Một dự án có tên “colleague.skill” đang lan truyền trong giới công sở Trung Quốc. Đây là công cụ AI dùng dấu vết kỹ thuật số của một nhân viên như lịch sử chat, email, tài liệu cùng với các mô tả trong prompt để tạo thành một tác nhân AI (AI Agent) với kỹ năng tương tự.
“Colleague.skill” được chia sẻ miễn phí trên GitHub bởi một người Trung Quốc có biệt danh titanwings. Đầu tháng 4, dự án được 2.000 lượt đánh dấu sao trên Github, tương tự nút like trên mạng xã hội. Đến 9/4, con số này đạt gần 11.000.
Dự án được mô tả giúp mọi người hoàn thiện các công việc mà đồng nghiệp, đối tác nghỉ việc để lại, hoặc giúp nhân viên dễ tiếp quản từ người tiền nhiệm. Dù vậy, một số lo ngại công cụ có thể được các “sếp” tận dụng để tạo AI Agent thay thế lực lượng lao động, trong bối cảnh nhiều công ty Trung Quốc yêu cầu nhân viên lưu lại chi tiết công việc, từ quy trình làm việc, ra quyết định đến quá trình giao tiếp.
“Colleague.skill” gây lo ngại vì có thể tạo ra bản sao kỹ thuật số của một người nơi công sở khi chưa cho phép. Trên mạng xã hội Trung Quốc, điều này được gọi là “chưng cất kỹ năng”, ám chỉ việc biến con người thành một bộ kỹ năng để lưu trữ và sử dụng.
Ngày 3/4, nhà sáng tạo nội dung Deng Xiaoxian đăng video phản đối “chưng cất kỹ năng” và chia sẻ công cụ “anti-distillation skill” (kỹ thuật chống chưng cất).
“Không ai muốn bị biến thành một tệp kỹ năng rồi mất việc. Vậy nên tôi tạo ra cái này”, cô nói. “Anti-distillation skill” lấy tệp kỹ năng – dữ liệu chi tiết công việc và giao tiếp mà nhiều nhân viên công sở ở Trung Quốc bị yêu cầu nộp cho cấp quản lý – rồi xử lý để biến thông tin này thành vô giá trị.
Tệp kỹ năng sau khi xử lý sẽ loại bỏ hoặc thay thế các thông tin quan trọng như kinh nghiệm khi ra quyết định, khả năng phán đoán theo ngữ cảnh và các tri thức về công việc – những thông tin AI sẽ tập trung vào để hiểu cách làm việc của một người.
“Anti-distillation.skill” tạo ra hai phiên bản đầu ra. Một bản “sạch” để nộp với cấu trúc chuyên nghiệp, cố tình mơ hồ ở những chỗ quan trọng, và một bản sao lưu riêng tư với tri thức thật để người dùng có thể tự lưu trữ.
Deng Xiaoxian giải thích, phiên bản làm sạch có ba mức độ: nhẹ, trung bình và nặng. Mức nhẹ dành cho những công ty kiểm tra kỹ. Mức nặng dành cho môi trường mà cấp quản lý chỉ muốn hoàn thành thủ tục. “Nếu công ty của bạn chỉ làm cho có, chỉ kiểm tra xem bạn có nộp hay chưa thôi, hãy dùng mức làm sạch dữ liệu nặng”, Deng nói.
Công cụ này cũng đang lan truyền mạnh trên GitHub những ngày qua, “đối đầu với “colleague.skill” và cho thấy giới công sở đang quan tâm và bắt đầu tìm cách chống lại quá trình trích xuất tri thức.
Nỗi sợ bị AI thay thế đang phổ biến trong lực lượng lao động Trung Quốc. Chủ đề #AIAnxiety (lo ngại về AI) trên nền tảng Xiaohongshu đã thu hút khoảng 2,6 triệu lượt xem. Người dùng chia sẻ những lo lắng như: “Cố gắng theo kịp AI còn mệt hơn cả công việc”, hay “Sếp tôi yêu cầu tôi viết mã AI để thay thế một số nhân viên, bao giờ sẽ đến lượt tôi?”.
“Cảm giác như đang chơi Squid Game vậy, bạn có thể bị loại bất cứ lúc nào”, Lambert Li, nhân viên văn phòng ở Thượng Hải, nói với Rest of World. Li cho biết công ty của mình đã sa thải 30% lực lượng lao động năm 2025, trong đó có những người không thích nghi đủ nhanh với AI.
Theo phân tích của Đại học Bắc Kinh dựa trên hơn một triệu tin tuyển dụng, nhu cầu tìm người ở các vị trí có thể bị AI thay thế như lập trình, biên tập, bán hàng đã giảm mạnh ở Trung Quốc trong giai đoạn 2018-2024.
Trước đó vào tháng 3, AI được đề cập là nguyên nhân hàng đầu gây sa thải ở Mỹ, chiếm một phần tư trong hơn 60.000 trường hợp cắt giảm nhân sự được công bố. Trên toàn cầu, theo khảo sát của Đại học Duke và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trên 750 giám đốc tài chính (CFO), số vụ sa thải được gán cho AI trong năm 2026 được dự báo cao gấp 9 lần so với 2025.
Tuy nhiên, không phải mọi vụ “sa thải vì AI” đều thực sự liên quan đến AI, tức một số trong đó là những đợt điều chỉnh nhân sự vì những lý do khác, nhưng vẫn được gán cho công nghệ này. Ngoài ra, năng lực phán đoán, xác định ngữ cảnh và trực giác là những yếu tố mà đến nay AI vẫn khó sao chép.
Theo Digital Trends, từ trước đến nay, khi truy cập một trang web nặng, trình duyệt thường phải 'gồng mình' tải tất cả nội dung cùng lúc ngay khi vừa mở trang. Điều này dẫn đến tình trạng giật lag, tốn tài nguyên máy và lãng phí dữ liệu không cần thiết. Tuy nhiên, với đề xuất mới nhất từ cộng đồng phát triển Chromium, Google Chrome cùng các trình duyệt như Edge hay Vivaldi sắp được trang bị khả năng Lazy Loading (tải chậm) gốc cho cả video và audio.
Thay vì 'ngốn' sạch băng thông ngay lập tức, Chrome sẽ hoạt động thông minh hơn, khi trình duyệt này chỉ tải video hoặc đoạn âm thanh khi bạn cuộn màn hình đến gần vị trí của chúng. Nếu bạn không cuộn tới, dữ liệu đó sẽ không bao giờ được tải. Điều này không chỉ giúp trang web hiển thị gần như ngay lập tức mà còn giúp người dùng tiết kiệm một lượng lớn dung lượng 4G/5G nếu không có nhu cầu xem hết nội dung trang.
Trước đây, các lập trình viên phải viết những đoạn mã JavaScript phức tạp để ép video tải chậm. Tuy nhiên, cách làm này thường gây tốn tài nguyên và dễ phát sinh lỗi. Với thay đổi mới này, trình duyệt sẽ tự động đảm nhận việc tải chậm một cách trơn tru, tận dụng tối đa các tối ưu hóa có sẵn của hệ thống để mang lại trải nghiệm mượt mà nhất mà không cần đến các đoạn mã trung gian gây chậm máy.
Tính năng này đã đi qua các bước thử nghiệm cuối cùng từ tháng 1 và dự kiến sẽ được bật mặc định cho tất cả người dùng kể từ phiên bản Chrome 148. Đây được xem là một trong những nâng cấp đáng giá nhất về hiệu năng của Chrome trong năm 2026, giúp trình duyệt này tiếp tục giữ vững ngôi vương về tốc độ và sự tiện dụng.
Trong chuyến du hành tới Mặt Trăng đầu tháng 4, phi hành đoàn Artemis II chụp nhiều hình ảnh ngoạn mục về thiên thể này và Trái Đất, nhận được sự quan tâm lớn của những người yêu thích khám phá không gian. Tuy nhiên, một số bức ảnh lại thu hút vì yếu tố khác: những ngôi sao và hành tinh lấp lánh trên nền vũ trụ. Điều này gây ngạc nhiên vì trong ảnh chụp từ chương trình Mặt Trăng Apollo của NASA cách đây hơn nửa thế kỷ, nhiều người đã quen với nền vũ trụ là khoảng không tối đen.
Theo Viện Vật lý (IOP) tại Anh, việc không có ngôi sao nào trong ảnh chụp từ bề mặt Mặt Trăng là lý do phổ biến khiến một số người nghi ngờ việc phi hành gia Apollo đã đặt chân lên bề mặt thiên thể. Không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm ánh sáng và khí quyển dày như ở Trái Đất, họ trông đợi thấy hàng nghìn ngôi sao trong mọi bức ảnh.
IOP giải thích, kỳ vọng này dựa trên giả định rằng ảnh được chụp vào đêm Mặt Trăng (ban đêm trên Mặt Trăng dài tương đương 14 ngày Trái Đất). Trong khi thực tế, mọi chuyến bay có người lái đến Mặt Trăng thời Apollo đều diễn ra vào ban ngày (cũng dài tương đương 14 ngày Trái Đất), khi bề mặt thiên thể này sáng rực. Phi hành gia phải đeo kính bảo hộ và chụp ảnh trong điều kiện các ngôi sao thua kém bề mặt Mặt Trăng về độ sáng. Chúng quá mờ để xuất hiện trong ảnh, khiến bầu trời trông như khoảng không tối đen.
"Giả sử bạn là Neil Armstrong đang chụp ảnh Buzz Aldrin vào ban ngày nhiều ánh sáng trên Mặt Trăng. Buzz (mặc bộ đồ vũ trụ) và bề mặt Mặt Trăng sẽ là chủ thể sáng nhất trong ảnh. Để Buzz hiện rõ, bạn cần chọn tốc độ màn trập nhanh và khẩu độ nhỏ. Kết quả, bạn thu được hình ảnh rõ nét của Buzz, nhưng nguồn sáng khác như những ngôi sao lại quá mờ để xuất hiện trên phim chụp", nhà sử học du hành vũ trụ Amy Shira Teitel nói với Astronomy.
Theo nhà vật lý thiên văn Alfredo Carpineti, tiến sĩ tại Đại học Hoàng gia London, từ bề mặt Mặt Trăng hoặc không gian sâu, con người thường có thể thấy bầu trời đầy sao, dải Ngân Hà rõ nét cùng nhiều thiên thể khác. Tuy nhiên, chúng không hiện diện trong ảnh do mục tiêu và cách chụp.
Những mục tiêu phổ biến trong nhiếp ảnh cận Trái Đất là phi hành gia mặc bộ đồ vũ trụ màu trắng, tàu, trạm vũ trụ, Mặt Trăng và chính hành tinh xanh. "Tất cả chủ thể đó đều có một điểm chung: rất sáng nhờ phản xạ nhiều ánh nắng Mặt Trời. Trong khi đó, các ngôi sao vốn là nguồn sáng nhưng lại ở quá xa nên mờ nhạt", Carpineti giải thích trên IFL Science.
Không chỉ ảnh chụp từ phi hành gia, những bức ảnh do camera trên tàu vũ trụ chụp cũng có thể vắng bóng sao. "Về cơ bản, chúng ta không thể thấy sao từ camera trên tàu vì để quan sát chính con tàu (hoặc Mặt Trăng, Trái Đất) thì phải là ban ngày, khi Mặt Trời soi sáng chúng. Camera được điều chỉnh để phù hợp với độ sáng đó nên không thể thu ánh sáng yếu từ những ngôi sao phía sau", tiến sĩ Becky Smethurst, nhà vật lý thiên văn tại Đại học Oxford, nói với Reuters.
Hình ảnh từ không gian có thể trông giống chụp vào ban đêm vì nền trời màu đen thay vì xanh. Nhưng thực tế, bầu trời ban ngày trên Trái Đất có màu xanh nhờ sự tán xạ ánh sáng trong khí quyển. "Vượt khỏi khí quyển, bầu trời ban ngày trông tối đen", Smethurst giải thích.
Bên cạnh đó, đa số ảnh không gian được chụp trên tàu vũ trụ di chuyển nhanh. Vì vậy, để có tác phẩm tốt, cần điều chỉnh tốc độ màn trập và thời gian phơi sáng thích hợp. Phi hành gia NASA Don Pettit thậm chí tự phát triển thiết bị theo dõi sao riêng để chụp những bức ảnh phơi sáng đúng thời gian cần thiết từ Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS), vật thể di chuyển với tốc độ tới 8 km mỗi giây.
Ảnh chụp toàn cảnh Trái Đất ngày 3/4 (trái) và 2/4 (phải) từ tàu vũ trụ Orion trong nhiệm vụ Artemis II. Ảnh: NASA
Những hình ảnh từ phi hành đoàn Artemis II, trong đó các hành tinh và ngôi sao nằm ngoài hệ thống Trái Đất - Mặt Trăng hiện diện, đều có điểm chung là ngược sáng, hay Mặt Trời chiếu sáng từ phía sau. Trong ảnh toàn cảnh Trái Đất ngày 2/4 với thời gian phơi sáng dài hơn, các chi tiết, bao gồm Sao Kim cùng nhiều thiên thể khác, rõ nét hơn so với ảnh chụp ngày 3/4.
Tương tự, trong ảnh chụp nhật thực ngày 6/4, khi Mặt Trăng chắn trước Mặt Trời, các hành tinh và ngôi sao cũng hiện rõ. NASA giải thích: "Các ngôi sao, thường quá mờ để quan sát khi chụp Mặt Trăng, cũng xuất hiện. Lý do là khi Mặt Trăng chìm trong bóng tối, việc chụp ảnh sao trở nên dễ dàng hơn".
Tàu Orion rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội) đưa bốn phi hành gia bay tới Mặt Trăng, đánh dấu sứ mệnh có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA).
Nhiệm vụ Artemis II đánh dấu hàng loạt cột mốc trong ngành hàng không vũ trụ. Ví dụ, phi hành gia da màu, người phụ nữ, người không phải công dân Mỹ đầu tiên, phi hành gia lớn tuổi nhất đến Mặt Trăng. Ngoài ra, phi hành đoàn còn lập kỷ lục bay xa Trái Đất nhất, 406.771 km, xa hơn 6.616 km so với kỷ lục cũ của Apollo 13.
Bên cạnh đó, đây là chuyến bay có người lái đầu tiên của tên lửa Hệ thống Phóng Không gian (SLS) và tàu Orion. Rất nhiều công nghệ thử nghiệm trên tàu cũng lần đầu được sử dụng ngoài không gian như Hệ thống Liên lạc Quang học Orion Artemis II, sử dụng tia laser để gửi và nhận dữ liệu từ Trái Đất. Ngoài ra, tàu cũng trang bị nhà vệ sinh hoạt động đầy đủ đầu tiên trong chuyến bay tới Mặt Trăng.
Trước khi USB-C trở thành chuẩn kết nối chung cho mọi thiết bị từ Android đến iPhone, thế giới smartphone từng trải qua một thời kỳ đầy hỗn loạn với những cổng sạc độc quyền cho từng hãng, cũng như sở hữu những hình thù kỳ quặc mà người dùng trẻ ngày nay có lẽ chưa từng nhìn thấy.
Nhờ sự thúc đẩy mạnh mẽ từ Liên minh châu Âu (EU), USB-C giờ đây là tiêu chuẩn vàng nhờ khả năng truyền dữ liệu siêu tốc, xuất hình ảnh 4K và sạc nhanh công suất lớn. Tuy nhiên, khi lật lại lịch sử, các 'ông lớn' công nghệ từng có những tham vọng riêng với những cổng kết nối độc quyền mà mỗi lần mất dây cáp là một lần khốn khổ.
Trước khi có Lightning hay USB-C, những chiếc iPhone đời đầu sử dụng cổng sạc 30 chân (30-pin) với kích thước bề ngang gần như chiếm trọn cạnh dưới máy. Dù cho có vẻ ngoài cồng kềnh, nhưng nó lại là một sợi cáp đa năng khi có thể xử lý cùng lúc tín hiệu âm thanh analog, video, hỗ trợ cả giao thức FireWire lẫn USB. Tuy nhiên, việc không thể cắm đảo chiều và độ bền kém đã khiến Apple khai tử nó vào năm 2012 để nhường chỗ cho cổng Lightning nhỏ gọn hơn.
Các tín đồ dòng Walkman hay Cybershot thời xưa chắc chắn không quên được FastPort. Thay vì đút vào sâu trong thân máy, cổng này có thiết kế dạng bề mặt với 12 chân tiếp xúc và hai móc cài chắc chắn. Dù đa năng khi cho phép kết nối loa ngoài, tai nghe và sạc cùng lúc qua một hệ thống 'cầu nối', nhưng thiết kế độc quyền này lại là rào cản lớn khi người dùng muốn thay thế phụ kiện bên thứ ba.
Vào đầu những năm 2000, Motorola giới thiệu cổng CE Bus trên dòng V60. Đây có lẽ là cổng kết nối lớn nhất lịch sử điện thoại khi chiếm gần như toàn bộ cạnh dưới. Nó mạnh mẽ đến mức tích hợp được mọi tín hiệu cần thiết, nhưng khi Motorola chuyển sang làm điện thoại mỏng (như dòng Razr V3), CE Bus quá dày để tồn tại. Cuối cùng, nó buộc phải nhường chỗ cho Mini-USB nhỏ bé hơn.
Ra mắt năm 2007, Micro-USB từng là giải pháp hàng đầu cho tình trạng loạn cổng sạc. Với thiết kế hình thang nhỏ gọn và độ bền cao hơn Mini-USB, nó trở thành tiêu chuẩn chung cho toàn bộ thế giới Android trong suốt một thập kỷ. Dù thành công rực rỡ, nhưng sự ra đời của USB-C với tốc độ vượt trội và khả năng cắm hai chiều đã chính thức đẩy Micro-USB vào bảo tàng công nghệ.