Mục Lục
ToggleĐại hội thể thao sinh viên Đại học Đà Nẵng lần thứ XIV năm 2026 diễn ra từ ngày 10 đến 24-4 tại nhà thi đấu khoa giáo dục thể chất – Đại học Đà Nẵng. Đại hội quy tụ gần 1.000 vận động viên, huấn luyện viên và lãnh đạo đoàn đến từ 9 đơn vị đào tạo, tranh tài ở 7 môn với 26 nội dung thi đấu.
Các môn thi gồm điền kinh, bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, cầu lông, bóng bàn và pickleball – môn thể thao thu hút đông đảo sinh viên tham gia trong thời gian qua.
Các đoàn thể thao góp mặt tại Đại hội thể thao sinh viên Đại học Đà Nẵng 2026 gồm Trường đại học Bách khoa, Trường đại học Kinh tế, Trường đại học Sư phạm, Trường đại học Ngoại ngữ, Trường đại học Sư phạm kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng)…
Theo PGS.TS Lê Thành Bắc – Phó giám đốc Đại học Đà Nẵng – cho biết đây là hoạt động truyền thống được tổ chức hai năm một lần, nhằm hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, đồng thời chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước.
Đại hội không chỉ là sân chơi thể thao mà còn là dịp đánh giá hiệu quả công tác giáo dục thể chất trong sinh viên, tạo cơ hội giao lưu, học hỏi giữa các trường, góp phần tăng cường tinh thần đoàn kết và xây dựng môi trường học đường năng động, lành mạnh.
“Thông qua đại hội, nhà trường kỳ vọng phát hiện và bồi dưỡng những vận động viên xuất sắc để tham gia các giải thể thao cấp khu vực và quốc gia”, PGS.TS Lê Thành Bắc cho biết.
Đại học Đà Nẵng cũng nhấn mạnh việc phát triển toàn diện người học là mục tiêu trọng tâm, trong đó giáo dục thể chất và phong trào thể thao đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Ngay sau lễ khai mạc vào sáng 10-4, các đội bước vào tranh tài sôi nổi trong sự cổ vũ nồng nhiệt của đông đảo sinh viên.
Các vận động viên đã cống hiến cho khán giả nhiều trận đấu hấp dẫn, kịch tính với tinh thần thi đấu quyết tâm, trung thực, tạo nên bầu không khí sôi động ngay từ những ngày đầu của đại hội.
Đại học Sư phạm Hà Nội lấy điểm sàn 16,5-18 với hai phương thức

Cụ thể, với các chương trình đào tạo giáo viên, thí sinh phải có kết quả học tập lớp 12 ở mức tốt và đáp ứng một trong hai điều kiện: Tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp THPT từ 18 trở lên hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 8,5.
Mức này với ngành Giáo dục thể chất, Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật và khối ngành ngoài sư phạm, lần lượt là 16,5 và 6,5 điểm. Đồng thời, thí sinh phải có kết quả học tập lớp 12 ở mức khá.
Ở phương thức xét điểm thi đánh giá năng lực (SPT), thí sinh phải dự thi ít nhất ba môn để xét điểm theo tổ hợp.
Với thí sinh có năng lực và thành tích vượt trội, trường chia theo ba nhóm. Một là nhóm có điểm rèn luyện và học tập 3 năm THPT ở mức tốt, đồng thời đáp ứng một trong các điều kiện: học tại các trường thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội và TP HCM hoặc trường chuyên, đạt giải ba học sinh giỏi hoặc thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh/trường đại học trở lên.
Hai diện còn lại áp dụng với các ngành Sư phạm Âm nhạc và Mỹ thuật hay Giáo dục thể chất và Huấn luyện thể thao. Đây là những thí sinh có học bạ THPT đạt khá trở lên, đồng thời trong top 5% điểm cao nhất kỳ thi năng khiếu của trường, hoặc có thành tích cao trong lĩnh vực liên quan (tốt nghiệp loại giỏi các trường năng khiếu, nghệ thuật, đoạt giải cuộc thi nghệ thuật hay giải thi đấu thể thao cấp tỉnh trở lên, đạt chuẩn vận động viên cấp 1, kiện tướng quốc gia).
Với phương thức xét bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, trường không quy đổi điểm Tiếng Anh từ chứng chỉ ngoại ngữ, điểm sàn được công bố ngày 10/7.
Năm ngoái, trường Đại học Sư phạm Hà Nội tuyển khoảng 5.000 sinh viên. Điểm chuẩn từ 19 đến 29,06/30. Sư phạm Lịch sử dẫn đầu, một số ngành lấy trên 28 điểm là Giáo dục chính trị và các ngành Sư phạm Toán, Vật lý, Hóa học, Ngữ văn, Địa lý.
Hai ngành có điểm chuẩn dưới 20 là Sinh học và Công nghệ sinh học (không phải nhóm đào tạo giáo viên).
Lệ Nguyễn
Tin Gốc: https://vnexpress.net/dai-hoc-su-pham-ha-noi-lay-diem-san-16-5-18-voi-hai-phuong-thuc-5058806.html
Từ ‘niêm’ trong đề thi đánh giá năng lực làm khó nhiều thí sinh

Bước ra khỏi điểm thi Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM, các thí sinh được hỏi cho biết hoàn thành bài thi đánh giá năng lực ở mức độ khác nhau. Tuy nhiên, một nhận định chung của nhiều thí sinh là đề thi không quá khó nhưng khá dài, không dễ dàng để xử lý tốt trong thời gian quy định.
Quốc Việt (học sinh Trường Thực hành Sài Gòn, TP.HCM), cho biết đề thi không quá khó nhưng khá dài, một số câu làm trong tâm thế không chắc chắn do thời gian còn lại không nhiều. Đặc biệt ở phần thi sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, thí sinh này cho biết gặp khó bởi từ "niêm" .
Thí sinh này nói: "Em gần như chưa có khái niệm nào về từ "niêm' nhưng vẫn dựa vào đề bài, yêu cầu của đề để phân tích suy luận và chọn đáp án. Theo các đáp án đưa ra, em tự phiên nghĩa từ 'niêm' trong trường hợp này tương đương với các từ như: 'nối với' 'ứng với'…". Với cách xử lý này, Quốc Việt cho biết đã xử lý cơ bản bài thi và mong chờ đạt được 850 điểm để tự tin hơn khi xét tuyển ngành điện-điện tử Trường ĐH Bách khoa TP.HCM.
Không chỉ Quốc Việt, từ 'niêm' còn làm khó nhiều thí sinh khác. M.T (học sinh Trường THPT Hùng Vương, TP.HCM), cũng cho hay: "Đề thi có những câu hỏi kiến thức lớp 10, 11 hoặc kiến thức bậc THCS. Có những câu hỏi rất lạ, ví dụ từ "niêm" trong phần tiếng Việt. Em cũng chưa từng nghe chưa từng sử dụng từ "niêm" trong đời sống nên làm bài theo sự phân tích, suy luận của cá nhân…".
Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2005) thì "niêm" là danh từ, chỉ "quy tắc tương ứng về bằng trắc trong thơ, phú cổ Đường luật". Một từ khác có liên quan được tìm thấy trong từ điển này là "niêm luật" chỉ "quy tắc tương ứng về bằng trắc và các quy tắc khác trong thơ, phú cổ theo Đường luật".
Rút kinh nghiệm từ bài thi này, thí sinh Quốc Việt nhận định: "Đề thi không quá hóc búa, không kiểm tra kiến thức khó và yêu cầu vận dụng cao. Nhưng cái khó là yêu cầu xử lý tốc độ nhanh, 120 câu nhưng chỉ làm trong 150 phút. Do đó, vấn đề quản lý tốt thời gian trong khi làm bài rất quan trọng".
Tham dự kỳ thi, thí sinh làm một bài thi trong thời gian 150 phút gồm 120 câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, được tổ chức theo hình thức thi trên giấy. Mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan có 4 lựa chọn (A, B, C, D). Thí sinh lựa chọn một đáp án đúng cho mỗi câu hỏi và điền câu trả lời vào phiếu trả lời trắc nghiệm do ĐH Quốc gia TP.HCM quy định.
Nội dung thi được xây dựng dựa trên cơ sở kiến thức THPT nhằm đánh giá năng lực cơ bản cần thiết cho việc học ĐH của thí sinh, bao gồm: sử dụng ngôn ngữ, toán học, tư duy khoa học. Theo đó, cấu trúc bài thi gồm 3 phần: sử dụng ngôn ngữ gồm 60 câu hỏi (30 câu tiếng Việt và 30 câu tiếng Anh); toán học gồm 30 câu hỏi; tư duy khoa học gồm 30 câu hỏi. Điểm thi được quy đổi theo từng phần. Điểm số tối đa của bài thi là 1.200, trong đó điểm tối đa từng thành phần của bài thi được thể hiện trên phiếu điểm gồm: tiếng Việt là 300 điểm, tiếng Anh là 300 điểm; toán học là 300 điểm và tư duy khoa học là 300 điểm.
Độ khó của các câu hỏi trong đề thi được phân thành 3 mức độ và được phân bố theo tỷ lệ: mức độ 1 chiếm 30%, mức độ 2 chiếm 40%, mức độ 3 chiếm 30%. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Chính, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và đánh giá chất lượng đào tạo ĐH Quốc gia TP.HCM, cho biết kết quả thi đánh giá năng lực được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm hiện đại theo lý thuyết ứng đáp câu hỏi, điểm của từng câu hỏi có trọng số khác nhau tùy thuộc vào độ khó của câu hỏi. Điểm thi đợt 1 dự kiến sẽ được công bố vào ngày 17.4 tới.
Chất lượng giáo dục các địa phương: Môn ngoại ngữ cần thoát khỏi lối mòn điểm số

Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra "điểm gãy" khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là "điểm bao nhiêu" mà là "bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ". Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ "truyền thụ kiến thức" sang "phát triển năng lực". Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị "lệch" do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ "đối sánh điểm thi" sang "đối sánh năng lực thực", từ "xếp hạng" sang "cải thiện chất lượng".
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là "mũi nhọn". Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép "đánh đổi" giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.



