Ngày 7-4, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội chia sẻ vừa mổ lấy thai thành công cho sản phụ 56 tuổi mang song thai.
Ở tuổi 56, khi nhiều người đã an yên bên con cháu, bà T.O. (Hà Nội) lại bắt đầu hành trình làm mẹ thêm một lần nữa.
Trực tiếp theo dõi thai kỳ cho sản phụ, bác sĩ Hà Cẩm Thương, Phó khoa sản khoa tự nguyện, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cho hay sản phụ mang song thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) có tiền sử mổ đẻ cũ và mắc đái tháo đường thai kỳ, phải theo chỉ định của bác sĩ dùng thuốc insulin hằng ngày.
Quá trình mang thai, từng chỉ số đều được kiểm soát, từng nỗi lo đều được lắng nghe, để niềm tin dần lớn lên theo từng nhịp phát triển của hai con.
Chiều 6-4, khi thai kỳ bước sang tuần 38, sản phụ chuyển dạ và được chỉ định nhập viện mổ lấy thai.
Dù ca mổ tiềm ẩn nhiều nguy cơ, đặc biệt khó khăn trong gây tê, nhưng với kinh nghiệm và sự phối hợp nhịp nhàng, ê kíp đã đón hai bé chào đời an toàn.
Một bé trai 2,9kg, một bé gái 2,4kg, đều khỏe mạnh, phản xạ tốt. Sau ca mổ, sức khỏe sản phụ ổn định, hai bé được chăm sóc chu đáo.
Các bác sĩ khuyến cáo mang thai ở tuổi trên 50 có thể đối mặt với nhiều rủi ro cho cả mẹ và bé. Tuy nhiên việc sinh con và làm mẹ là quyền và thiên chức của mỗi người phụ nữ.
Do đó nếu bản thân mang thai khi đã lớn tuổi, người phụ nữ cần được chăm sóc tốt hơn, cần có được thông tin cụ thể về những biến chứng thường gặp khi mang thai để phòng tránh và giải quyết những rủi ro gặp phải.
Đồng thời phải theo dõi, quản lý thai chặt chẽ tại cơ sở y tế chuyên khoa có đội ngũ bác sĩ có kinh nghiệm để đảm an toàn cho cả mẹ và con.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/san-phu-u60-sinh-doi-thanh-cong-20260407204039399.htm

ThS.BS Hồ Văn Hùng, Viện Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết chóng mặt thực chất là một rối loạn đa giác quan, liên quan đến sự phối hợp giữa hệ tiền đình, thị giác và cảm giác bản thể. Thống kê cho thấy cứ 10 người trên 60 tuổi thì có 3 người bị chóng mặt, tỷ lệ này tăng lên khoảng 50% ở nhóm trên 85 tuổi.
Bệnh nhân đến khám vì chóng mặt thường mô tả triệu chứng rất khác nhau. Người thấy mọi vật quay cuồng, đảo lộn; người có cảm giác bồng bềnh như đi trên mây; người lại chỉ đơn thuần là choáng váng, "xây xẩm mặt mày".
Chóng mặt là bệnh phổ biến phổ biến song không hề "đơn giản". Nguyên nhân có thể trải dài từ các rối loạn lành tính ở tai trong đến những tổn thương não bộ nguy hiểm. Việc phân loại nguyên nhân là yếu tố then chốt giúp xử trí đúng và kịp thời.
Nhóm nguyên nhân ngoại biên (thường lành tính nhưng gây khó chịu): Phổ biến nhất là sỏi tai (BPPV), khi các tinh thể nhỏ trong tai trong di chuyển bất thường, khiến người bệnh chóng mặt dữ dội khi thay đổi tư thế. Ngoài ra còn có bệnh Menière (kèm ù tai, giảm thính lực) và viêm dây thần kinh tiền đình sau nhiễm virus.
Nhóm nguyên nhân trung ương (cảnh báo nguy hiểm): Bao gồm các bệnh lý liên quan đến não như đột quỵ, thiếu máu não cục bộ, u não. Đáng lưu ý là migraine tiền đình - nguyên nhân gây chóng mặt kéo dài, thường gặp ở phụ nữ trung niên.
Bên cạnh đó, còn nhiều nguyên nhân dễ bị bỏ sót như rối loạn tuyến giáp, tác dụng phụ của thuốc ở người cao tuổi hoặc chóng mặt chức năng do căng thẳng, lo âu kéo dài.
PGS.TS Võ Hồng Khôi, Viện trưởng Viện Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai, cảnh báo tình trạng lạm dụng thuốc "hoạt huyết", thuốc tuần hoàn não khi chưa rõ nguyên nhân. Nhiều người cứ chóng mặt là tự ý dùng thuốc. Điều này rất nguy hiểm vì có thể làm lu mờ triệu chứng của đột quỵ hoặc u não, khiến việc chẩn đoán bị chậm trễ.
Theo ông, chẩn đoán đúng là yếu tố quyết định. Hiện nay, với các công cụ sàng lọc như HINTS, bác sĩ có thể phân biệt chóng mặt lành tính với đột quỵ ngay từ giai đoạn sớm - "thời điểm vàng" để can thiệp và cứu sống người bệnh. Điều trị hiện đại cũng không chỉ dừng ở thuốc, mà cần kết hợp phục hồi chức năng tiền đình và hỗ trợ tâm lý để xử lý tận gốc nguyên nhân.
Các chuyên gia khuyến cáo không nên chủ quan với triệu chứng chóng mặt. Nếu chóng mặt đi kèm đau đầu dữ dội, đau cổ gáy, yếu tay chân, mất thăng bằng hoặc nói khó, cần đến ngay cơ sở y tế. Thay vì tự ý dùng thuốc theo kinh nghiệm, người bệnh nên được thăm khám tại các cơ sở chuyên khoa để có chẩn đoán chính xác và điều trị phù hợp.
Lê Nga
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-si-chi-cach-phan-biet-chong-mat-lanh-tinh-ac-tinh-5058697.html

Thạc sĩ, dược sĩ Đoàn Thành Luân, Phó trưởng Bộ môn Dược học cổ truyền, Khoa Y học cổ truyền, Trường đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết viêm gan B hiện chưa thể chữa khỏi hoàn toàn. Giai đoạn cấp tính thường tự phục hồi sau 6 tháng. Tuy nhiên, nếu bệnh kéo dài hơn (mạn tính), diễn biến sẽ phức tạp, đòi hỏi phải dùng thuốc và theo dõi định kỳ với tỷ lệ khỏi bệnh rất thấp.
Trước nỗi lo ngại về tác dụng phụ của thuốc hay viễn cảnh phải điều trị duy trì kéo dài, không ít người bệnh đã tự ý sử dụng thảo dược với hy vọng về một giải pháp "thanh lọc" cơ thể an toàn. Đó là lý do cà gai leo bỗng chốc trở thành một trong những cái tên "phủ sóng" khắp các diễn đàn, được ca tụng là "thần dược'" có thể thay thế thuốc đặc trị viêm gan B.
Cà gai leo có tên khoa học là Solanum procumpens Lour. Cà gai leo được sử dụng trong dân gian để điều trị các bệnh về gan như viêm gan, xơ gan và men gan cao. Theo các nghiên cứu hiện nay, cà gai leo chứa các hợp chất nhóm glycoalkaloid, đây là nhóm chất quan trọng có tác dụng bảo vệ gan, giải độc gan, làm hạ men gan, làm chậm tiến triển của xơ gan.
Ngoài ra đây cũng là một trong những dược liệu hiếm hoi có các nghiên cứu trên lâm sàng, các nghiên cứu trên bệnh nhân viêm gan B mạn tính tại các bệnh viện lớn là Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện 354, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đã chứng minh hoạt chất glycoalkaloid trong cà gai leo có tác dụng hỗ trợ điều trị viêm gan virus, bệnh nhân đều cải thiện nhanh các triệu chứng bệnh như vàng da, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, đau tức hạ sườn…
Theo thạc sĩ, dược sĩ Đoàn Thành Luân, dù sở hữu những hoạt chất quý giá cho gan, nhưng về mặt bản chất y học, cà gai leo không thể thay thế phác đồ điều trị viêm gan đặc hiệu, đặc biệt là đối với virus viêm gan B. Trong khi các loại thuốc kháng virus như entecavir hay tenofovir tác động trực tiếp vào vòng đời của virus thông qua cơ chế ức chế enzyme sao chép ngược, từ đó ức chế sự nhân lên của virus, giúp đưa nồng độ virus về dưới ngưỡng phát hiện, thì cà gai leo chủ yếu đóng vai trò "giải quyết hậu quả".
Các hoạt chất như glycoalkaloid chỉ dừng lại ở việc bảo vệ tế bào gan khỏi sự tấn công của các gốc tự do, giảm viêm và làm chậm quá trình xơ gan. Thực tế lâm sàng cho thấy, chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào chứng minh cà gai leo có thể tiêu diệt hoàn toàn virus hay thay thế được khả năng kiểm soát virus bền vững của thuốc tây.
"Việc tự ý ngưng thuốc điều trị để chuyển sang dùng cà gai leo không chỉ khiến nồng độ virus bùng phát mạnh mẽ mà còn làm tăng nguy cơ kháng thuốc, đẩy người bệnh vào tình trạng suy gan cấp tính hoặc ung thư gan tiến triển nhanh chóng. Do đó, việc sử dụng cà gai leo chỉ nên được coi là một liệu pháp bổ trợ dưới sự theo dõi của bác sĩ, thay vì là một phương pháp thay thế hoàn toàn phác đồ điều trị", thạc sĩ Đoàn Thành Luân chia sẻ.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/ca-gai-leo-co-giup-tri-khoi-viem-gan-b-185260409093457652.htm

Ngày 8/4, đại diện Bệnh viện Nhi đồng 1 (TPHCM) cho biết, vừa qua các bác sĩ khoa Ngoại Thần kinh đã tiếp nhận và điều trị thành công một trường hợp bệnh nhi mang khối u não nguy hiểm.
Bệnh nhi là bé T.G.K. (7 tháng tuổi, ngụ tỉnh Đồng Tháp). Khai thác bệnh sử, lúc 3 tháng tuổi, người nhà phát hiện đầu bé to dần, hay nôn ói sau bú và mắt nhìn xuống nên đưa đến khám tại Bệnh viện Nhi đồng 1.
Quá trình thăm khám, bác sĩ ghi nhận bé có tình trạng tăng áp lực nội sọ, ảnh siêu âm cho thấy khối u chèn ép vùng não thất III, gây giãn não thất nặng. Tiếp tục chụp cộng hưởng từ sọ não, bệnh nhi được xác định tình trạng não úng thuỷ tắc nghẽn, với khối u nằm ở vị trí có nhiều cấu trúc thần kinh quan trọng xung quanh.
Kết quả giải phẫu bệnh xác định, bệnh nhi mang u đám rối mạch mạc không điển hình độ 2, một khối u hiếm gặp của hệ thần kinh trung ương.
Do lo lắng việc phẫu thuật lấy u gây nguy cơ cao, gia đình và bác sĩ thống nhất tiến hành đặt dẫn lưu não thất màng bụng để điều trị giảm áp lực nội sọ tạm thời, đợi một khoảng thời gian bé đủ lớn sẽ mổ lấy u.
Nhưng 3 tháng sau, khi chụp phim cộng hưởng từ sọ não, bác sĩ phát hiện khối u tăng kích thước hơn gấp 3 lần. Không thể trì hoãn thêm, ê-kíp điều trị tư vấn gia đình việc phẫu thuật mổ lấy u để cấp cứu cháu bé.
Với sự chuẩn bị chu đáo và phối hợp nhịp nhàng giữa các chuyên khoa Ngoại thần kinh, Phẫu thuật gây mê hồi sức cùng Hồi sức ngoại, ca mổ đã diễn ra an toàn trong 6 giờ đồng hồ, giúp khối u của bé được bóc tách thành công. Sau thời gian hồi sức và chăm sóc tích cực sau mổ, bé đã hồi phục và được xuất viện.
TS.BS Trần Minh Huy, khoa Ngoại Thần kinh, chia sẻ, đây là ca mổ rất khó khăn, khi khối u kích thước lớn (6cm), tăng sinh mạch máu nuôi và phát triển trong lòng não thất. Ngoài ra, với thời gian cuộc mổ kéo dài, nguy cơ mất máu nhiều trên bệnh nhi 7 tháng tuổi đòi hỏi năng lực chuyên môn và phối hợp liên chuyên khoa chặt chẽ.
"Chúng tôi đã vượt qua những thách thức để thực hiện thành công ca phẫu thuật, đưa bệnh nhi trở về lại với cuộc sống bình thường", bác sĩ Huy nói.
Tái tạo khuyết hổng cho bệnh nhân ung thư vùng má
Các bác sĩ Bệnh viện Nguyễn Trãi (TPHCM) vừa phẫu thuật cắt khối u và tái tạo vùng khuyết hổng cho một phụ nữ mang khối u ác tính vùng má.
Theo bệnh sử, trước 2 tháng nhập viện, bà L. (63 tuổi) đã phát hiện khối cứng ở má trái, tăng dần kích thước theo thời gian và gây đau nhẹ khi ăn nhai. Vì nghĩ là viêm loét thông thường, bà không đi khám sớm, mà chỉ đợi khi tổn thương không cải thiện mới vào Bệnh viện Nguyễn Trãi kiểm tra.
Dựa trên kết quả khám lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh, bệnh nhân được xác định ung thư niêm mạc má trái giai đoạn 3. Do khối u xâm lấn sâu, nguy cơ ảnh hưởng chức năng ăn nhai và nuốt sau mổ, bệnh nhân được tư vấn kỹ về phương pháp phẫu thuật và nguy cơ biến chứng.
Song song đó, bà cũng được mở thông dạ dày để nuôi ăn trước mổ, nhằm đảm bảo dinh dưỡng và chuẩn bị thể trạng tốt nhất.
Sau khi cắt rộng khối u và nạo hạch cổ trái, ê-kíp điều trị tiếp tục mổ tái tạo khuyết hổng bằng vạt đảo dưới cằm. Đây là kỹ thuật đòi hỏi các bác sĩ phải kiểm soát toàn diện để đáp ứng an toàn, đồng thời đảm bảo tái tạo mô mềm giúp phục hồi chức năng và thẩm mỹ.
Hậu phẫu, bệnh nhân diễn tiến thuận lợi, vết thương lành tốt và xuất viện sau 5 ngày chăm sóc.
Các bác sĩ khuyến cáo, ung thư niêm mạc má thường khởi phát bằng những tổn thương nhỏ, dễ nhầm với loét miệng thông thường. Người dân cần đi khám ngay khi có các dấu hiệu loét miệng kéo dài trên 2 tuần không lành; có khối cứng vùng má, lưỡi hoặc sàn miệng; chảy máu bất thường trong khoang miệng.
"Người trên 40 tuổi, có tiền sử hút thuốc, uống rượu nên khám và tầm soát định kỳ để phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống", bác sĩ hướng dẫn.

