Con số này không chỉ cho thấy mức độ phổ cập của công nghệ mà còn phản ánh một thực tế: không gian mạng đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống của trẻ.
Theo đó, vấn đề vì thế không còn là “có nên cho trẻ dùng Internet hay không”, mà là làm sao để trẻ an toàn trong một môi trường vừa rộng mở, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Không gian số mang đến cơ hội học tập, kết nối, phát triển kỹ năng. Nhưng đi kèm với đó là những nguy cơ ngày càng tinh vi như bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nội dung độc hại, nghiện game, lệ thuộc mạng xã hội…
Như cảnh báo từ UNICEF, công nghệ có thể “ảo”, nhưng những tổn thương mà trẻ em phải gánh chịu là hoàn toàn có thật . Một lời xúc phạm trên mạng có thể lặp lại vô hạn. Một hình ảnh bị phát tán có thể không bao giờ biến mất. Một cuộc trò chuyện tưởng chừng vô hại có thể trở thành điểm khởi đầu cho hành vi thao túng.
Điều đáng lo hơn là trẻ em bước vào thế giới đó khi chưa có đủ khả năng tự bảo vệ. Các em tò mò, dễ tin, dễ bị ảnh hưởng bởi bạn bè và môi trường xung quanh.
Trong khi đó, chính thiết kế của các nền tảng lại hướng đến việc giữ chân người dùng càng lâu càng tốt, liên tục đề xuất nội dung, tạo vòng lặp tương tác.
Với người lớn, điều này đã khó kiểm soát; với trẻ em, đó là một “cái bẫy” tinh vi. Việc sử dụng Internet quá mức có thể ảnh hưởng đến khả năng tập trung, hành vi, cảm xúc, thậm chí cả sự phát triển não bộ và kỹ năng xã hội.
Trước thực tế đó, nhiều ý kiến đề xuất cần hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội sớm. Đây là phản ứng dễ hiểu khi phụ huynh chứng kiến những rủi ro ngày càng rõ ràng. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, lệnh cấm không phải là lời giải trọn vẹn.
Trẻ em có thể tìm cách vượt rào, sử dụng tài khoản của người lớn, chuyển sang các nền tảng khác ít kiểm soát hơn. Khi đó, rủi ro không biến mất, mà chỉ chuyển sang những “vùng tối” khó nhận diện và khó can thiệp hơn.
Như nhiều chuyên gia nhận định, vấn đề không nằm ở việc trẻ có dùng Internet hay không, mà ở việc các em sử dụng như thế nào và có được chuẩn bị đủ kỹ năng hay chưa .
Thực tế cho thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay không phải là tiếp cận công nghệ, mà là năng lực sử dụng an toàn.
Trẻ em online mỗi ngày, nhưng lại thiếu kỹ năng nhận diện nguy cơ, thiếu khả năng tự bảo vệ và thiếu cả nơi để tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp vấn đề.
Trong khi đó, nhiều phụ huynh và giáo viên vẫn chưa theo kịp tốc độ thay đổi của môi trường số, dẫn đến khoảng trống trong việc đồng hành cùng trẻ.
Bảo vệ trẻ trên không gian mạng không thể là trách nhiệm của riêng gia đình, mà cần một hệ sinh thái nhiều tầng, với sự tham gia của gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và cơ quan quản lý.
Phía gia đình, điều quan trọng nhất không phải là kiểm soát tuyệt đối, mà là thiết lập quy tắc và duy trì đối thoại. Cha mẹ cần hiểu con mình đang làm gì trên mạng, sử dụng nền tảng nào, tiếp xúc với nội dung gì. Việc cài đặt công cụ quản lý là cần thiết, nhưng chưa đủ. Điều cốt lõi là xây dựng sự tin cậy để trẻ sẵn sàng chia sẻ khi gặp vấn đề, thay vì giấu kín.
Đối với nhà trường, giáo dục cần mở rộng sang kỹ năng công dân số. Trẻ cần được dạy cách ứng xử trên mạng, cách bảo vệ dữ liệu cá nhân, cách nhận diện tin giả, cách phản ứng khi bị bắt nạt hoặc tiếp cận bởi người lạ. Những kỹ năng này quan trọng không kém bất kỳ môn học nào trong thời đại số.
Trong khi đó, đối với doanh nghiệp công nghệ, trách nhiệm không thể chỉ dừng ở việc cung cấp nền tảng. Khi rủi ro xuất phát từ chính thiết kế hệ thống, các nền tảng cần chủ động xây dựng môi trường an toàn hơn: kiểm soát nội dung theo độ tuổi, cải thiện cơ chế báo cáo, tăng cường xác minh người dùng và cung cấp công cụ hỗ trợ phụ huynh.
Cũng cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường giám sát và hỗ trợ nạn nhân. Việt Nam đã có những bước tiến trong việc xây dựng hệ thống bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và tham gia các sáng kiến quốc tế nhưng trước tốc độ phát triển của công nghệ, các giải pháp cũng cần được cập nhật liên tục.
Quan trọng hơn cả, cần chuyển từ tư duy “ngăn chặn” sang “trao quyền”. Trẻ em không thể bị tách khỏi thế giới số, nhưng có thể được trang bị để bước vào đó một cách an toàn. Khi có kỹ năng, có nhận thức và có sự hỗ trợ, các em không chỉ là đối tượng cần bảo vệ, mà trở thành chủ thể có khả năng tự bảo vệ mình.
Không gian mạng sẽ tiếp tục mở rộng và trẻ em sẽ tiếp tục hiện diện trong đó nhiều hơn. Do đó không phải là làm cách nào để cấm cản mà là làm sao để các em không bị tổn thương khi tham gia. Đây là sự thật không thể trì hoãn!
Chuyện tình của anh Kpuih Bố (SN 1987, huyện Oyadav, tỉnh Ratanakiri, Campuchia) và chị Siu H’Găng (SN 1988, xã Ia Nan, Gia Lai) là một minh chứng cho những chuyện tình "xuyên biên giới" này.
Anh Bố kể, năm 2007, chị H’Găng sang huyện Oyadav thăm họ hàng, tình cờ gặp anh. Sau lần gặp gỡ, hai người kết bạn và giữ liên lạc với nhau. Tình yêu của đôi bạn trẻ dần nảy nở. Họ từng ra dòng sông Pô Cô (giáp ranh Việt Nam - Campuchia) thề nguyền, chứng minh tình yêu.
Cuối năm 2008, anh Bố sang Việt Nam hỏi cưới và nên duyên vợ chồng cùng chị H'Găng. Đến nay, gia đình đã có hai con, cuộc sống ổn định tại làng Sơn, xã Ia Nan, Gia Lai.
“Mỗi dịp Tết cổ truyền Campuchia (14-16/4), gia đình lại về thăm họ hàng, tưởng nhớ tổ tiên”, chị H’Găng chia sẻ.
Trong căn nhà nhỏ ở làng Bi (xã Ia O, Gia Lai), anh Siu Lăn (SN 1980, xã Sê San, huyện Oyadav, Campuchia) bồi hồi nhớ lại quãng thời gian kiên trì theo đuổi chị Ksor Ven (SN 1982, trú tại làng Bi).
Anh Lăn cho hay từ năm 2005, anh thường qua xã Ia O phụ người thân làm rẫy. Tại đây, anh đã quen chị Ven. Giữa nắng gió đại ngàn, chàng trai Campuchia lặng lẽ “trồng cây si” hàng tháng trời để chinh phục trái tim cô gái người Việt Nam.
Sau nhiều tháng vun đắp, tình yêu của đôi bạn trẻ dần lớn lên theo từng mùa rẫy. Năm 2006, chị Ven theo anh Lăn về Campuchia ra mắt gia đình. Đám cưới diễn ra giản dị theo phong tục hai nước.
“Sau cưới, tôi theo vợ về Việt Nam sinh sống, được hỗ trợ làm quốc tịch, hoàn thiện giấy tờ để các con được đến trường. Giờ vợ chồng có 4 người con, vài sào ruộng và hơn 1ha điều. Cuộc sống không dư dả nhưng ổn định. Mỗi dịp lễ, Tết, gia đình lại về Campuchia thăm người thân”, anh Lăn chia sẻ.
Tại làng Triêl, xã biên giới Ia Pnôn, Gia Lai là nơi có nhiều thế hệ “đơm quả ngọt” từ những mối tình xuyên biên giới. Theo ông Ksor Bíu, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn làng Triêl, gần 50 năm trước, trong cuộc chạy trốn chế độ diệt chủng Pol Pot, nhiều gia đình Campuchia được bộ đội và người dân Việt Nam cưu mang, rồi chọn nơi đây làm quê hương thứ hai.
"Đến nay, hàng trăm người đã ổn định cuộc sống, riêng làng Triêl có khoảng 20 cặp vợ chồng Việt Nam - Campuchia, các thế hệ sau đều mang quốc tịch Việt Nam. Nhờ sự hỗ trợ của chính quyền và lực lượng biên phòng, việc đi lại thuận tiện, đúng quy định", ông Bíu cho hay.
Ông Phan Đình Thắm, Chủ tịch UBND xã Ia O, cho biết, xã có hơn 10 cặp vợ chồng Việt Nam - Campuchia sinh sống ổn định trên địa bàn. Dù khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, họ vẫn từng bước hòa nhập, nỗ lực làm ăn để vun vén cuộc sống.
Theo ông Thắm, bên cạnh thuận lợi, các gia đình này còn gặp khó khăn do thiếu giấy tờ tùy thân hợp pháp, ảnh hưởng đến đời sống và công tác quản lý cư trú.
“Thời gian tới, địa phương sẽ đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, rà soát các trường hợp có yếu tố nước ngoài để hỗ trợ hoàn thiện thủ tục hộ tịch, cư trú, giúp người dân tiếp cận đầy đủ chính sách. Đồng thời, xã cũng sẽ xây dựng các mô hình sinh kế, hỗ trợ "cần câu cơm" để các hộ gia đình từng bước ổn định và vươn lên”, ông Thắm cho hay.
"Situationship" là thuật ngữ chỉ kiểu quan hệ mập mờ giữa hai người, có tương tác tình cảm hoặc tình dục nhưng thiếu thỏa thuận rõ ràng về sự cam kết, tính độc quyền hay đích đến lâu dài.
Báo cáo Year in Swipe của Tinder từng ghi nhận tần suất sử dụng của thuật ngữ này trong phần giới thiệu cá nhân của người dùng đã tăng tới 49%, biến nó trở thành một "đặc sản" hẹn hò của giới trẻ hiện đại.
Dù biết bản thân xứng đáng với những điều tốt đẹp hơn, nhiều người vẫn không thể dứt bỏ mối quan hệ vô danh này do chịu sự chi phối của hai cơ chế tâm lý sâu xa.
"Hiệu ứng máy đánh bạc" trong cảm xúc
Huấn luyện viên hẹn hò Matthew Hussey (Anh), tác giả của hai cuốn sách bán chạy về tâm lý tình yêu, ví những mối quan hệ mập mờ vận hành giống như một chiếc máy đánh bạc. Cảm xúc và sự quan tâm từ đối phương không xuất hiện đều đặn mà lúc có lúc không, tạo ra một cơ chế thưởng ngẫu nhiên. "Cứ 10 lần chờ đợi mới có một lần được đáp lại, nhưng bấy nhiêu đó vẫn đủ để người ta tìm ra lý do tiếp tục", ông nói.
Trong "situationship", người trong cuộc thường xuyên nếm trải sự bất an. Nhưng thỉnh thoảng, họ lại được xoa dịu bởi những đỉnh cảm xúc ngắn ngủi, ví dụ một cuộc trò chuyện sâu sắc thâu đêm, một ngày cuối tuần mang cảm giác bước ngoặt, hay một cử chỉ ân cần đúng vào lúc họ vừa định cất bước rời đi.
Theo chuyên gia, trong thời buổi việc tìm kiếm sự kết nối ngày càng khó khăn, khi gặp được người có sức hút, nhiều người sợ rằng sẽ rất lâu nữa mới tìm lại được cảm giác rung động này. Con người thường dễ bị hút về phía những đối tượng không cam kết, thay vì chọn những người luôn sẵn sàng gắn bó. Nỗi sợ đánh mất cảm xúc hiếm hoi đó khiến nhiều người tiếp tục hy vọng và chấp nhận tổn thương.
Bẫy tâm lý "lỗi chi phí chìm"
Nguyên nhân thứ hai trói buộc con người trong tình cảnh mập mờ là hội chứng "lỗi chi phí chìm" (sunk cost fallacy). Nghiên cứu của TS Michael R. Langlais tại Đại học Baylor (Mỹ) chỉ ra rằng, đây là xu hướng con người tiếp tục lao vào một việc chỉ vì họ đã lỡ đầu tư quá nhiều tiền bạc, thời gian hoặc cảm xúc, bất chấp việc hiện tại nó không mang lại giá trị gì.
Thay vì dừng lại khi thấy mối quan hệ đang bào mòn tâm lý, người trong cuộc tự huyễn hoặc bản thân: "Đã quen nhau 6 tháng rồi, bỏ thì tiếc" hay "Mình đã dành cho họ quá nhiều tình cảm, không thể rời đi lúc này".
Chính tâm lý tiếc nuối những "chi phí chìm" đã khiến họ ngần ngại nhấn nút kết thúc. Họ quên mất rằng, việc tiếp tục duy trì một mối quan hệ một chiều không giúp họ thu hồi lại quãng thanh xuân hay tình cảm đã mất, mà chỉ vắt kiệt sức lực của chính họ trong một sự gắn kết không bao giờ có đích đến.
Dấu hiệu của một mối quan hệ mập mờ:
Không có cam kết: Không có định nghĩa rõ ràng về mối quan hệ giữa hai người (ví dụ: tránh trả lời câu hỏi "mối quan hệ của chúng ta là gì?").
Giao tiếp và kế hoạch không nhất quán: Kế hoạch thường được lập vào phút cuối, và giao tiếp không thường xuyên, thường chỉ xoay quanh sự tiện lợi.
Không có kế hoạch cho tương lai: Bạn không lên kế hoạch cho các sự kiện hoặc chuyến đi sắp tới cùng nhau, chỉ tập trung vào hiện tại.
Thiếu hòa nhập xã hội: Bạn chưa gặp bạn bè hoặc gia đình của họ và họ cũng chưa gặp bạn bè hoặc gia đình của bạn, cho thấy sự thiếu hòa nhập vào cuộc sống của nhau.
Cảm giác "gần gũi nhưng không an toàn": Bạn chia sẻ những khoảnh khắc thân mật, tình cảm hoặc thể xác, nhưng bạn không cảm thấy an toàn về sự ổn định của mối quan hệ.
Nỗ lực một chiều: Mối quan hệ thường có cảm giác như một người đang đầu tư nhiều nỗ lực hoặc cảm xúc hơn người kia.
Cách chấm dứt mối quan hệ mập mờ:
Cắt liên lạc: Giống như khi chia tay, tạo khoảng cách là điều vô cùng quan trọng để chữa lành. Hãy cắt đứt hoặc giảm đáng kể liên lạc, bao gồm cả việc hủy theo dõi họ trên mạng xã hội.
Chấp nhận thực tế: Thừa nhận rằng mối quan hệ đó có thể là nguồn gốc của sự bối rối hơn là sự an toàn. Đừng tìm kiếm sự kết thúc từ người kia. Hãy tự tạo ra sự kết thúc của riêng bạn bằng cách chấp nhận rằng đây không phải mối quan hệ phù hợp.
Tôn trọng cảm xúc của bản thân: Cảm xúc tiêu cực về một mối quan hệ không chính thức là điều bình thường. Hãy cho phép bản thân cảm thấy buồn hoặc tức giận và trút bầu tâm sự với bạn bè hoặc viết nhật ký.
Ưu tiên bản thân: Hãy dồn năng lượng vào sở thích, bạn bè hoặc mục tiêu nghề nghiệp để xây dựng lại lòng tự trọng của bạn.
Thực hiện quy định của Chính phủ quy định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng, Bộ Quốc phòng đăng công khai danh sách 31 tập thể và 1 cá nhân được cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị đầu mối trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đề nghị tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, Huân chương Lao động để lấy ý kiến nhân dân và cán bộ, chiến sĩ.
Cụ thể, 2 tập thể được đề nghị tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba gồm Cục Chính trị, Quân khu 2 và Cục Công trình quốc phòng, Binh chủng Công binh.
9 tập thể được đề nghị tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất gồm Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật; Bộ Tham mưu, Quân khu 2; Cục Chính trị, Quân khu 9; Sư đoàn 330, Quân khu 9; Trường Cao đẳng Kỹ thuật quân sự 1, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật; Phân hiệu phía Nam, Học viện Quân y; Phòng Tài chính, Bộ Tham mưu, Quân khu 4; Khoa Lý luận - Mác Lênin, Học viện Quân y; Công ty cổ phần X20, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật.
Đề nghị tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhì đối với 4 tập thể gồm Lữ đoàn 601, Quân khu 1; Kho K890, Cục Quân khí, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật; Phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật; Phòng Sau đại học, Học viện Chính trị.
Ngoài ra, 16 tập thể được đề nghị tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng ba gồm: Cục Hậu cần, Tổng cục Chính trị; Trung đoàn 261, Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không - Không quân; Trung tâm Phát thanh - Truyền hình Quân đội, Tổng cục Chính trị; Đoàn 871, Tổng cục Chính trị; Trường Cao đẳng Hậu cần 1, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật; Kho K896, Cục Quân khí, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật; Kho 190, Cục Xăng dầu, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật; M951, Ban Cơ yếu Chính phủ;
Viện Tên lửa, Viện khoa học và công nghệ quân sự, Bộ Tổng Tham mưu; Viện kiểm sát quân sự Thủ đô Hà Nội; Bộ môn - Trung tâm Hồi sức cấp cứu, chống độc, Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y; Hệ Bồi dưỡng lý luận chính trị trung cao cấp, Học viện Chính trị; Phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu; Phòng Tài chính, Tổng cục Chính trị; Ban Tác huấn, Phòng Tham mưu, Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk, Quân khu 5; Ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk, Quân khu 5.
Bộ Quốc phòng cũng lấy ý kiến về việc đề nghị tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì với đại tá Nguyễn Văn Bắc, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc, Tổng Công ty Thái Sơn.