Một chế độ ăn hợp lý vừa giúp ổn định chỉ số glucose máu, vừa đảm bảo thể lực cho người bệnh tiểu đường.
Theo thạc sĩ – bác sĩ Nguyễn Thị Hải Yến, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Smart City, bệnh tiểu đường là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose máu mạn tính, kết hợp với rối loạn chuyển hóa carbohydrat, protein và lipid. Tình trạng này kéo dài sẽ gây tổn thương, suy yếu chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là tim, mắt, thận và thần kinh.
Trong quá trình điều trị, chế độ ăn là yếu tố quan trọng nhất nhằm điều chỉnh đường huyết, duy trì cân nặng lý tưởng và đảm bảo sức khỏe cho người bệnh. Trước đây, nhiều bệnh nhân thường ăn kiêng quá mức dẫn đến thiếu chất hoặc hạ đường huyết đột ngột, điều này cũng rất nguy hiểm. Do đó, một chế độ dinh dưỡng đúng đắn phải đạt được sự cân bằng, không gây tăng đường huyết sau ăn và cũng không gây hạ đường huyết khi xa bữa ăn.
Chế độ dinh dưỡng của người bệnh cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất:
Theo bác sĩ Yến, để quản lý đường huyết và cân nặng, người bệnh nên nạp khoảng 30 kcal/kg trọng lượng mỗi ngày.
Cơ cấu bữa ăn cần tuân thủ theo tỷ lệ: Ưu tiên 50 – 60% chất bột đường (loại hấp thu chậm), 15 – 20% đạm để giữ cơ và 20 – 30% chất béo để bảo vệ tim mạch.
Không phải loại tinh bột nào cũng có tác dụng như nhau đối với đường huyết. Bác sĩ Yến khuyên người bệnh nên ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp (< 55%) như gạo lứt, ngũ cốc nguyên hạt, bánh mì đen giúp đường huyết tăng từ từ. Ngược lại, cần hạn chế thực phẩm có GI cao (> 70%) như đường kính, bánh kẹo, nước ngọt, vải, nhãn và các loại tinh bột tinh chế (bánh mì trắng, bột dong).
Để kiểm soát đường huyết hiệu quả, mọi người nên ưu tiên kết hợp đạm từ thịt nạc, cá, trứng với các loại đậu, đỗ; đồng thời thay thế mỡ động vật bằng chất béo lành mạnh từ dầu thực vật hoặc cá.
Ngoài ra, cần bổ sung ít nhất 450 g rau xanh mỗi ngày và ưu tiên ăn rau trước bữa chính để làm chậm quá trình hấp thu đường. Với trái cây, nên chọn các loại ít ngọt như ổi, thanh long, bưởi và nên ăn nguyên miếng thay vì ép lấy nước để tận dụng tối đa lượng chất xơ quý giá.
Bác sĩ Yến cho biết, để tránh tình trạng đường huyết dao động quá lớn, người bệnh cần có kế hoạch phân bổ bữa ăn hợp lý, cụ thể:
Phân bổ bữa ăn: Duy trì 3 bữa chính đúng giờ. Bữa phụ chỉ cần thiết nếu người bệnh có nguy cơ hạ đường huyết về đêm hoặc tập luyện cường độ cao.
Vận động: Đi bộ nhanh hoặc aerobic tối thiểu 30 phút/ngày (ít nhất 150 phút/tuần). Không nên ngưng tập quá 2 ngày liên tiếp.
Thói quen sinh hoạt: Ăn nhạt (dưới 5 g muối/ngày), không hút thuốc lá và hạn chế bia rượu, tránh ngồi một chỗ quá lâu.
Dinh dưỡng cho người tiểu đường không phải là một chế độ ăn kiêng hà khắc, mà là một lối sống khoa học. Việc làm chủ thực phẩm giúp người bệnh “sống chung” hòa bình với bệnh và ngăn ngừa hiệu quả các biến chứng lâu dài.
Chỉ cần lướt mạng xã hội, người dùng dễ dàng bắt gặp hàng loạt quảng cáo về các loại "dây đai treo cổ", "dụng cụ kéo giãn cột sống tại nhà". Với mức giá chỉ từ hơn 150.000 đồng đến 250.000 đồng, những bộ dụng cụ này được quảng bá như "thần dược", mỗi ngày treo từ 2 - 3 lần giúp trị thoát vị đĩa đệm, thoái hóa phình xẹp đĩa đệm chỉ trong một tuần. Thậm chí có người còn quảng cáo hình thức này còn cải thiện tình trạng đau đầu, nhức đầu, choáng váng, mất ngủ...
Đáng lo ngại hơn, các clip minh họa thường hướng dẫn người dùng móc dây vào cánh cửa, xà ngang rồi... thả lỏng toàn bộ cơ thể đung đưa để cổ chịu lực. Chính sự tiện lợi, giá rẻ và những lời quảng cáo có cánh khiến nhiều người vô tình biến thiết bị hỗ trợ thành mối nguy hiểm trong nhà.
Ngày 9.4, thạc sĩ - bác sĩ Calvin Q. Trịnh, Giám đốc Trung tâm HMR (Phục hồi chức năng và hình thể), cho biết việc kéo giãn cổ thực chất chỉ là phương pháp điều trị triệu chứng để làm giảm phản ứng co cơ. Khi đường cong sinh lý cột sống cổ bị thay đổi (do tư thế sinh hoạt hoặc thoái hóa), các cơ vùng cổ gáy sẽ tự động co lại như một cơ chế tự vệ. Việc kéo giãn giúp nới lỏng các đốt sống, tạo cảm giác dễ chịu tức thời cho người bị thoát vị đĩa đệm hoặc co thắt cơ. Hình thức này cũng được sử dụng để điều trị triệu chứng tại cơ sở y tế.
"Tuy nhiên đây chỉ là điều trị cái ngọn, bản chất của thoái hóa cột sống sẽ không thay đổi nếu không giải quyết được nguyên nhân gốc rễ dẫn đến co cơ. Điểm nguy hiểm nhất của phương pháp tự phát này chính là kiểm soát lực", bác sĩ Calvin Q. Trịnh nhấn mạnh
Theo bác sĩ Calvin Q. Trịnh, trong y khoa, việc kéo giãn cột sống cổ phải được tính toán dựa trên trọng lượng cơ thể người bệnh. Lực kéo an toàn chỉ nên dao động từ 1/10 đến 1/8 trọng lượng cơ thể. Ví dụ thực tế một người nặng 70 kg chỉ nên chịu lực kéo khoảng 7 - 9 kg. Việc dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể (cả 70 kg) để kéo giãn cổ là một sai lầm chết người.
"Nếu dùng cả thân mình để kéo thì tất nhiên là nguy hiểm rồi. Lực kéo quá tải đột ngột có thể gây chấn thương nghiêm trọng, thậm chí nứt tủy, tử vong ngay lập tức", bác sĩ Calvin Q. Trịnh cảnh báo.
Để đảm bảo an toàn, người dân tuyệt đối không nên tự ý thực hiện các biện pháp kéo giãn tại nhà bằng các thiết bị trôi nổi trên mạng. Bác sĩ đưa ra các khuyến cáo quan trọng:
Phải có chỉ định của bác sĩ: Trước khi thực hiện kéo giãn, bệnh nhân cần được chụp phim để kiểm tra tình trạng cột sống. Nếu đang có tình trạng trượt đốt sống, xẹp hoặc nứt đốt sống mà vẫn thực hiện kéo giãn thì hậu quả sẽ khó lường.
Sử dụng thiết bị kiểm soát trọng lượng: Nếu tự thực hiện tại nhà, phải mua các loại thiết bị có ròng rọc và quả nặng để kiểm soát chính xác số ký cần kéo, thay vì dùng sức nặng cơ thể.
Không lạm dụng: Kéo giãn chỉ là hỗ trợ. Việc điều trị triệt để cần sự phối hợp của các bài tập phục hồi chức năng và điều chỉnh tư thế sinh hoạt để giải quyết nguyên nhân gốc rễ.
"Đừng vì một chút dễ chịu tức thời mà đánh cược tính mạng vào những phương pháp phản khoa học. Khi gặp các vấn đề về cơ xương khớp người dân nên đến các cơ sở uy tín được thăm khám và có phác đồ hướng dẫn điều trị, tập luyện an toàn, bền vững", bác sĩ khuyến cáo.
"Ung thư phổi hoàn toàn có thể điều trị hiệu quả nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, với tỷ lệ sống trên 5 năm có thể lên tới 70-90%. Ngược lại, phát hiện muộn khiến việc điều trị kéo dài, tốn kém và chủ yếu chỉ nhằm kiểm soát bệnh", PGS Đỗ Hùng Kiên, Phó giám đốc Bệnh viện K, cho biết tại chương trình truyền hình trực tuyến Sàng lọc sớm ung thư phổi – từ câu chuyện người bệnh đến nhu cầu chính sách quốc gia, hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4.
PGS Kiên cho biết hệ thống y tế hiện chỉ tiếp nhận khoảng 20% bệnh nhân ung thư phổi ở giai đoạn sớm đủ điều kiện phẫu thuật. Số còn lại đã mất cơ hội mổ do bệnh tiến triển nặng, trong đó giai đoạn 4 chiếm 40-50% và giai đoạn ba chiếm 25-30%. Hầu hết người dân chỉ đi khám khi cơ thể xuất hiện các triệu chứng toàn thân như khó thở, đau ngực, ho kéo dài, hoặc tế bào ung thư đã di căn gây đau xương, nhức đầu.
Phó giám đốc Bệnh viện K nhấn mạnh việc phát hiện bệnh ngay từ giai đoạn đầu giúp bác sĩ phẫu thuật triệt căn, mang lại tỷ lệ sống trên 5 năm lên tới 70-90%. Bệnh nhân tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian nằm viện và nhanh chóng trở lại nhịp sống thường nhật.
Ngược lại, khi khối u bước sang giai đoạn hai, tỷ lệ sống giảm còn 50-60%, giai đoạn ba tụt xuống 10-36% và giai đoạn cuối chỉ vỏn vẹn 10%. Quá trình chữa trị muộn màng đòi hỏi y bác sĩ phối hợp đa mô thức trong thời gian dài, gây áp lực lớn lên toàn hệ thống y tế và chủ yếu phục vụ mục tiêu kiểm soát bệnh thay vì chữa khỏi hoàn toàn. Cùng một khoảng thời gian, bác sĩ có thể cứu chữa lượng bệnh nhân giai đoạn sớm cao gấp 2-3 lần so với nhóm đến muộn.
Lý giải nguyên nhân, TS Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), nhận định người dân chưa hình thành thói quen tầm soát định kỳ. Hiện nay, chúng ta chủ yếu tìm ra bệnh nhân thông qua các đợt khám sức khỏe cơ quan hoặc hoàn toàn tình cờ.
Giới chuyên môn dự báo số ca ung thư phổi tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng do tỷ lệ hút thuốc và mức độ ô nhiễm không khí vẫn duy trì ở mức cao. Từ bài học thành công trong việc tầm soát cộng đồng của Nhật Bản và Malaysia, các chuyên gia đề xuất ngành y tế Việt Nam cần sớm xây dựng chương trình sàng lọc ung thư phổi quy mô quốc gia kèm cơ chế hỗ trợ chi phí nhằm giải quyết tận gốc vấn đề.
Giới y khoa hiện áp dụng phương pháp chụp CT liều thấp để phát hiện mầm mống ung thư phổi ngay cả khi cơ thể chưa lên tiếng. Tuy nhiên rào cản chi phí khiến kỹ thuật này chưa phổ biến rộng rãi. Các bác sĩ khuyến cáo nhóm nguy cơ cao bao gồm người trên 50 tuổi, người hút thuốc lá lâu năm, người sống trong môi trường ô nhiễm hoặc mắc bệnh phổi mạn tính cần chủ động tìm đến cơ sở y tế để tầm soát định kỳ.
Ngày 12-4, Hội Ung thư Việt Nam phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch”.
Tại hội thảo, TS.BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM - cho biết ung thư phổi tiếp tục là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam cũng như toàn cầu.
Theo số liệu Globocan 2022 và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm nước ta ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới (đứng thứ 3 trong các loại ung thư) và gần 22.600 ca tử vong vì bệnh này (đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư).
Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc tiếp cận các phương pháp điều trị ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn cao, tạo ra gánh nặng rất lớn. Theo thống kê, có tới 84% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, chỉ khoảng 16% được phát hiện sớm.
TS.BS Phạm Xuân Dũng - Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM - cũng cho hay ung thư phổi đang có xu hướng gia tăng cả về số ca mắc mới lẫn tử vong, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, tiệm cận trình độ khu vực và thế giới trong các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Tuy nhiên thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với những trường hợp bệnh tiến xa, ít còn lựa chọn điều trị khả quan.
Từ cuối thế kỷ 20 và trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, điều trị ung thư phổi đã có bước chuyển mình với sự xuất hiện của hai “vũ khí” quan trọng: liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch.
Khi được kết hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, những tiến bộ này đã làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận và tiên lượng bệnh.
“Trước đây, với ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, thời gian sống thêm thường dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, không hiếm trường hợp bệnh nhân có thể sống thêm 2 - 4 năm. Điều này cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến mục tiêu cá thể hóa trong điều trị ung thư”, BS Dũng nói.
Tương tự, BS Tuấn cho biết các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
“Nếu chỉ điều trị bằng hóa trị, thời gian sống người mắc ung thư phổi ở giai đoạn 4 thường chỉ khoảng 8 - 9 tháng. Trong khi đó, với liệu pháp miễn dịch có thể tăng thời gian sống lên khoảng 33 tháng”, BS Tuấn so sánh.
Theo các chuyên gia, các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đẩy mạnh các xét nghiệm di truyền và sinh học phân tử, phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn ngày, cũng như đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.