dẫn dầu của chúng tôi, và các ông nên biết rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm phá hoại chúng sẽ không được dung thứ và sẽ phải chịu hậu quả nghiêm trọng", Hãng tin AFP dẫn lời ông Healey.
"Chúng tôi đã vạch trần những hoạt động bí mật đó. Chúng tôi đã nói rõ với ông ta và các tàu ngầm của ông ta rằng chúng tôi đã theo dõi chúng từng bước một", ông Healey nói thêm, cho rằng hành động của Nga diễn ra "trong khi các nước đang hướng sự chú ý về Trung Đông".
Theo London, các tàu của Nga bị phát hiện bao gồm một tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Akula và hai tàu ngầm chuyên dụng từ Cục Nghiên cứu biển sâu (GUGI).
GUGI nằm trong số những cơ sở bí mật nhất của Nga, chịu trách nhiệm giám sát dưới bề mặt đại dương và các tàu ngầm do thám mini chạy bằng năng lượng hạt nhân hoạt động ở vùng nước sâu, theo các chuyên gia quốc phòng.
Tàu ngầm tấn công của Nga có thể là "mồi nhử để đánh lạc hướng" cho hai tàu chuyên dụng, vốn "được thiết kế để khảo sát cơ sở hạ tầng dưới nước trong thời bình và phá hoại chúng trong thời chiến", ông Healey nói.

Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ ở Trung Đông, hôm 28/2 tuyên bố máy bay không người lái (UAV) giá rẻ "được thiết kế dựa trên dòng Shahed" đã thực chiến lần đầu trong chiến dịch tấn công Iran.
Cơ quan này không nêu tên cụ thể, song ảnh đăng kèm cho thấy đó là dòng Lucas, có giá ước tính 35.000 USD mỗi chiếc. Đây cũng là mẫu UAV tự sát đầu tiên mà Mỹ triển khai trong xung đột với Iran.
Thông tin về hiệu quả thực chiến của nó vẫn còn hạn chế. Dù vậy, Wall Street Journal dẫn lời các quan chức quốc phòng cấp cao Mỹ giấu tên cho biết UAV Lucas đã được sử dụng trong những cuộc tập kích thành công nhằm vào hàng loạt địa điểm của quân đội Iran và Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC).
Những cuộc tấn công của Lucas đã góp phần khiến số đòn đánh bằng UAV của Iran giảm tới 83% trong những ngày đầu xung đột, theo nhóm quan chức.
"Từ giai đoạn đầu chiến sự, UAV FLM 136, còn gọi là Lucas, đã xóa sổ nhiều mục tiêu quân sự của Iran, trong khi những hệ thống UAV được đầu tư nhiều tiền của từ các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực quốc phòng lại tham gia rất ít", báo Mỹ cho hay.
Lucas không đến từ doanh nghiệp nào trong hơn 400 công ty khởi nghiệp về UAV được rót vốn đầu tư mạo hiểm tại Mỹ, cũng không phải sản phẩm của Thung lũng Silicon nổi tiếng. Thay vào đó, mẫu phi cơ này được chính quân đội Mỹ phát triển bằng cách sao chép công nghệ và thiết kế UAV tự sát Shahed-136 của Iran.
Dù lần đầu thực chiến trong xung đột Trung Đông, UAV Lucas thực chất được Mỹ chế tạo nhằm chuẩn bị cho xung đột với các đối thủ ngang hàng.
Trong những cuộc diễn tập mô phỏng kịch bản chiến tranh quy mô lớn, giới chuyên gia phát hiện rằng quân đội Mỹ sẽ cạn kiệt đạn dược thiết yếu chỉ trong vòng 2-3 tuần. Do đó, Lầu Năm Góc muốn sở hữu mẫu UAV có thể sản xuất nhanh chóng với số lượng lớn, đạt tầm bay xa và có giá thành đủ rẻ để không gây áp lực lớn lên ngân sách.
Dưới thời chính quyền cựu tổng thống Joe Biden, một nhóm nhỏ quan chức Lầu Năm Góc đã theo đuổi ý tưởng chế tạo một phiên bản UAV Shahed dành cho quân đội Mỹ, tương tự nhiều quốc gia và nhóm vũ trang phi nhà nước trên thế giới.
Năng lực của UAV dạng Shahed đã được chứng minh trong xung đột Ukraine. Nga được cho là sử dụng hàng nghìn UAV Geran-2, phiên bản tự sản xuất dựa trên dòng Shahed-136, để tập kích Ukraine mỗi tháng, trong đó có những trận đánh cao điểm huy động hơn 1.000 phi cơ chỉ trong một đêm.
Một đội ngũ nhỏ thuộc văn phòng kỹ thuật và nghiên cứu của quân đội Mỹ sau đó xây dựng kế hoạch tháo rời, phân tích UAV Geran-2 thu được từ Ukraine. Đây là lần đầu Mỹ áp dụng kỹ thuật đảo ngược để sao chép công nghệ quân sự của nước khác để phát triển sản phẩm nội địa trong vòng 50 năm.
Một cựu quan chức quốc phòng mô tả Lucas, viết tắt của cụm từ "hệ thống chiến đấu không người lái giá rẻ", không có đầy đủ tính năng như nhiều mẫu UAV đắt tiền và cũng không sử dụng linh kiện cao cấp nhất, song có chi phí chế tạo thấp và có thể sản xuất với số lượng lớn.
Michael Horowitz, cựu quan chức cấp cao Lầu Năm Góc và là một trong những lãnh đạo của đội ngũ phát triển Lucas, cho biết quân đội các nước có khả năng tự phát triển vũ khí tầm xa chính xác cao với giá rẻ. "Vấn đề là Mỹ không chi một đồng nào cho loại khí tài này", ông nói.
UAV Lucas hồi năm 2024 được lựa chọn để tham gia sáng kiến giúp triển khai hàng nghìn vũ khí tự hành trước tháng 8/2025. Động thái này đã gây ra nhiều tranh cãi, do mẫu UAV này khi đó mới chỉ tồn tại dưới dạng mô hình, song lại đánh bại nhiều hệ thống đã hoàn thiện.
Do Lucas là tài sản thuộc sở hữu trí tuệ của chính phủ, Mỹ đang dùng phương pháp từng áp dụng để chế tạo tàu chiến trong thời kỳ Thế chiến II, đó là huy động các nhà thầu thứ cấp để sản xuất hàng loạt UAV theo nhu cầu thời chiến.
Các công ty ít tên tuổi là SpektreWorks và Integration Innovation được giao nhiệm vụ chế tạo UAV Lucas. Tổng cộng 5 nhà sản xuất sẽ được chọn, trong đó mỗi hãng sẽ xuất xưởng khoảng 300 chiếc mỗi tháng, theo một cựu quan chức quốc phòng Mỹ am hiểu kế hoạch.
Thủy quân lục chiến Mỹ là lực lượng đầu tiên sử dụng UAV Lucas và đã đặt mua khoảng 6.000 chiếc để triển khai ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Số UAV trên đã được chuyển cho CENTCOM trước khi xung đột Trung Đông bùng phát.
Chính quyền Tổng thống Donald Trump đã tiến hành các cải cách sâu rộng trong lĩnh vực mua sắm quốc phòng, giúp quân đội mua vũ khí nhanh chóng và dễ dàng hơn, cũng như tăng cường sử dụng công nghệ dân sự để hiện đại hóa khí tài.
Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth hồi tháng 8/2025 ra quyết định hủy bỏ các quy trình và rào cản tồn tại từ lâu, giúp quân đội Mỹ nhanh chóng triển khai UAV Lucas.
Dù vậy, một số chuyên gia vẫn cảnh báo rằng thành công của Lucas trong xung đột Trung Đông, khi đối đầu với lưới phòng không đã suy yếu của Iran, không đồng nghĩa là nó sẽ đạt hiệu quả trong những cuộc chiến với các cường quốc quân sự ngang hàng với Mỹ.
"UAV Mỹ không phải đối mặt với biện pháp gây nhiễu đáng kể nào ở Trung Đông. Tình hình sẽ khác trong kịch bản xảy ra xung đột giữa Mỹ với Nga hoặc Trung Quốc. Mọi công nghệ đều sẽ bị đánh bại vào thời điểm nào đó", Jack De Santis, chuyên gia về tác chiến điện tử, nói với Wall Street Journal.
Một lo ngại khác với quân đội Mỹ là thiếu hụt công nghệ chống thiết bị bay không người lái (drone) giá rẻ. Thực trạng này đang giúp các nhóm dân quân thân Iran tiếp tục sử dụng drone cỡ nhỏ để tấn công những căn cứ đồn trú của Mỹ ở Trung Đông.
Sự thiếu hụt về vũ khí hiện đại giá rẻ trong xung đột với Iran được cho là lời cảnh tỉnh với quân đội Mỹ. "Chúng ta chưa sẵn sàng. Chính phủ không có thứ mình cần ở quy mô như nhu cầu", Julie Bush, đồng sáng lập công ty công nghệ quốc phòng Valinor Enterprises, nhận định.
Phạm Giang (Theo Wall Street Journal)
Tin Gốc: https://vnexpress.net/uav-my-sao-chep-tu-iran-tao-dau-an-trong-xung-dot-trung-dong-5057654.html

