Trong những cuộc trò chuyện gia đình, không khó để bắt gặp sự so sánh: người trẻ hôm nay “yếu đuối hơn”, “dễ tổn thương hơn”, trong khi thế hệ trước dù nghèo khó, vất vả vẫn sống kiên cường, ít khi than vãn.
Thực tế người trẻ ngày nay cởi mở hơn trong việc chia sẻ cảm xúc, sẵn sàng nói về lo âu, trầm cảm, áp lực công việc hay khủng hoảng bản thân. Nhưng chính sự cởi mở ấy lại khiến họ bị nhìn nhận “mong manh” hơn.
Câu hỏi đặt ra là liệu thế hệ trước thật sự không có vấn đề tâm lý hay họ chỉ không gọi tên chúng?
Nhiều người thuộc thế hệ cha mẹ lớn lên trong bối cảnh kinh tế khó khăn, chiến tranh hoặc thời kỳ hậu chiến. Cuộc sống khi đó ưu tiên sự sinh tồn: có cái ăn, có việc làm, nuôi được gia đình. Trong hoàn cảnh đó, cảm xúc cá nhân thường bị đặt xuống sau cùng. Không phải họ không buồn, không áp lực mà là không có điều kiện để dừng lại và đối diện với những cảm xúc đó.
Sự khác biệt lớn giữa hai thế hệ không nằm ở việc ai “mạnh mẽ” hơn mà ở cách họ đối diện với cảm xúc.
Thế hệ trước thường chọn cách im lặng, coi khó khăn là điều phải vượt qua. Thế hệ trẻ, ngược lại, có xu hướng gọi tên vấn đề, tìm kiếm sự hỗ trợ và đặt câu hỏi về sức khỏe tinh thần.
Nếu thế hệ trước đối mặt với khó khăn về vật chất thì người trẻ ngày nay lại chịu áp lực từ những yếu tố vô hình hơn: cạnh tranh nghề nghiệp, kỳ vọng xã hội, mạng xã hội và sự so sánh liên tục. Những áp lực này không dễ nhìn thấy nhưng lại tác động sâu đến tâm lý. Khi không được thấu hiểu, chúng dễ bị đánh giá là “chuyện nhỏ”, dẫn đến khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng lớn.
Thay vì đặt hai thế hệ lên bàn cân, có lẽ điều cần thiết hơn là sự thấu hiểu. Người lớn có thể thử lắng nghe nhiều hơn, thay vì so sánh. Người trẻ cũng có thể nhìn lại để hiểu rằng sự kiên cường của thế hệ trước là điều đáng trân trọng.
Sức khỏe tinh thần không phải là câu chuyện của riêng một thế hệ. Nó là vấn đề chung, chỉ khác nhau ở cách mỗi thời đại gọi tên và đối diện. Một xã hội trưởng thành không phải là xã hội không có nỗi buồn mà là nơi con người có thể nói về nỗi buồn của mình mà không bị phán xét.
Thế hệ cha mẹ có thể đã đi qua những tổn thương mà chưa từng gọi tên cho chúng. Thế hệ trẻ hôm nay lại đang học cách gọi tên nỗi buồn. Cả hai, theo những cách khác nhau, đều đang cố gắng sống tốt hơn.
Randy Shilling tốt nghiệp kỹ sư dầu khí tại Texas. Trong 10 năm đầu sự nghiệp, ông sống trong một căn hộ thuê. Bước ngoặt đến vào năm 30 tuổi khi ông chuyển sang làm việc tại nhà máy hóa chất với mức lương tăng 15%. Qua nhiều lần thăng chức, người đàn ông 58 tuổi hiện sở hữu nhà riêng và quỹ hưu trí hơn 3 triệu USD.
Ông Shilling gần như không nhận ra mình đã vươn lên tầng lớp trung lưu bậc cao. "Tôi vẫn là người bình thường, không có ôtô hay tivi đắt tiền nhưng khi cần mua gì, tôi có thể mua ngay lập tức", ông nói. Vợ chồng ông hiện có thu nhập khoảng 220.000 USD một năm.
Theo báo cáo năm 2024 của Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), khoảng 31% người Mỹ thuộc nhóm trung lưu bậc cao, tăng mạnh so với 10% của năm 1979. AEI phân loại thu nhập thành 5 nhóm, trong đó hộ gia đình ba người thu nhập 133.000-400.000 USD thuộc nhóm trung lưu bậc cao. Thu nhập vượt mức này được xem là giàu có.
Hiện tại, quy mô hai nhóm cao nhất đang phình to. Ngược lại, nhóm "nghèo hoặc cận nghèo" (thu nhập dưới 40.000 USD) giảm từ 30% xuống còn 19% trong cùng giai đoạn.
Nhiều gia đình ngạc nhiên khi thấy mình bước sang nấc thang kinh tế mới. Họ tự nhận cuộc sống chỉ dễ chịu hơn chứ không giàu có. Những người này thường làm văn phòng phổ thông thay vì chủ doanh nghiệp. Chuyên gia kinh tế Scott Winship của AEI giải thích: "Các nhóm thu nhập cao mở rộng vì tiền lương tăng nhanh hơn vật giá, đặc biệt đối với nhóm lao động trí thức có bằng cấp".
Hôn nhân cũng là đòn bẩy tài chính. Phân tích của Viện Đô thị chỉ ra, hơn 80% người thuộc nhóm trung lưu bậc cao và giàu có đang sống cùng bạn đời, giúp họ gộp chung thu nhập và chia sẻ sinh hoạt phí.
Gabriel Martinez, 34 tuổi, là một ví dụ. Khởi đầu với mức lương 50.000 USD năm 2015, hiện anh kiếm được 180.000 USD mỗi năm tại một tập đoàn công nghệ. Nhờ vợ chồng cùng đi làm và kiểm soát tài chính, họ đã trả hết khoản nợ học phí đại học 100.000 USD và mua được căn nhà 160 m2 ở Texas. "Cha tôi từng làm việc với mức lương chưa đến 40.000 USD. Tôi biết ơn vì không giậm chân tại chỗ như thế hệ trước", Martinez chia sẻ.
Không còn nỗi lo cơm áo, trăn trở lớn nhất của anh hiện tại là dạy con không ỷ lại, nhất là khi thanh thiếu niên trong vùng thường lái ôtô sang đi học.
Dữ liệu từ Trung tâm Nghiên cứu Pew cũng cho thấy xu hướng này. Năm 2023, 19% người Mỹ nằm trong nhóm thu nhập trên 200.000 USD, tăng từ mức 11% năm 1971. Ngoài lương, tài sản của họ tăng vọt nhờ sự bùng nổ của thị trường chứng khoán và bất động sản.
Với ông Chris Wogan, 76 tuổi, ở bang Pennsylvania, tuổi hưu diễn ra êm đềm hơn kỳ vọng. Lớn lên trong gia đình nghèo, cựu thẩm phán này có thu nhập 175.000 USD từ lương hưu và cổ tức. Vợ chồng ông vừa mua một ngôi nhà trong cộng đồng hưu trí cao cấp và thường xuyên du lịch nước ngoài. "Tôi nghĩ mình chỉ là tầng lớp trung lưu bình thường, nhưng có lẽ tôi đã làm tốt hơn mình tưởng", ông nói.
Dù tài chính dư dả, nhiều người vẫn mang tâm lý phòng thủ. Bà Laura Shields, 46 tuổi, ở bang New Jersey có thu nhập gia đình 240.000 USD. Bà đủ tiền cho con đi ngoại khóa ở nước ngoài những vẫn áp lực khi nghĩ đến học phí đại học đắt đỏ sắp tới và xác định sẽ phải vay mượn thêm.
Hơn 22h ngày 1/4, anh Chu Văn Đạo, 34 tuổi, tài xế taxi công nghệ ở phường Võ Cường nhận cuốc xe đưa một nữ hành khách từ khu Phố Và đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh. Dọc đường, thấy khách ôm bụng quằn quại, mặt tái nhợt, nam tài xế chủ động dìu người này vào phòng cấp cứu ngay khi tới nơi.
Thấy khách chỉ có một mình, anh Đạo quyết định ở lại làm thủ tục nhập viện, đóng tiền tạm ứng viện phí và đẩy xe lăn đưa bệnh nhân đi xét nghiệm, siêu âm.
Gần 0h ngày 2/4, khi cô gái đã ổn định anh mới ra về. Trước lúc rời đi, nam tài xế để lại số điện thoại cho bác sĩ và bệnh nhân phòng trường hợp khẩn cấp.
"Thấy khách trong hoàn cảnh đó, tôi quyết định tắt ứng dụng và ở lại. Mất vài cuốc xe nhưng không thể bỏ mặc người ta lúc hoạn nạn", anh Đạo nói.
Nữ hành khách được anh giúp đỡ đêm hôm đó là chị Lê Thị Huyền Trang, quê Triệu Sơn, Thanh Hóa. Chị mới ra Bắc Ninh làm việc vào cuối tháng 3, chưa có bạn bè để nhờ cậy. Hôm đó chị cũng lo ảnh hưởng thu nhập của anh Đạo nên liên tục giục ra về. Nhưng nam tài xế quyết ở lại.
"Nhìn anh chạy đôn đáo làm thủ tục, đẩy xe đưa đi siêu âm, tôi rất xúc động", chị Trang kể. Lúc ra về anh Đạo còn không lấy tiền cước.
Sau hai ngày điều trị và được xuất viện, chị Trang đã liên lạc gửi lại số tiền viện phí anh đã nộp giúp đêm 1/4.
Video nam tài xế chạy làm thủ tục nhập viện cho một người không quen biết mà chị Trang đăng lên mạng xã hội đã thu hút hàng trăm nghìn lượt xem. "Việt Nam mình cứ ra đường là gặp người tốt", tài khoản An Nhi bình luận.
Anh Đạo, quê ở phường Đông Kinh, Lạng Sơn và mới chạy xe công nghệ được ba tháng, cho rằng hành động của mình chỉ là chuyện nhỏ. "Cùng cảnh ngộ đi làm xa quê, thấy họ cần nương tựa lúc nguy cấp nên tôi giúp thôi", anh nói.
Liệu đây có phải là "bức tranh đứt gãy" giữa kỳ vọng của thế hệ trẻ với thực tại khắc nghiệt của thị trường lao động vốn sôi động và biến đổi nhanh hiện nay?
Số liệu từ Tổng cục Thống kê quý 1-2026 cho ra một con số đáng suy gẫm. Cả nước có gần 1,6 triệu thanh niên (15-24 tuổi) đang rơi vào tình trạng "3 không" như trên. Đáng lo ngại hơn khi tỉ lệ thất nghiệp ở nhóm tuổi này lên đến 8,9%, cao gấp nhiều lần tỉ lệ thất nghiệp chung cả nước.
Tại sao trong bối cảnh các ngành kinh tế số (công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông...) và dịch vụ lưu trú, ăn uống đang tăng trưởng và "khát" nhân lực, nhiều người trẻ vẫn đứng ngoài cuộc hoặc bất lực trong việc giành lấy một công việc? Câu trả lời nằm ở sự lệch pha giữa kỹ năng và kỳ vọng cá nhân.
Một bộ phận gen Z bước vào thị trường với nhu cầu chọn việc theo tiêu chuẩn cá nhân cao, ưu tiên sự tự do và mức đãi ngộ lý tưởng. Tuy nhiên sự thật là họ đang thiếu hụt kinh nghiệm thực tế cùng các kỹ năng số cơ bản để đáp ứng yêu cầu thực chiến từ doanh nghiệp.
Trong xã hội học, tình trạng "3 không" này nếu kéo dài không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn tạo ra "hiệu ứng vết sẹo". Khi rời xa các định chế giáo dục và lao động quá lâu, người trẻ dễ rơi vào trạng thái mất kết nối xã hội, kỹ năng bị mai một và tâm lý tự ti gia tăng.
Chính vì thế khoảng trống trong hồ sơ năng lực càng dài, cánh cửa trở lại môi trường nghề nghiệp càng hẹp lại. Đáng lo ở chỗ tỉ lệ "3 không" tại nông thôn (13%) và ở nữ giới (12,8%) cao hơn hẳn thành thị. Điều đó chứng tỏ áp lực đô thị và rào cản tiếp cận công nghệ vẫn là điểm nghẽn lớn chưa có lời giải triệt để.
Kinh tế số và chuyển đổi số tại Việt Nam dù mới ở giai đoạn đầu nhưng đang tăng tốc cực nhanh (chiếm gần 3% tổng lao động có việc làm và đang tiếp tục mở rộng). Đây chính là kỷ nguyên vươn mình thực tế nhất và chắc chắn nó không chờ đợi những người đứng yên.
Thách thức 1,6 triệu thanh niên nói trên không chỉ là bài toán của các cơ quan quản lý mà còn là lời cảnh tỉnh cho chính mỗi bạn trẻ đang ở trạng thái "3 không". Đừng để mình bị động chờ một công việc trong mơ đúng ý hoặc ảo tưởng năng lực cá nhân, không màng đến những chuyển động thực tế của thị trường lao động.
Thay vào đó cần chủ động lấp đầy khoảng trống kỹ năng của mình bằng các khóa đào tạo ngắn hạn, thậm chí chấp nhận những vị trí khởi đầu khiêm tốn chính là cách duy nhất để mình không bị "đá" khỏi quỹ đạo phát triển. Đừng để mác "thanh niên 3 không" trở thành rào cản ngăn bạn chạm tới tương lai vì trong kỷ nguyên số, đứng yên đồng nghĩa với việc đang lùi lại phía sau.