Ngày 8/4, ngoài việc xét hỏi bà Nguyễn Thị Như Loan (Tổng giám đốc, nguyên Chủ tịch HĐQT Công ty Quốc Cường Gia Lai), TAND TP HCM tập trung làm rõ sai phạm của nhóm lãnh đạo, cán bộ Tập đoàn Cao su Việt Nam liên quan việc chuyển nhượng khu đất hơn 6.000 m2 không qua đấu giá, gây thiệt hại hơn 542 tỷ đồng.
Trình bày tại tòa, bị cáo Trần Ngọc Thuận (cựu Thành viên HĐTV, Tổng giám đốc Tập đoàn Cao su Việt Nam) thừa nhận hành vi như cáo trạng, đồng thời cho rằng việc mình bị truy tố về tội Nhận hối lộ là không oan.
Sai phạm của ông Thuận diễn ra sau khi có chủ trương của người tiền nhiệm Lê Quang Thung (quyền Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Cao su Việt Nam) về việc cần tạo điều kiện cho Lê Y Linh (Giám đốc Công ty Việt Tín) và Đặng Phước Dừa (Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Tín). Cụ thể là chuyển nhượng khu đất 39-39B Bến Vân Đồn bằng hình thức góp vốn thành lập Công ty Phú Việt Tín, không qua thẩm định giá và đấu giá, gây thất thoát tài sản Nhà nước.
Quá trình này, ông Thuận đã hai lần nhận tổng cộng 45 tỷ đồng từ bị cáo Dừa. Số tiền có nguồn gốc từ khoản 50 tỷ đồng Đặng Phước Dừa nhận của bà Nguyễn Thị Như Loan theo hợp đồng hứa mua – hứa bán dự án.
Trả lời HĐXX, ông Thuận cho biết, khi được ông Thung trao đổi về việc tiếp tục chuyển nhượng dự án, ông chưa đồng ý ngay mà chỉ trả lời “để xem lại”. Đến cuộc họp tháng 4/2014, ông mới chính thức có ý kiến về nội dung này. Sau đó, ông yêu cầu Nguyễn Thị Gái (nguyên Tổng giám đốc Công ty Cao su Đồng Nai) tìm luật sư tư vấn nhằm tháo gỡ vướng mắc pháp lý của dự án.
Ông Thuận khai đã nhận 45 tỷ đồng từ Dừa, song không nêu chi tiết. Trong khi đó, kết quả điều tra xác định số tiền này được giao làm 2 lần.
Lần đầu là khoảng đầu năm 2014, Dừa rút 20 tỷ đồng (loại mệnh giá 500.000 đồng, nặng khoảng 40 kg), đóng gói vào 4 vỏ thùng rượu ngoại hiệu Glenfarclas (kích thước 33x27x35 cm). Các thùng tiền này được Dừa chất lên ôtô và chở thẳng đến phòng làm việc của ông Thuận tại trụ sở Tập đoàn Cao su Việt Nam. Khi ông Thuận hỏi: “Gì đấy?”, Dừa trả lời ngắn gọn “tiền cảm ơn anh em Tập đoàn” rồi để lại số tiền này.
Lần thứ hai vào tháng 9/2014, sau khi thương vụ hoàn tất, Dừa lấy 25 tỷ đồng loại mệnh giá 500.000 đồng, gồm nhiều cọc tiền, chia ra xếp gọn gàng vào 2 valy kéo tay màu đen cỡ trung và cỡ lớn (kích thước 38x25x55 cm và 44x25x64 cm) rồi chuyển lên ôtô, lái đến biệt thự riêng của ông Thuận tại khu Lan Anh (quận 2) vào lúc 21h để giao nốt số tiền còn lại.
Khai tại tòa, ông Thuận cho biết đã đưa cho 3 người tại Tập đoàn Cao su Việt Nam gồm: Võ Sỹ Lực (nguyên Chủ tịch HĐTV), Trần Thoại (nguyên thành viên HĐTV, Phó tổng giám đốc) và Phạm Văn Thành (nguyên Trưởng ban Kế hoạch và Đầu tư) mỗi người 2,5 tỷ đồng, còn lại giữ 37,5 tỷ đồng.
“Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai”, ông Thuận nói, đồng thời thừa nhận theo quy định, khu đất phải được thẩm định giá và đấu giá công khai nhưng đã không thực hiện, dẫn đến thiệt hại lớn.
Về khắc phục hậu quả, ông Thuận khai đã nộp lại toàn bộ 37,5 tỷ đồng hưởng lợi và nộp thêm một tỷ đồng để khắc phục hậu quả chung của vụ án.
Liên quan việc bà Nguyễn Thị Như Loan tìm gặp để hỏi về pháp lý dự án, ông Thuận cho biết chỉ gặp trong khoảng 2 phút do đang họp, không có trao đổi hay bàn bạc công việc. Theo ông, bà Loan chủ yếu tìm hiểu thông tin pháp lý, không liên quan đến việc đưa tiền hay xử lý công việc.
Trả lời thẩm vấn tiếp đó, một số lãnh đạo Tập đoàn Cao su và các công ty thành viên cũng thừa nhận sai phạm như cáo buộc, song cho rằng thực hiện theo chỉ đạo cấp trên không được hưởng lợi.
Cựu Phó chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thị Hồng vắng mặt, tòa công bố lời khai
Theo cáo trạng, để được tạo điều kiện mua lại khu đất trên nhằm thực hiện dự án, ngoài việc chi “bôi trơn” cho nhóm Tập đoàn Cao su Việt Nam, bị cáo Linh và Dừa còn đưa tiền, hứa hẹn tặng căn hộ trong dự án cho nhiều quan chức. Trong đó có bà Nguyễn Thị Hồng, Phó chủ tịch UBND TP HCM và Đào Thị Lan Hương, Giám đốc Sở Tài chính, Ủy viên thường trực Ban chỉ đạo 09 sắp xếp tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.
Linh và Dừa đã gặp gỡ và nhờ bà Hương sắp xếp khu đất cho Công ty Phú Việt Tín. Bà Lan nhận lời, song từ chối nhận tiền nhưng được Dừa hứa cho một căn hộ sau khi dự án hoàn thành.
Bị cáo Dừa cũng tìm cách tiếp cận bà Hồng. Sau những bữa cơm thân mật tại nhà riêng để tạo mối quan hệ, Dừa đã đưa cho bà Hồng một túi quà bên trong có 10.000 USD. Tiếp đó, nhân dịp tân gia nhà bà Hồng tại huyện Hóc Môn, Dừa tiếp tục mang đến biếu 50.000 USD để “cảm ơn” việc ký văn bản giao đất.
Bị cáo Nguyễn Thị Hồng được tại ngoại, vắng mặt tại phiên tòa chiều nay, nên HĐXX công bố lời khai của bà tại cơ quan điều tra. Theo đó, bà Hồng thừa nhận hành vi sai phạm của mình, đã khắc phục tổng cộng 1,6 tỷ đồng (dư 100 triệu) và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đối với bị cáo Lan đang trốn truy nã, tòa xử vắng mặt.
Phiên tòa tiếp tục với phần hỏi của các luật sư. Dự kiến ngày 10/4 tuyên án.
Ngày 10/4, Tổ điều tra Khu vực 2, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đà Nẵng cho biết, đơn vị đã phối hợp Công an phường Nam Đông Hà (Quảng Trị) bắt tạm giam đối với Phan Gia Huy (SN 1998, trú tại phường Hải Châu, Đà Nẵng) để điều tra về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo kết quả điều tra, khoảng tháng 9/2025, do nợ tiền nhiều người và cần tiền tiêu xài cá nhân, Huy nảy sinh ý định thực hiện hành vi lừa đảo.
Đối tượng lên mạng xã hội tìm kiếm các dịch vụ làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng (sổ đỏ) thửa đất tại khu dân cư Nam Cầu Cẩm Lệ, phường Hòa Xuân, Đà Nẵng, với nội dung giả mạo, thay đổi thông tin người nhận chuyển nhượng thành tên của mình.
Sau khi nhận được giấy tờ giả, Huy sử dụng tài liệu này đăng thông tin rao bán đất trên các nền tảng dịch vụ nhằm tạo lòng tin với người mua.
Đến ngày 9/11/2025, sau khi thương lượng thành công, đối tượng đã nhận số tiền đặt cọc 499.999.999 đồng từ bị hại. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, Huy dùng để trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Tang vật vụ án gồm một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và các tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đã được thu giữ.
Đằng sau một yêu cầu mang tính hành chính tưởng chừng bình thường là vấn đề cốt lõi: Ranh giới giữa quyền quản lý của chính quyền cơ sở và nguyên tắc độc lập trong hành nghề luật sư.
Xa hơn, đây còn là câu chuyện về vai trò và bản lĩnh nghề nghiệp của luật sư trong việc bảo vệ quyền công dân, đặc biệt là quyền khiếu nại trong lĩnh vực đất đai phức tạp.
Không thể phủ nhận áp lực thực tế tại địa phương khi triển khai các dự án lớn như Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Khi quyền lợi kinh tế của người dân bị tác động, việc phát sinh khiếu nại là điều tất yếu.
Tuy nhiên, quyền khiếu nại không phải là "gánh nặng" cần hạn chế, mà là quyền hiến định.
Hiến pháp năm 2013 khẳng định mọi công dân có quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Luật Khiếu nại năm 2011 tiếp tục cụ thể hóa khi cho phép công dân khiếu nại lần đầu, lần hai, thậm chí có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án có thẩm quyền, đồng thời khẳng định quyền được nhờ luật sư hỗ trợ, tư vấn, đại diện tham gia quá trình giải quyết khiếu nại.
Vì vậy, việc người dân gửi đơn nhiều lần, đúng trình tự, không thể bị xem là hành vi cần bị hạn chế.
Ở chiều ngược lại, vai trò của luật sư cũng đã được pháp luật xác định rõ. Luật Luật sư cho phép luật sư tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Nguyên tắc hành nghề cốt lõi là độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan và tuân theo pháp luật. Điều đó khẳng định luật sư không phải là "tác nhân gây khiếu kiện", mà là người giúp hoạt động khiếu nại và giải quyết khiếu nại diễn ra đúng trình tự, hạn chế sai sót về thủ tục và nội dung.
Trong thực tiễn, bản lĩnh nghề nghiệp của luật sư không chỉ thể hiện ở những vụ án lớn, mà rõ nét nhất trong những vụ việc cụ thể, nơi người dân yếu thế cần được bảo vệ.
Trong các tranh chấp hành chính về đất đai, người dân thường ở vị thế bất lợi về thông tin và hiểu biết pháp luật. Nếu thiếu sự hỗ trợ của luật sư, quyền khiếu nại dễ bị thực hiện sai lệch hoặc bị bỏ dở. Ngược lại, khi có luật sư tham gia, đơn thư thường chặt chẽ hơn, đúng thẩm quyền hơn, hạn chế tình trạng khiếu nại tràn lan, kéo dài.
Do đó, cần nhìn nhận rằng luật sư không làm gia tăng khiếu kiện, mà góp phần đưa hoạt động khiếu nại vào khuôn khổ pháp luật. Một vụ việc có luật sư tham gia thường có cơ hội được giải quyết nhanh và chính xác hơn, bởi các lập luận pháp lý đã được chuẩn bị đầy đủ ngay từ giai đoạn đối thoại. Việc luật sư đồng hành cùng người dân vì thế không chỉ là hoạt động dịch vụ pháp lý, mà còn là một phần của cơ chế bảo vệ công lý.
Ngược lại, nếu luật sư từ chối hỗ trợ người dân trong việc thực hiện quyền khiếu nại hợp pháp, điều đó không chỉ là thiếu trách nhiệm nghề nghiệp, mà còn đi ngược lại sứ mệnh xã hội của luật sư. Khi người dân cần đến pháp luật mà không được hỗ trợ, nền tảng của nhà nước pháp quyền cũng bị ảnh hưởng.
Tất nhiên, trong trường hợp luật sư có hành vi tư vấn sai pháp luật, kích động khiếu kiện trái quy định hoặc gây mất trật tự xã hội, pháp luật đã có đầy đủ chế tài xử lý. Tùy mức độ vi phạm, luật sư có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý này thuộc thẩm quyền của các cơ quan có thẩm quyền và tổ chức luật sư theo quy định pháp luật, bảo đảm tính khách quan và đúng trình tự.
Chính vì vậy, việc "nhắc nhở, chấn chỉnh" luật sư thông qua một văn bản mang tính hành chính cần được cân nhắc thận trọng. Nếu cách diễn đạt hoặc mục đích thực hiện dẫn đến việc gây áp lực hoặc làm suy giảm tính độc lập của luật sư, thì không chỉ vượt quá giới hạn thẩm quyền mà còn ảnh hưởng đến quyền hành nghề hợp pháp của luật sư và quyền tiếp cận công lý của người dân.
Một vấn đề quan trọng khác là cách tiếp cận trong quản lý. Khi số lượng đơn thư tăng cao, giải pháp không thể là "giảm đầu vào" bằng cách gián tiếp hạn chế quyền khiếu nại hoặc vai trò của luật sư.
Cách làm căn cơ phải là nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại từ gốc: bảo đảm tính minh bạch của các quyết định hành chính, tăng cường đối thoại với người dân và giải quyết thỏa đáng ngay từ cơ sở. Khi niềm tin được củng cố, khiếu nại tự nhiên sẽ giảm.
Trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, luật sư phải giữ vững bản lĩnh nghề nghiệp: không né tránh, không thỏa hiệp với những áp lực hành chính không phù hợp và kiên định với sứ mệnh bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Bản lĩnh ấy không nằm ở lời nói mà được thể hiện qua từng vụ việc cụ thể, nơi luật sư lựa chọn đứng về phía pháp luật và công lý.
Nếu luật sư lùi bước, người dân sẽ mất đi một chỗ dựa pháp lý quan trọng và quyền khiếu nại - dù được ghi nhận trên giấy - cũng khó được bảo đảm trong thực tế.
Bởi vậy, điều cần được "chấn chỉnh" không phải là vai trò của luật sư, mà chính là chất lượng quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai và giải quyết khiếu nại, để pháp luật thực sự trở thành công cụ bảo vệ công bằng và quyền lợi hợp pháp của người dân.
Ngày 4-4, UBND TP.HCM phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM tổ chức hội thảo tham vấn chuyên gia về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt, với chủ đề “Chính sách đột phá và không gian phát triển cho TP.HCM trong kỷ nguyên mới”.
Ông Nguyễn Mạnh Cường - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó chủ tịch UBND TP.HCM - chủ trì hội thảo. Đồng chủ trì hội thảo còn có PGS.TS Trần Cao Vinh - Phó giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, PGS.TS Hoàng Công Gia Khánh - Hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM).
Xác định nền tảng quan trọng để xây dựng Luật đô thị đặc biệt cho TP.HCM đó là phải định vị được vị trí phát triển mới cho TP.HCM trong kỷ nguyên mới, PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình - Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM - cho rằng TP.HCM giữ vị trí đặc biệt quan trọng, với định vị là trung tâm kinh tế - tài chính - đổi mới sáng tạo của cả nước, là cực tăng trưởng vùng phía Nam và cửa ngõ hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Từ đó, PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình phân tích TP.HCM phát triển trong kỷ nguyên mới theo 7 định vị sau: Thành phố phải được tổ chức như trung tâm điều phối các nguồn lực chiến lược của vùng và của quốc gia;
Thành phố phải được định hình là hạt nhân của nền kinh tế tri thức, trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia;
Thành phố phải được xác lập là cực hội nhập quốc tế và đầu mối định vị quốc gia trong không gian kinh tế toàn cầu;
Thành phố phải được định vị là trung tâm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp quốc gia;
Thành phố phải phát triển theo định hướng đô thị có khả năng chống chịu cao và phát triển bền vững;
Thành phố phải được phát triển theo định hướng lấy con người và chất lượng sống làm trung tâm, xác định rõ mục tiêu cuối cùng của phát triển là nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của người dân;
Thành phố phải được phát triển như không gian thử nghiệm thể chế và mô hình quản trị tiên phong.
Góp ý trên cơ sở các định vị phát triển của TP.HCM, PGS.TS Tô Văn Hòa, Hiệu trưởng Trường đại học Luật Hà Nội, cho rằng Luật đô thị đặc biệt trước hết phải là khung khổ pháp lý được thiết kế riêng cho TP.HCM - đủ đặc thù, đủ đột phá và tương xứng với vị thế của một siêu đô thị, là cực tăng trưởng đầu tàu, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng hai con số liên tục trong 10 năm tới.
"Cần xác định đây là luật trước tiên đáp ứng ngay yêu cầu phát triển của TP.HCM, đồng thời luật này cũng mang tính hình mẫu để các đô thị khác hướng tới trong quá trình phát triển", ông Hòa nói.
Đồng tình, GS.TS Phạm Hồng Thái, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành luật học nhiệm kỳ 2024 - 2029, Hội đồng Giáo sư Nhà nước, cho rằng nên xây dựng luật phù hợp với đặc thù phát triển của riêng TP.HCM.
"Nhiều đô thị lớn tại nhiều quốc gia trên thế giới vẫn xây dựng các quy định, đạo luật riêng phù hợp cho đô thị đó, có tính ổn định cao, đây là xu thế. Luật đô thị đặc biệt gắn với TP.HCM cần thiết để tháo gỡ các vướng mắc phát triển tại TP.HCM", ông Thái phân tích.
Rất nhiều chuyên gia cùng quan điểm trên và cho rằng cần đặt tên dự thảo luật là Luật đô thị đặc biệt TP.HCM. Điển hình như PGS.TS Vũ Minh Khương (Đại học Quốc gia Singapore). Ông cho rằng tên gọi của luật rất quan trọng vì xác định phạm vi điều chỉnh của luật. Và luật đô thị đặc biệt TP.HCM là công cụ giúp TP.HCM tăng trưởng liên tục 2 con số, có sứ mệnh đóng góp lớn cho tăng trưởng chung của cả nước.