Theo quy định hiện hành, người ngoài độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động (bị khuyết tật, không có khả năng lao động) được xác định là người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân phải đáp ứng điều kiện: không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1 triệu đồng.
Theo dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân (dự kiến có hiệu lực từ 1.7) mà Bộ Tài chính lấy ý kiến mới đây, để được xác định là người phụ thuộc, người ngoài độ tuổi lao động và người trong độ tuổi lao động (không có khả năng lao động), đều phải đáp ứng điều kiện: không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính (chưa xác định cụ thể là bao nhiêu – PV).
Trao đổi với Thanh Niên, nhiều chuyên gia cho rằng, Bộ Tài chính cần nhanh chóng có dự thảo thông tư hướng dẫn chi tiết để lấy ý kiến cho kịp thời. Trong đó, ngưỡng thu nhập nêu trên cần nâng lên gấp nhiều lần.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính – Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi), phân tích: mức 1 triệu đồng/tháng không phản ánh đầy đủ khả năng tự đảm bảo nhu cầu thiết yếu của một cá nhân.
Điều này dẫn đến thực tế, có những trường hợp người nộp thuế đang trực tiếp hỗ trợ, nuôi dưỡng người thân với mức chi phí đáng kể, nhưng lại chưa được ghi nhận tương xứng trong chính sách giảm trừ.
Một số cơ sở có thể tham chiếu khi xác định ngưỡng mới có thể tính đến là: chuẩn nghèo và cận nghèo hiện hành, mức chi tiêu tối thiểu, cũng như tương quan với mức giảm trừ gia cảnh.
“Nâng ngưỡng thu nhập lên khoảng 3 triệu đồng/tháng có thể được xem là phương án cân bằng. Mức này đủ để phản ánh rõ hơn tình trạng phụ thuộc về kinh tế, đồng thời vẫn giữ được khoảng cách cần thiết để đảm bảo tính chọn lọc của chính sách”, vị này đề xuất.
Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cũng cho rằng, có thể tính toán nâng ngưỡng căn cứ tiêu chí đo lường chuẩn nghèo đa chiều quốc gia (chọn thu nhập bình quân theo chuẩn nghèo khu vực thành thị) hoặc theo lương cơ sở.
Hiện tại, lương cơ sở là 2,34 triệu đồng/tháng. Ở khu vực đô thị, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình ở mức 2 triệu đồng/người/tháng được xác định là hộ nghèo; từ năm 2027, mức này nâng lên 2,8 triệu đồng/người/tháng.
Như vậy, có thể nâng ngưỡng từ 1 triệu đồng lên 2,34 triệu đồng hoặc 2,8 triệu đồng, giai đoạn sau đó áp dụng thả nổi để điều chỉnh tự động.
Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, bình quân lương tối thiểu vùng áp dụng từ 2026, tương ứng mức 4,5 triệu đồng/người/tháng có thể cân nhắc là ngưỡng thu nhập xác định người phụ thuộc cho giai đoạn mới.
Khi mức giảm trừ gia cảnh thay đổi theo từng giai đoạn, ngưỡng thu nhập xác định người phụ thuộc có thể thay đổi tương ứng với sự thay đổi của lương tối thiểu vùng.
Tại dự thảo nghị định, nội dung mới được Bộ Tài chính đề xuất là: đối tượng “cá nhân khác” (không phải vợ, chồng, cha, mẹ, con) được tính là người phụ thuộc phải đáp ứng 4 điều kiện dưới đây:
Thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định; thuộc danh sách hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo theo quy định pháp luật; được người nộp thuế trực tiếp chu cấp, nuôi dưỡng với mức tối thiểu bằng mức giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc; có xác nhận theo quy định.
Ông Được nhìn nhận, những điều kiện nêu trên khá chặt chẽ, có thể gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng.
Nhiều địa phương đang hướng tới mục tiêu xóa hộ nghèo, hộ cận nghèo. Việc dựa hoàn toàn vào tiêu chí này có thể phát sinh tình trạng, những trường hợp thực tế khó khăn nhưng không còn nằm trong danh sách hộ nghèo theo chuẩn hành chính.
Ở khía cạnh yêu cầu chứng minh chi phí nuôi dưỡng thực tế, nếu quy định quá chi tiết, như bắt buộc phải có giao dịch chuyển tiền hoặc chứng từ chi trả hàng tháng với mức tối thiểu bằng mức giảm trừ gia cảnh sẽ làm phát sinh thêm thủ tục, gây khó cho cả người nộp thuế và cơ quan quản lý.
“Thay vì yêu cầu người phụ thuộc phải thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, quá cứng nhắc trong chứng minh chi phí nuôi dưỡng, có thể xem xét cơ chế xác nhận của chính quyền địa phương hoặc các hình thức cam kết phù hợp”, ông Được đề xuất.
Theo Chi cục Hải quan Khu vực IX, đơn vị này vừa có Quyết định số 218, ngày 3.4, về việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Cụ thể, cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Công ty TNHH Anh Trang, địa chỉ đặt tại phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị, để thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 189 ngày 31.8.2023 của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (cũ, nay thuộc tỉnh Quảng Trị).
Lý do bị cưỡng chế: Người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo thời hạn ghi trên quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế.
Số tiền bị cưỡng chế là 4.691.803.997 đồng (gần 4,7 tỉ đồng).
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 10.4.2026, thời hạn trong 1 năm, đến ngày 9.4.2027. Quyết định này sẽ được chấm dứt hiệu lực kể từ khi tiền nợ thuế của doanh nghiệp được nộp đủ vào ngân sách Nhà nước.
Trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Công ty TNHH Anh Trang trong tình trạng đang hoạt động, đã hoạt động gần 20 năm. Ngành nghề kinh doanh chính là bán buôn tre, nứa, gỗ cây và gỗ chế biến. Cụ thể, mua bán, xuất nhập khẩu gỗ các loại (gỗ có nguồn gốc hợp pháp).
Tại buổi làm việc mới đây về tình hình triển khai các dự án nguồn điện mới, Chủ tịch Hội đồng quản trị EVNGENCO2 Trần Phú Thái khẳng định công tác đầu tư phát triển nguồn điện là nhiệm vụ then chốt trong bối cảnh nhu cầu năng lượng của nền kinh tế ngày càng cao và yêu cầu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia ngày càng cấp thiết.
Theo đó, Tổng công ty đang chủ động chuẩn bị đầu tư danh mục dự án đa dạng bao gồm các dự án thủy điện mở rộng, điện mặt trời và các nguồn điện quy mô lớn khác với tổng công suất đạt khoảng 2.431 MW. Trong số đó, nhóm các dự án thủy điện mở rộng có công suất khoảng 313 MW đang được ưu tiên tập trung triển khai nhằm đáp ứng mục tiêu khởi công ngay trong năm 2026.
Báo cáo tại cuộc họp cho thấy, nhiều dự án đã đạt được những bước tiến quan trọng trong công tác chuẩn bị đầu tư như hoàn tất lựa chọn tư vấn lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, từng bước hoàn thiện hồ sơ pháp lý và phối hợp với các địa phương để cập nhật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên, một số dự án vẫn còn tồn tại khó khăn, vướng mắc, đặc biệt trong công tác lựa chọn tư vấn, hoàn thiện thủ tục đầu tư và phối hợp với địa phương trong quá trình phê duyệt chủ trương đầu tư.
Đại diện các đơn vị và tư vấn đã tập trung trao đổi, làm rõ các nội dung liên quan đến tiến độ triển khai, phương án đầu tư, khả năng thu xếp vốn và các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện dự án. Lãnh đạo Tổng công ty yêu cầu các đơn vị chủ động, quyết liệt hơn trong việc làm việc với các cơ quan chức năng địa phương, đồng thời nâng cao chất lượng hồ sơ, rút ngắn thời gian thẩm định để đảm bảo tiến độ chung.
Việc đảm bảo tiến độ chuẩn bị đầu tư không chỉ là nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thuần túy mà còn là trách nhiệm chính trị quan trọng của đơn vị trong việc cung ứng điện ổn định và bền vững.
Cùng với những nỗ lực trên mặt trận đầu tư, kết quả vận hành của EVNGENCO2 trong ba tháng đầu năm 2026 cũng ghi nhận những con số khả quan. Riêng trong tháng 3, sản lượng thực hiện đạt 1.521,69 triệu kWh, tương đương 106,12% kế hoạch tháng. Tính chung lũy kế quý 1, toàn Tổng công ty đã sản xuất được 3.773,91 triệu kWh, đạt 23,49% kế hoạch năm và tăng trưởng 9,71% so với cùng kỳ năm 2025.
Các nhà máy thủy điện hiện đang thực hiện đúng quy trình vận hành liên hồ chứa và bám sát phương thức huy động từ Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) để đảm bảo tính an toàn và tin cậy cao nhất cho hệ thống.
Hướng tới mục tiêu sản lượng 1.517 triệu kWh trong tháng 4 năm 2026, EVNGENCO2 đã yêu cầu các đơn vị tập trung tối đa cho công tác quản trị kỹ thuật, tuyệt đối không để xảy ra sự cố chủ quan và duy trì độ khả dụng của các tổ máy ở mức tối ưu. Tổng công ty đã chủ động chuẩn bị đầy đủ nhiên liệu than, dầu cùng vật tư và nhân lực sẵn sàng ứng phó với các tình huống bất thường; đồng thời, kế hoạch cung cấp nhiên liệu sẽ được điều chỉnh linh hoạt theo sát nhu cầu huy động thực tế của thị trường điện. Bên cạnh đó, các nguồn lực cũng được huy động để thực hiện công tác sửa chữa định kỳ đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng vận hành tốt nhất cho các nhà máy điện trong giai đoạn cao điểm sắp tới.
Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
"Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam", ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi - cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. "Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng", ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. "Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý", ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 - 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.