Tổn thương thận cấp hay suy thận cấp là một tình trạng lâm sàng rất phổ biến, đặc biệt ở những người đang mắc bệnh lý nặng. Bác sĩ Nguyễn Văn Thanh, phó trưởng Khoa Nội Thận – Tiết niệu Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho biết một số loại thuốc điều trị có thể là nguyên nhân trực tiếp gây ra hoặc làm diễn tiến tổn thương thận cấp trở nên trầm trọng hơn.
Đối với những người bệnh đang có tổn thương thận hoặc đang trong quá trình điều trị, việc lựa chọn và kết hợp thuốc cần được cân nhắc kỹ lưỡng để hạn chế phối hợp các thuốc có chung nguy cơ gây độc. Việc nhận diện sớm và kịp thời ngừng sử dụng các tác nhân gây độc này có thể cải thiện đáng kể kết quả điều trị.
Theo bác sĩ, nguy cơ tổn thương thận cấp do thuốc sẽ gia tăng ở các nhóm, như:
Người đang trong tình trạng mất nước (bao gồm người cao tuổi uống không đủ nước, hoặc người đang bị nôn, sốt, tiêu chảy), nhiễm trùng huyết hoặc hạ huyết áp. Người bệnh đã có tiền sử mắc bệnh thận từ trước.
Người đang sử dụng phác đồ phối hợp nhiều loại thuốc có khả năng gây độc cho thận như: thuốc giảm đau chống viêm không steroid, kháng sinh, thuốc kháng nấm, lợi tiểu, thuốc hạ axit uric máu (allopurinol), thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể.
Một số loại thuốc gây tổn thương thận cấp phổ biển:
1: Kháng sinh nhóm minoglycoside (gentamicin, amikacin, tobramycin, …): Thuốc gây độc trực tiếp lên ống lượn gần dẫn đến hoại tử ống thận cấp tính. Nguy cơ tăng lên khi điều trị kéo dài trên 5–7 ngày, nồng độ thuốc trong huyết thanh cao. Thuốc có thể gây suy thận cấp mà không có thiểu niệu (đái ít) và thường tăng creatinin huyết tương sau vài ngày dùng thuốc.
Phòng ngừa: chỉ định sử dụng ngắn ngày, theo dõi nồng độ thuốc huyết thanh, ùng 1 lần/ngày hơn là chia liều. Trường hợp có suy thận mà phải dùng thuốc, cần điều chỉnh liều theo mức lọc cầu thận.
2: Vancomycin: Gây tổn thương trực tiếp ống lượn gần, tăng gốc oxy hóa, viêm kẽ thận, đôi khi tổn thương cầu thận. Nguy cơ cao hơn khi dùng liều cao, kéo dài, hoặc kết hợp với aminoglycosid. Để phòng ngừa cần duy trì nồng độ vancomycin trong mục tiêu điều trị.
3: Thuốc chống viêm không steroid gây giảm tổng hợp prostaglandin dẫn đến co mạch tiểu động mạch đến ở cầu thận, viêm ống‑kẽ thận do phản ứng quá mẫn, thậm chí gây độc tế bào, rối loạn chức năng ống thận. Tình trạng thường gặp ở người bệnh có mất nước, cao tuổi, có bệnh thận nền, suy tim, xơ gan hoặc kết hợp với các thuốc giãn mạch đi của cầu thận và/hoặc thuốc lợi tiểu.
4: Thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể angiotensin gây giãn tiểu động mạch đi, làm giảm áp lực lọc cầu thận. Nguy cơ cao hơn ở người bị hẹp động mạch thận hai bên, hạ huyết áp nghiêm trọng, thiếu dịch hoặc kết hợp lợi tiểu và/hoặc thuốc gây co mạch đến của cầu thận. Đề phòng ngừa, cần dùng liều thấp và tăng dần theo đáp ứng và dung nạp thuốc.
5: Allopurinol chủ yếu dùng để giảm axit uric trong máu và điều trị bệnh gút. Thuốc có thể gây tổn thương thận cấp do tổn thương ống thận, phản ứng quá mẫn với thuốc. Nguy cơ tăng lên nếu người bệnh đã có suy thận từ trước và cần điều chỉnh liều thuốc theo chức năng thận.
Đề phòng ngừa, cần đảm bảo đủ dịch, uống liều thấp tăng dần theo đáp ứng và dung nạp, giảm liều theo mức lọc cầu thận. Xét nghiệm sàng lọc người mang gen HLA‑B58:01 trước khi dùng allopurinol kéo dài có thể giúp giảm nguy cơ phản ứng quá mẫn nặng.
6: Thuốc cản quang tĩnh mạch gây ra bệnh thận do thuốc cản quang. Cơ chế thuốc gây co mạch thận, độc tính trực tiếp lên ống thận gây hoại tử ống thận cấp. Nguy cơ cao ở người mắc đái tháo đường, suy thận mạn, mất nước, dùng đồng thời thuốc khác (chống viêm không steroid, thuốc lợi tiểu, ức chế men chuyển, chẹn thụ thể).
Bác sĩ thường bù dịch đầy đủ trước và sau chụp phim có thuốc, tránh sử dụng thuốc cản quang không cần thiết hoặc hạn chế liều thuốc cản quang tối thiểu. Tránh dùng chống viêm không steroid trong 24–48 giờ trước/sau tiêm thuốc, ngưng hoặc điều chỉnh liều thuốc lợi tiểu,
7: Thuốc kháng nấm Amphotericin B gây co mạch thận và độc tính lên ống thận. Tuy nhiên thuốc dạng liposome (liposomal amphotericin B) gây độc thận ít hơn dạng deoxycholate. Đề phòng ngừa: Sử dụng dạng liposome nếu có điều kiện, bù dịch đủ trước truyền, điều chỉnh liều nếu có dấu hiệu suy thận.
8: Thuốc ức chế calcineurin (Cyclosporine, Tacrolimus) gây co mạch thận, tổn thương ống thận. Thuốc có thể gây suy thận mạn tính. Cần theo dõi nồng độ thuốc trong máu, giữ nồng độ trong mục tiêu, tránh liều cao kéo dài. Kết hợp đảm bảo đủ dịch, tránh kết hợp các thuốc khác có nguy cơ gây độc.
9: Thuốc lợi tiểu quai (nguy cơ tổn thương thận gián tiếp) nếu sử dụng quá liều gây lợi tiểu quá mức, giảm thể tích tuần hoàn.
10: Propofol (hiếm gặp nhưng quan trọng): Propofol là một thuốc gây mê tĩnh mạch tác dụng nhanh có thể gây suy thận cấp thông qua hội chứng truyền Propofol, liên quan đến tiêu cơ vân, nhiễm toan chuyển hóa, tổn thương cơ tim do truyền liều cao và kéo dài.
Một số biện pháp phòng ngừa chung:
– Đánh giá chức năng thận trước khi dùng các thuốc đặc biệt là các thuốc có nguy cơ gây tổn thương thận.
– Đánh giá các thuốc điều trị hàng ngày, tránh kết hợp nhiều thuốc cùng có nguy cơ gây độc cho thận, ưu tiên thuốc ít độc hơn nếu có lựa chọn.
– Đảm bảo đủ dịch (uống, truyền tĩnh mạch nếu cần), duy trì áp lực tưới máu đến thận đầy đủ.
– Theo dõi chức năng thận, gồm nước tiểu, cân nặng (hàng ngày), creatinine, mức lọc cầu thận và điện giải đồ huyết thanh (có thể 2-3 ngày/lần hoặc khoảng cách tùy từng trường hợp bệnh).
“Luôn nghĩ đến tổn thương thận cấp do thuốc khi thấy creatinine huyết thanh tăng trong vòng 48-72 giờ sau khi bắt đầu dùng thuốc mới”, bác sĩ khuyên.
Khi tình cờ phát hiện một khối bất thường trên cơ thể, đa số mọi người lập tức lo lắng và nghĩ ngay đến ung thư. Bác sĩ Hiếu nói bệnh nhân cần giữ bình tĩnh đầu tiên, lựa chọn hướng tiếp cận hợp lý để ngăn chặn những hậu quả đáng tiếc do điều trị vội vã.
Người dân tuyệt đối không giữ tâm lý "tặc lưỡi" chờ đợi tổn thương tự biến mất, ngoại trừ các loại hạch phản ứng viêm do sâu răng hay mụn nhọt ở vùng hàm, nách, bẹn. Việc phát hiện sớm và chẩn đoán đúng bản chất tế bào đóng vai trò quyết định hiệu quả chữa trị.
Thực tế, bướu lành tính như u nang, u mỡ, u máu hay u xơ chiếm tỷ lệ 80-90% trong tổng số các ca mắc, đặc biệt tại tuyến giáp. Thậm chí, nhiều khối u ở phổi vẫn mang bản chất lành tính hoặc do nhân viên y tế đọc nhầm kết quả chiếu chụp. Do đó, người dân cần hiểu rõ khối u (tumor) hoàn toàn khác biệt với bệnh ung thư (cancer).
Để có kết luận chính xác, bệnh nhân cần tìm đến đúng chuyên khoa liên quan đến vị trí tổn thương thay vì chỉ tập trung vào các cơ sở chụp chiếu hình ảnh. Bác sĩ Hiếu lấy ví dụ người mắc bướu tuyến giáp cần khám nội tiết, u vú hay tử cung khám sản, u dưới da khám da liễu hoặc cơ xương khớp. Việc chọn một bệnh viện gần nhà, nơi bác sĩ tư vấn cặn kẽ và không dọa nạt người bệnh, sẽ giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc. Ông khuyên người dân tránh chạy theo các phòng khám quảng cáo máy móc hiện đại để rồi đối mặt nguy cơ "tiền mất tật mang", điển hình như trường hợp đốt u tuyến giáp sai chỉ định gây chảy máu thứ phát, chèn ép đường thở suýt tử vong.
Khi đã chọn đúng người thầy thuốc, người bệnh phải kiên nhẫn tuân thủ phác đồ và chờ đợi kết quả giải phẫu bệnh thay vì yêu cầu điều trị bao vây ngay lập tức. Ngành y tế chỉ định phương pháp phẫu thuật, hóa trị hay xạ trị dựa trên bằng chứng khoa học chuẩn quốc tế, không áp dụng tư duy "đánh nhầm hơn bỏ sót". Bác sĩ sẽ tiếp tục theo dõi u lành và chỉ can thiệp cắt, đốt khi tổn thương to lên hoặc gây chèn ép cơ quan xung quanh. Đối với ung thư, giới chuyên môn thiết kế phương án điều trị riêng biệt cho từng cá nhân, đòi hỏi người bệnh đặt trọn niềm tin vào chuyên gia y tế để đạt hiệu quả cao nhất.
Tại Việt Nam, hàng năm có hơn 182.000 ca mới và hơn 122.000 ca tử vong do ung thư. Hơn 350.000 bệnh nhân đang sống chung với căn bệnh này. Bình quân cứ 100.000 người Việt có 159 ca được chẩn đoán mắc mới ung thư và 106 trường hợp tử vong. Tỷ suất mắc mới của Việt Nam xếp thứ 91, tỷ suất tử vong xếp 50 trên tổng cộng 185 nước, ngày càng tăng nhanh trên bảng xếp hạng toàn cầu.
Các chuyên gia nhận định tỷ lệ tử vong do ung thư ở Việt Nam cao do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, dẫn đến hiệu quả điều trị hạn chế. Thêm vào đó, những ung thư phổ biến nhất ở người Việt lại là loại có tiên lượng xấu như ung thư gan,phổi. Tuổi thọ tăng, già hóa dân số, ô nhiễm môi trường, thói quen sinh hoạt không lành mạnh như rượu bia, thuốc lá điện tử, chế độ ăn thiếu hợp lý cũng góp phần làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư.
Bé Crew đang hồi phục một cách thần kỳ sau khi được ghép gan và thực hiện nghi thức rung chuông truyền thống tại Bệnh viện Nhi Cleveland Clinic, theo ABC News hôm 4/4. "Đó là một phép màu", Nicole Dearth, mẹ bé Crew, xúc động nói.
"Nếu một người lạ không biết câu chuyện của thằng bé, họ sẽ chẳng thể tin được con đã trải qua những biến cố lớn lao đến thế, bởi hiện giờ trông con chẳng khác gì những đứa trẻ bình thường khác", người mẹ nói.
Bà mẹ 4 con kể con trai út được chẩn đoán mắc một loại ung thư gan hiếm gặp hồi tháng 3/2025. Đó là khối u nguyên bào gan (hepatoblastoma) ác tính giai đoạn 4 đã di căn sang phổi phải. Sau hơn một năm trải qua nhiều đợt hóa trị liệu tích cực và 9 tháng kể từ ca phẫu thuật ghép tạng, Crew hiện không còn phải tiếp tục bất kỳ phương pháp điều trị nào.
Theo Viện Ung thư Quốc gia Mỹ, u nguyên bào gan là loại ung thư hình thành trong các mô gan. Đây là dạng ung thư gan phổ biến nhất ở trẻ em, thường ảnh hưởng đến trẻ dưới 3 tuổi. Các triệu chứng điển hình gồm xuất hiện khối u hoặc sưng vùng bụng, đau bụng, sụt cân không rõ nguyên nhân, chán ăn, buồn nôn và nôn.
Năm ngoái Crew bị cúm nhưng các triệu chứng không thuyên giảm theo thời gian. Qua chẩn đoán hình ảnh, các bác sĩ phát hiện gan của bé bị phình to do một khối u ác tính. "Tôi đã sốc và choáng váng, không thể tin được lại phải đối mặt với nghịch cảnh này khi con mới 11 tháng tuổi", người mẹ nhớ lại.
Sau khi có chẩn đoán, gia đình được thông báo Crew cần phải ghép gan. Dì của bé, Taylor Dearth, cho biết ngay từ đầu đã muốn được giúp cháu mình. "Tôi cảm thấy như đó là định mệnh nếu mình có thể làm điều gì cho con", Taylor, một bà mẹ 3 con, tâm sự.
Kết quả xét nghiệm cho thấy cô là người phù hợp để hiến tạng. Hai dì cháu đã cùng bước vào ca phẫu thuật ghép tạng vào cuối tháng 6/2025. "Điều đầu tiên tôi muốn biết sau ca mổ là Crew có ổn không, vì tôi hiểu ca phẫu thuật của con phức tạp hơn của mình rất nhiều. Nghe tin con tiến triển tốt, mọi thứ với tôi đều trở nên vô giá", Taylor kể.
Tháng 10 năm ngoái, Crew cùng gia đình thực hiện nghi thức rung chuông đánh dấu cột mốc kết thúc quá trình điều trị. Dearth hy vọng câu chuyện của Crew sẽ góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về ung thư nhi khoa và ý nghĩa của việc hiến tạng từ người sống. "Tôi chưa bao giờ nghĩ mình có cơ hội cứu sống một ai đó. Tôi muốn mọi người hiểu rõ hơn về việc hiến tạng và những tác động to lớn mà hành động này mang lại", Taylor chia sẻ.
Ngày 10-4, BS.CK2 Đỗ Châu Việt, Trưởng khoa hồi sức tích cực nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết mới đây khoa đã kịp thời cứu sống 2 trường hợp bệnh nhi nguy kịch vì bệnh tay chân miệng. Đáng lưu tâm khi cả hai trường hợp bệnh đều liên quan đến chủng virus EV71.
Trường hợp đầu tiên là nam bệnh nhi P.Đ.K., 1 tuổi, ngụ xã Đất Đỏ, TP.HCM. Hai ngày trước khi chuyển đến Bệnh viện Nhi đồng 2, bé bị sốt và được đưa đến khám ở phòng khám gần nhà.
Bé được chẩn đoán viêm họng nhưng uống thuốc không thuyên giảm. Bé tiếp tục khám và được chẩn đoán mắc tay chân miệng, bắt đầu xuất hiện các vết hồng ban.
Dù đã được nhập bệnh viện tuyến dưới nhưng tình trạng trở nặng nhanh, bệnh nhi vã mồ hôi vùng đầu, khó thở, suy hô hấp. Bệnh viện tuyến duới đặt nội khí quản và chuyển bé đến Bệnh viện Nhi đồng 2.
Tại đây, bé được các y bác sĩ của khoa hồi sức tích cực nhiễm chẩn đoán tay chân miệng độ 4 và khẩn trương cho thở máy, lọc máu và dùng thuốc trợ tim. Sau hơn 3 ngày điều trị tích cực, bé K. qua cơn nguy kịch, cai máy thở và thở CPAP, sinh hiệu tạm ổn, tiếp tục theo dõi di chứng thần kinh.
Trường hợp thứ hai là nam bệnh nhi Đ.H.T., 3 tuổi, ngụ tỉnh Khánh Hòa. Theo người nhà bệnh nhi, bé T. bị sốt và xuất hiện hồng ban. Gia đình nghi ngờ bé mắc tay chân miệng nên nhanh chóng đưa đến bệnh viện địa phương điều trị.
Ban đầu bé có đáp ứng với thuốc hạ sốt, nhưng sau đó có dấu hiệu giật mình, đi đứng loạng choạng.
Sau khi được truyền thuốc IVIg và theo dõi sát 12 giờ tại phòng hồi sức, bệnh nhi tiếp tục sốt cao 39 độ, thở mệt, miệng trào bọt hồng lẫn máu, phù phổi, nhịp tim 230 lần/phút - gấp đôi so với trẻ bình thường, huyết áp tăng, giảm đột ngột.
Bệnh nhi được chẩn đoán mắc tay chân miệng độ 4, nhưng người nhà tiếp tục chuyển bé đến Bệnh viện Nhi đồng 2 cứu chữa.
Khi nhập Bệnh viện Nhi đồng 2, SPO2 của bé còn 75%, suy hô hấp, suy tim và được chỉ định lọc máu, thở máy, dùng thuốc vận mạch. Sau 6 giờ tận tình điều trị, nhịp tim bé có giảm và sau 3 ngày điều trị bé đã được ngưng lọc máu, ngưng thuốc vận mạch và tiếp tục theo dõi di chứng thần kinh.
BS.CK2 Đỗ Châu Việt nhấn mạnh, trẻ được chẩn đoán tay chân miệng độ 4 đều gặp phải các di chứng thần kinh, tùy theo mức độ từ nhẹ đến nặng.
Bên cạnh đó, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM ghi nhận chủng EV71 hiện chiếm 56% mẫu bệnh phẩm đầu năm 2026. Virus lây truyền chủ yếu qua đường tiêu hóa và tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ người bệnh.
Dấu hiệu của chủng EV71 này thường nổi ban rất ít hoặc kín đáo. Nhiều trường hợp trẻ vào viện trong tình trạng nguy kịch, suy hô hấp, sốc tim mà không hề có hồng ban hay loét miệng rõ rệt, thậm chí có tổn thương não cấp tính, do virus tấn công thẳng vào hệ thống thần kinh trung ương, gây tổn thương nghiêm trọng các cơ quan và tử vong nhanh chóng chỉ trong vòng 12-24 giờ.
Khi bệnh bắt đầu có dấu hiệu tác động lên hệ thần kinh, mỗi phút giây chậm trễ đều có thể ảnh hưởng đến tính mạng của trẻ.