Theo Hãng tin AFP ngày 8-4, người đứng đầu Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế (IATA) cho biết nguồn cung và giá nhiên liệu máy bay sẽ cần nhiều tháng để trở lại bình thường, ngay cả khi eo biển Hormuz được mở trở lại.
Eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển dầu mỏ huyết mạch của thế giới – gần như tê liệt trong hơn 4 tuần qua do cuộc chiến tại Trung Đông, khiến giá dầu thô và các sản phẩm liên quan leo thang mạnh.
Phát biểu với báo giới tại Singapore ngày 8-4, Tổng giám đốc IATA Willie Walsh thừa nhận khó có thể xác định chính xác thời điểm nguồn cung nhiên liệu phục hồi, nhưng nhấn mạnh rằng “quá trình này sẽ không diễn ra nhanh chóng”.
“Sẽ cần nhiều tháng để nguồn cung đáp ứng đủ nhu cầu, xuất phát từ những gián đoạn đối với năng lực lọc dầu tại Trung Đông. Tôi không nghĩ điều đó có thể xảy ra chỉ trong vài tuần”, ông nói.
Giá dầu giảm mạnh vào ngày 8-4 (giờ Việt Nam) sau khi Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn hai tuần, theo đó Tehran sẽ tạm thời mở lại eo biển Hormuz.
Thỏa thuận được thông qua chưa đầy một tiếng đồng hồ trước khi tối hậu thư mà Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa “san phẳng Iran” hết hiệu lực.
Phía Tehran sau đó xác nhận đã đồng ý đảm bảo an toàn hàng hải qua eo biển Hormuz, nơi 1/5 lượng dầu khí toàn cầu đi qua.
Ông Walsh phân tích: “Dù dầu thô bắt đầu lưu thông trở lại, nếu năng lực lọc dầu đã bị gián đoạn thì vấn đề vẫn sẽ kéo dài thêm một thời gian”.
“Tôi không nghĩ mọi người nhận thức đầy đủ rằng năng lực này tập trung cao đến mức nào ở một số khu vực nhất định trên thế giới”, ông nhắc nhở.
Ông Walsh cũng cảnh báo rằng những bài học trước đây cho thấy ngành hàng không sẽ phản ứng trước giá dầu cao bằng cách tăng giá vé, và đây là điều “không thể tránh khỏi”.
Về luồng hành khách, ông cho biết dù một phần lưu lượng bay vốn đi qua Trung Đông đã được chuyển hướng sang các hãng hàng không ngoài khu vực, đây chỉ là “giải pháp tạm thời”.
“Họ không có cách nào thay thế được năng lực vận chuyển mà các hãng hàng không vùng Vịnh đang cung cấp. Tôi tin rằng các trung tâm hàng không tại vùng Vịnh sẽ phục hồi, và phục hồi rất nhanh”, ông Walsh khẳng định.

Trao đổi thêm với báo Tuổi Trẻ, ông Đậu Anh Tuấn - Phó tổng thư ký, kiêm Trưởng ban pháp chế VCCI - nói:
Sau một giai đoạn dài xây dựng hoàn thiện, hệ thống pháp luật kinh doanh của chúng ta đã khá đầy đủ và toàn diện. Nhưng có nhiều luật đôi khi lại chồng lên nhau, mâu thuẫn nhau và mỗi nơi hiểu một kiểu.
Ví dụ doanh nghiệp (DN) muốn triển khai một dự án đầu tư sản xuất, họ phải đồng thời tuân thủ Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng cháy chữa cháy... Mỗi luật riêng lẻ có thể hợp lý, nhưng các thủ tục yêu cầu lẫn nhau làm điều kiện tiên quyết, tạo thành một vòng lặp mà DN không biết bắt đầu từ đâu.
* Các luật đều được thẩm định kỹ, câu chuyện ông nói cụ thể thế nào?
Ví dụ để triển khai một dự án, DN cần chấp thuận chủ trương đầu tư để xin giao đất, nhưng hồ sơ chấp thuận đầu tư lại cần thông tin về đất đai. Muốn xin giấy phép xây dựng thì phải có quyền sử dụng đất và đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.
Nhưng để lập báo cáo đánh giá môi trường lại cần có thiết kế cơ sở đủ chi tiết, mà thiết kế cơ sở chỉ có ý nghĩa khi đã xác định được mặt bằng. Các thủ tục cứ yêu cầu lẫn nhau, DN không biết bắt đầu từ đâu.
Giải pháp mà chúng tôi kiến nghị với Bộ Tư pháp rất rõ ràng: phải thay đổi cách rà soát pháp luật. Lâu nay chúng ta rà soát theo từng luật, đó là góc nhìn của cơ quan quản lý. Nhưng DN không sống theo từng luật, DN sống theo chuỗi hoạt động kinh doanh - từ thành lập, đầu tư, xây dựng, sản xuất, xuất nhập khẩu cho đến giải thể.
Chỉ khi nào chúng ta đặt mình vào vị trí của người phải tuân thủ, đi theo hành trình của họ, thì mới nhìn thấy hết những điểm nghẽn, chồng chéo mà DN đang gánh chịu hàng ngày.
Bên cạnh đó, khâu thực thi cần có cơ chế giải thích pháp luật thống nhất. Hiện cùng một điều luật mà cơ quan thuế có thể hiểu một đằng, cơ quan đất đai hiểu một nẻo, DN bị kẹt ở giữa và chịu rủi ro pháp lý. DN cần biết trước hệ quả pháp lý của quyết định kinh doanh của mình. Đó là điều kiện tối thiểu để họ dám đầu tư, dám mở rộng sản xuất.
* Theo VCCI, nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế "xin cho" dưới hình thức giấy phép con, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận... Liệu có giải pháp rốt ráo nào không?
Những năm qua, Chính phủ đã quyết liệt cắt bỏ hàng nghìn điều kiện kinh doanh, nhưng thực tế cho thấy nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế "xin cho" dưới những cái tên mới như chứng nhận đủ điều kiện, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận... Tên gọi thay đổi, nhưng bản chất tiền kiểm vẫn nguyên. DN vẫn phải xếp hàng chờ đợi.
Có một nghịch lý: khi chuyển sang hậu kiểm thì năng lực thanh tra, kiểm tra lại chưa theo kịp. Kết quả là hoặc buông lỏng, hoặc thanh tra kiểm tra tràn lan, chồng chéo, gây phiền hà không kém gì tiền kiểm.
Chúng tôi kiến nghị ba việc cần làm đồng thời. Thứ nhất, tổng rà soát thực chất tất cả các loại giấy phép, điều kiện kinh doanh. Với từng loại phải trả lời được ba câu hỏi: có thực sự cần thiết? có thể thay thế bằng hậu kiểm? chi phí tuân thủ bao nhiêu? Nếu không trả lời được thì nên bỏ.
Thứ hai, đề nghị nghiên cứu áp dụng nguyên tắc mỗi điều kiện kinh doanh mới phải đi kèm bãi bỏ ít nhất một điều kiện cũ có gánh nặng tuân thủ tương đương. Các nước Anh, Đức, Hàn Quốc đã áp dụng thành công mô hình này. Nó tạo ra một kỷ luật tự nhiên cho cơ quan quản lý.
Thứ ba, phải xây dựng năng lực hậu kiểm dựa trên rủi ro. Không thể thanh tra đại trà tất cả DN như nhau. Phải ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để phân loại rủi ro.
* Nhiều DN nói pháp luật thay đổi nhanh, họ không thể lập kế hoạch kinh doanh ổn định trong dài hạn, ông nghĩ sao?
Đây là một trong những phản ánh mà chúng tôi nhận được nhiều, đặc biệt từ các nhà đầu tư nước ngoài và các DN có dự án dài hạn.
Hãy hình dung thế này, một DN đầu tư một nhà máy, vòng đời dự án 10 - 15 năm. Họ tính toán từ ưu đãi thuế, điều kiện sử dụng đất, quy chuẩn môi trường, chi phí lao động... Nhưng chưa đầy 1 - 2 năm, luật thay đổi, nghị định mới ra đời, thông tư hướng dẫn chưa kịp ban hành thì luật đã bị sửa.
Tác động có hai tầng. Thứ nhất là chi phí tuân thủ trực tiếp, DN phải chỉnh quy trình nội bộ, đào tạo lại nhân sự, thậm chí thuê thêm luật sư và tư vấn xem mình có vi phạm gì không. Với DN nhỏ và vừa, chi phí này là gánh nặng lớn.
Tầng thứ hai nguy hiểm hơn: DN trì hoãn đầu tư, ngại mở rộng, không dám đổi mới. Đó là tổn thất mà chúng ta không nhìn thấy trên sổ sách nhưng rất thực.
Chúng tôi không đề nghị pháp luật đứng yên. Nhưng thời gian chuyển tiếp tối thiểu cần 12 - 24 tháng, trừ trường hợp khẩn cấp. Với dự án đầu tư lớn và dài hạn, cần áp dụng điều khoản ổn định đầu tư - tức là cam kết không áp dụng hồi tố các thay đổi bất lợi về thuế, ưu đãi đầu tư trong một thời hạn nhất định. Đây là thông lệ quốc tế nhiều nước trong khu vực đã áp dụng.
* Việt Nam đẩy mạnh phân cấp phân quyền, vì sao VCCI kiến nghị bổ sung nguyên tắc "thống nhất thị trường quốc gia"?
Cộng đồng DN hoàn toàn ủng hộ việc phân cấp phân quyền nhưng phải có giới hạn là sự thống nhất của thị trường quốc gia.
Các DN hoạt động đa tỉnh thành phản ánh rất nhiều với chúng tôi rằng cùng một quy định pháp luật nhưng mỗi tỉnh hiểu và áp dụng một khác. Cùng một loại hàng hóa, ở tỉnh A thì được phép, sang tỉnh B thì bị yêu cầu thêm giấy phép.
Cùng một quy chuẩn phòng cháy chữa cháy, tỉnh này áp dụng thoáng, tỉnh kia áp dụng chặt... DN có nhà máy ở ba bốn tỉnh phải đối phó với ba bốn bộ quy tắc khác nhau.
Điều này gây ra chi phí tuân thủ tăng, bất bình đẳng, có thể đánh mất lợi thế quy mô. Vì vậy VCCI kiến nghị chính quyền địa phương không được ban hành quy định tạo ra rào cản đối với lưu thông hàng hóa, dịch vụ, lao động, vốn giữa các địa phương.
Chính phủ cần tăng cường kiểm tra, rà soát. Đồng thời cần xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về cách áp dụng pháp luật của từng địa phương trong các lĩnh vực trọng yếu để DN có thể tra cứu và so sánh. Khi mọi thứ minh bạch, sự khác biệt vô lý sẽ tự động bị phát hiện và điều chỉnh.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/cai-cach-the-che-thuc-day-tang-truong-hai-con-so-20260405230658314.htm

Chiều 10/4, Quốc hội thảo luận về dự thảo Nghị quyết về thuế bảo vệ môi trường, giá trị gia tăng (VAT), thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng, dầu và nhiên liệu bay.
Theo tờ trình, Chính phủ đề xuất giảm thuế bảo vệ môi trường với xăng (trừ ethanol), dầu diesel, nhiên liệu bay, dầu hỏa và dầu mazut về 0 đồng. Cùng với đó, xăng, dầu diesel và nhiên liệu bay thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng vẫn được khấu trừ đầu vào. Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng các loại cũng được đề xuất áp dụng mức 0%.
Hầu hết đại biểu đều ủng hộ chính sách này để hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân trong lúc xung đột tại Trung Đông khiến thị trường năng lượng toàn cầu biến động, tác động đến giá xăng dầu trong nước.
Đồng tình với tờ trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế tài chính, nhưng PGS. TS Trần Hoàng Ngân kiến nghị cân nhắc kéo dài thời hạn áp dụng nghị quyết đến hết năm nay hoặc ít nhất tới 30/9.
Theo ông Ngân, dự thảo Nghị quyết có điều khoản giao Thủ tướng quyết định cá biệt để điều chỉnh (rút ngắn hoặc kéo dài) hiệu lực. Tuy nhiên, ông nhận xét quy định này vẫn chưa đảm bảo tính ổn định về mặt tâm lý với doanh nghiệp và người dân.
Đại biểu đoàn TP HCM cho rằng trong trường hợp giá dầu thế giới thời gian tới hạ nhiệt, cũng không nên điều chỉnh mức thuế với xăng dầu. "Chúng ta cần chia sẻ với người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng khi giá nhiên liệu tăng thời gian qua", ông Ngân nói.
Ở chiều ngược lại, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Nguyễn Minh Sơn tranh luận với ông Ngân về thời gian áp dụng. Ông Sơn nói theo tờ trình của Chính phủ, việc giảm thuế dự kiến ảnh hưởng đến thu ngân sách 7.300 tỷ đồng mỗi tháng và khoảng 18.250 tỷ trong 2,5 tháng áp dụng.
Theo ước tính của đại biểu này, nếu cộng thêm 8.000 tỷ (tạm ứng quỹ bình ổn giá xăng dầu từ ngân sách), ngân sách có thể bị ảnh hưởng khoảng 26.250 tỷ đồng. "Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chi đầu tư phát triển, đầu tư công, các chương trình an sinh xã hội, tăng áp lực vay nợ công, tác động đến tăng trưởng trong dài hạn", ông Sơn cho hay. Bởi vậy, ông thống nhất với đề xuất Quốc hội giao Thủ tướng ban hành quyết định cá biệt tùy tình hình thực tế.
Trao đổi lại sau đó, ông Trần Hoàng Ngân nói doanh nghiệp, người dân trông chờ rất lớn khi một Nghị quyết được ban hành. Đồng thời, theo ông, quy định pháp lý cần có tính ổn định và nó phải được kéo dài.
Ông ví dụ một phần ăn tăng giá từ 10.000 đồng lên 15.000 đồng, tức thêm 50% khi giá nhiên liệu gia tăng. "Chúng ta chưa thấy lạm phát (chỉ số CPI) thay đổi bởi độ trễ từ tác động bên ngoài đến Việt Nam cần một thời gian nữa. Nên yếu tố ổn định tâm lý, kiểm soát giá cả là quan trọng", ông chia sẻ.
Trong quý I, thu ngân sách đạt 823.000 tỷ đồng, tăng hơn 80.000 tỷ so với cùng kỳ năm ngoái. Vì vậy, ông Ngân cho rằng có thể dùng số tiền này để trợ cấp, phụ trợ giá xăng dầu, nhằm "giảm tổn thương cho người dân, doanh nghiệp".
Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết về thuế bảo vệ môi trường, VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng, dầu và nhiên liệu bay vào sáng 12/4.
Anh Tú
Tin Gốc: https://vnexpress.net/de-xuat-giam-thue-voi-xang-dau-ve-0-den-het-nam-5061041.html
Kinh Doanh
Thống nhất trình Quốc hội xem xét, quyết định giảm thuế với xăng dầu

Sáng 9-4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự án nghị quyết của Quốc hội về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay.
Theo tờ trình của Chính phủ, xung đột tại Trung Đông làm giá năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt biến động mạnh, nguồn cung xăng dầu bị gián đoạn, giá dầu thô thế giới có xu hướng tiếp tục tăng cao.
Các tác động này đã ảnh hưởng lớn đến nguồn cung, thị trường xăng dầu trong nước, làm giá xăng dầu tăng cao trong thời gian ngắn, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, người dân.
Trong thời gian vừa qua, để góp phần đa dạng hóa nguồn cung, bình ổn giá xăng dầu trong nước, Chính phủ và Thủ tướng đã chỉ đạo sử dụng nhiều công cụ về chính sách tài khóa.
Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp cấp bách áp dụng trong thời gian ngắn, trong khi tình hình xung đột ở Trung Đông vẫn tiếp tục diễn biến khó lường và tác động trực tiếp đến thị trường xăng dầu trong nước.
Vì vậy, để đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, ổn định tâm lý và đời sống người dân cũng như doanh nghiệp, cần xây dựng chính sách có thời hạn dài hơn để trình Quốc hội ban hành theo thẩm quyền.
Bộ Tài chính trình Chính phủ để trình Quốc hội sớm xem xét, thông qua dự án nghị quyết ngay tại đầu kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
Theo đó, dự thảo nghị quyết quy định mức thuế bảo vệ môi trường, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay như sau:
Mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ ethanol), dầu diesel, nhiên liệu bay, dầu hỏa và dầu mazut là 0 đồng/lít.
Xăng, dầu diesel, nhiên liệu bay, dầu hỏa và dầu mazut thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế VAT nhưng được khấu trừ thuế VAT đầu vào. Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng các loại là 0%.
Về thời hạn áp dụng, Chính phủ đề xuất từ ngày 16-4 đến hết 30-6 và giao Thủ tướng ban hành quyết định cá biệt để điều chỉnh (rút ngắn hoặc kéo dài) hiệu lực của nghị quyết để bảo đảm việc điều hành thị trường xăng, dầu trong nước phù hợp với diễn biến giá dầu thế giới.
Báo cáo thẩm tra sơ bộ về dự thảo nghị quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết thường trực Ủy ban cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành chính sách để điều chỉnh một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay theo đề xuất của Chính phủ.
Thảo luận về nội dung này, các ý kiến đề nghị Chính phủ có các giải pháp tổng thể, đồng bộ từ điều hành giá, minh bạch hóa các thành phần cấu thành giá xăng dầu cơ sở đến bảo đảm chuỗi cung ứng.
Đồng thời cần tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, kiểm soát hóa đơn điện tử minh bạch, chặt chẽ để xác nhận tính thực tế của các chi phí đầu vào của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, tránh trục lợi chính sách...
Kết luận nội dung này, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng cho biết Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành một nghị quyết riêng của Quốc hội về chính sách điều chỉnh một số quy định về thuế với xăng dầu theo đề xuất của Chính phủ.
Việc này nhằm kịp thời bổ sung các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực do khan hiếm nhiên liệu và biến động tăng giá, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì mục tiêu tăng trưởng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, quyết định về mức thuế bảo vệ môi trường, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu và nhiên liệu bay với mức thuế suất như đề xuất của Chính phủ.
Giao Chính phủ quyết định điều chỉnh, rút ngắn hoặc kéo dài hiệu lực của nghị quyết, cân nhắc bổ sung quy định trong trường hợp khẩn cấp và giao Chính phủ điều chỉnh mức thuế tại nghị quyết, báo cáo lại Quốc hội tại kỳ họp gần nhất...

