Tàu vũ trụ Artemis II của NASA rời bệ phóng vào ngày 2/4 (theo giờ Hà Nội), mang theo các phi hành gia Reid Wiseman, Victor Glover, Christina Koch và Jeremy Hansen bay quanh mặt trăng.
Họ không chỉ thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu mà còn phải thích nghi với cuộc sống thường nhật trong môi trường không trọng lực – nơi cách trái đất hơn 434.000km.
Bởi vậy, từ việc gội đầu, đánh răng đến trang điểm nhẹ, đặc biệt với các nữ phi hành gia, mọi hoạt động cá nhân đều đối mặt với những thách thức riêng trong không gian.
Trong môi trường vi trọng lực, nước không chảy xuống mà kết thành những giọt lơ lửng, dính như keo. Tóc dài cũng bị đẩy dựng lên và bay tự do theo mọi hướng.
Các sản phẩm dạng bột hay nước hoa gần như không thể sử dụng vì nguy cơ các hạt nhỏ bay vào phổi hoặc làm hỏng thiết bị. Do đó nữ phi hành gia phải thay bằng các sản phẩm dạng kem. Việc vệ sinh cũng được tối giản nhằm tiết kiệm nguồn nước quý giá.
Nữ phi hành gia Kellie Gerardi từng chia sẻ với tạp chí Glamour về việc NASA cung cấp bộ dụng cụ vệ sinh cá nhân cho mỗi người. Tuy nhiên họ có thể tùy chỉnh theo sở thích như chọn loại kem đánh răng riêng.
“Bạn hiếm khi thấy phi hành gia trang điểm cầu kỳ như trên trái đất. Nhưng họ vẫn mang theo những thứ giúp bản thân trông tươi tắn hơn”, cô nói.
Những buổi tắm vòi sen sang trọng là điều không tưởng trong không gian. Thay vào đó, phi hành gia dùng khăn ướt để lau người nhanh. Việc gội đầu được thực hiện bằng túi nước bằng nhựa hoặc giấy bạc kết hợp dầu gội không cần xả, thường mất khoảng 20-25 phút.
Khi cạo râu, phi hành gia chỉ sử dụng dao cạo thông thường và kem không mùi với lượng dùng được kiểm soát chặt chẽ cho hành trình dài ngày.
Chia sẻ về chuyện làm đẹp, nữ phi hành gia Serena Aunon-Chancellor cho biết, cô thường mang theo bút kẻ mắt, phấn mắt và có thể là chì kẻ mày. Dù không gian ở tàu vũ trụ khiến việc trang điểm phiền phức hơn nhưng một số nữ phi hành gia vẫn làm đẹp mỗi ngày.
“Tôi thấy da mình trông trẻ hơn trong không gian do sự dịch chuyển chất lỏng trong cơ thể khi ở quỹ đạo. Khi gọi video về trái đất, nhiều người cũng nhận xét như vậy”, nữ phi hành gia nói.
Ngoài ra, các nữ phi hành gia thường để tóc buông tự nhiên để giúp thông thoáng, giảm nguy cơ bít nang tóc, gàu hoặc vi khuẩn phát triển.
Trường hợp nổi tiếng là nữ phi hành gia Sunita Williams – người từng mắc kẹt ngoài không gian 288 ngày. Khi rời trái đất, bà có mái tóc nâu dài. Nhưng khi trở về bằng tàu SpaceX Dragon ở ngoài khơi bang Florida (Mỹ), qua mũ bảo hiểm, nhiều người nhận ra mái tóc của bà đã chuyển sang màu trắng. Sự thay đổi này được cho là do hormone căng thẳng như adrenaline và cortisol làm suy giảm tế bào sản sinh melanin.
Trong nhiệm vụ Futura năm 2015, nữ phi hành gia Samantha Cristoforetti của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) tiết lộ, cô sử dụng túi xà phòng đặc biệt để chăm sóc da.
Một video lan truyền trên mạng xã hội cho thấy, cô bơm dung dịch lên tay, chất lỏng gần như “dính” trên da do sức căng bề mặt, sau đó lau khô bằng khăn và treo gần hệ thống thông gió để hong khô.
Không thể đến tiệm làm móng, các phi hành gia phải tự cắt móng tay và hút sạch phần vụn để tránh chúng bay lơ lửng trong khoang. Ngay cả việc đánh răng cũng không đơn giản. Họ phải nuốt kem đánh răng hoặc nhổ vào khăn do không có trọng lực.
Hiểu biết về nhu cầu của nữ phi hành gia đã thay đổi đáng kể kể từ năm 1963 khi Valentina Tereshkova trở thành người phụ nữ đầu tiên bay vào không gian ở tuổi 26.
Đến năm 1978, khi NASA tuyển nhóm nữ phi hành gia đầu tiên, nhiều điều chỉnh đã được thực hiện, từ trang phục, dù, mũ bảo hiểm đến thiết bị hỗ trợ như quần thấm hút tối đa (MAG). Đây là loại tương tự tã người lớn, được sử dụng trong lúc phóng, hạ cánh và đi bộ ngoài không gian.
Thậm chí, NASA còn từng thiết kế một bộ trang điểm riêng cho nữ phi hành gia. Trong đó bao gồm mascara kẻ mắt, son bóng và má hồng. Năm 2018, cơ quan này chia sẻ hình ảnh lưu trữ và cho biết các kỹ sư NASA với trí tưởng tượng phong phú, cho rằng nữ phi hành gia sẽ cần trang điểm nên họ đã thiết kế hẳn một bộ dụng cụ.
Phi hành gia đã nghỉ hưu Rhea Seddon cho biết một số người thực sự muốn có mỹ phẩm khi làm việc ngoài không gian vì không muốn bản thân trông nhợt nhạt, nên đã đề nghị mang theo vài món cơ bản.
Tọa đàm thu hút sự tham gia của các chuyên gia, nhà báo, giảng viên và đông đảo sinh viên, xoay quanh những thay đổi sâu sắc mà AI đang tạo ra đối với hoạt động báo chí.
Tại tọa đàm, GS.TS Nguyễn Đức An, Viện Nghiên cứu truyền thông - chính sách xã hội, Trường đại học Văn Lang, cho biết theo thống kê mới nhất, chỉ khoảng 16% người làm báo không sử dụng AI.
Tuy nhiên, ông An nhấn mạnh AI chỉ là công cụ hỗ trợ, giúp nhà báo làm việc nhanh và hiệu quả hơn trong các khâu như phân tích dữ liệu, phỏng vấn, rã băng, dịch thuật… chứ không thể thay thế con người.
"Việc lạm dụng AI có thể làm suy giảm tư duy phản biện, năng lực sáng tạo và chuẩn mực nghề nghiệp, thậm chí tạo ra thông tin sai lệch hoặc bị lợi dụng để làm ô nhiễm môi trường thông tin.
Không nên "thánh hóa" AI mà cần tiếp cận tỉnh táo, có mục đích và chiến lược rõ ràng, tránh chạy theo phong trào. Việc ứng dụng AI phải luôn đặt dưới sự giám sát của nhà báo, minh bạch với người dùng và lấy lợi ích công chúng làm kim chỉ nam", ông An nói.
Tại tọa đàm, nhà báo Lê Xuân Trung, Phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, chia sẻ yêu cầu bắt buộc của nghề báo là kiểm chứng và chịu trách nhiệm với thông tin. AI có thể hỗ trợ, nhưng không thể gánh thay trách nhiệm nghề nghiệp.
Ông Xuân Trung chia sẻ từ thời điểm dịch COVID-19 (năm 2020), trong bối cảnh phải làm việc từ xa, báo Tuổi Trẻ đã dùng AI là các dẫn chương trình ảo thay thế con người.
Theo thời gian, AI không chỉ là công cụ mà dần trở thành "trợ lý", thậm chí được xem như "đồng nghiệp" trong một số quy trình sản xuất nội dung.
Ông dẫn ví dụ năm 2024, báo Tuổi Trẻ đã sử dụng AI để phân tích, dự đoán tỉ số các trận đấu tại Euro 2024. Theo đó, AI đưa ra dự đoán khi trận đấu chưa diễn ra và nhờ khai thác dữ liệu lớn, công cụ này đã dự đoán chính xác 100% kết quả.
"Mặc dù AI ngày càng mạnh hơn nhưng vẫn cần con người kiểm soát và đưa ra quyết định cuối cùng", ông Xuân Trung nhấn mạnh.
Nhà báo Lê Xuân Trung chia sẻ việc ứng dụng AI trong báo chí có thể chia thành hai hướng là sử dụng cá nhân và tích hợp vào quy trình quản trị tòa soạn.
Nếu tích hợp AI vào hệ thống quản lý nội dung, AI có thể hỗ trợ nhiều khâu như biên tập, phân tích, gợi ý nội dung và xử lý dữ liệu. Tòa soạn phải liên tục đào tạo cho người làm báo vì mức độ tiếp cận AI của mỗi người là khác nhau.
Tại tọa đàm, một giảng viên băn khoăn AI có tác động đến kinh tế báo chí, đồng thời lo ngại việc sử dụng AI có thể làm giảm dấu ấn cá nhân của người viết, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng báo chí chính luận và các tác phẩm chuyên sâu.
Nhà báo Đoàn Xuân Hiếu, Chủ tịch Hội Nhà báo TP Đà Nẵng, Giám đốc Báo và Phát thanh - truyền hình Đà Nẵng, đưa ra nhiều dẫn chứng từ thực tế và khẳng định AI không thay thế con người, nhưng thay đổi cách tổ chức báo chí.
AI không đơn thuần là câu chuyện tiết kiệm chi phí hay nhân sự, mà là vấn đề tái cấu trúc mô hình quản trị báo chí.
Ông nhấn mạnh thay vì cắt giảm nhân lực một cách cơ học, các cơ quan báo chí cần hướng đến xây dựng đội ngũ chất lượng cao, có khả năng làm chủ công nghệ và sáng tạo nội dung.
"AI không thể thay thế những giá trị cốt lõi của nhà báo như cảm xúc, trải nghiệm và tư duy sáng tạo. Đây là yếu tố tạo nên bản sắc của báo chí. AI chỉ là công cụ, còn giá trị khác biệt của báo chí vẫn nằm ở con người", ông Hiếu nói.
Ông Lê Xuân Trung cho rằng điều quan trọng là cách người làm báo sử dụng AI để tạo ra sản phẩm, bởi mỗi người có cách khai thác và đặt câu lệnh khác nhau, dẫn đến kết quả khác nhau.
Nếu phụ thuộc hoàn toàn vào AI, người viết sẽ đánh mất dấu ấn cá nhân. Tuy nhiên nếu sử dụng đúng cách, AI sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý tư liệu, từ đó tạo điều kiện để nhà báo tập trung nhiều hơn vào phân tích, bình luận và đào sâu vấn đề.
Tại Mỹ, Đạo luật Truyền thông năm 1934 của quốc gia được sửa đổi bằng Đạo luật Viễn thông năm 1996, yêu cầu các nhà sản xuất thiết bị viễn thông và các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông phải bảo đảm các thiết bị và dịch vụ này có thể tiếp cận và sử dụng được đối với người khuyết tật.
Những sửa đổi này nhằm bảo đảm rằng người khuyết tật có thể tiếp cận với nhiều loại sản phẩm và dịch vụ, như điện thoại cố định, điện thoại di động, máy nhắn tin, dịch vụ chờ cuộc gọi và dịch vụ tổng đài.
Tại Úc, Chương trình bảo hiểm người khuyết tật quốc gia (NDIS) cung cấp ngân sách trực tiếp cho người khuyết tật để họ tự lựa chọn dịch vụ phù hợp với nhu cầu cá nhân, qua đó tăng cường quyền tự quyết và cá nhân hóa hỗ trợ.
Thông qua cổng thông tin điện tử và hệ thống quản lý trực tuyến, người tham gia có thể theo dõi ngân sách được phân bổ; quản lý các khoản chi; lựa chọn và thay đổi nhà cung cấp dịch vụ; nộp yêu cầu thanh toán và cập nhật kế hoạch.
Người khuyết tật có thể theo dõi ngân sách của mình bằng cách xem trên cổng thông tin The myplace portal or my NDIS app để xem những khoản thanh toán nào đang được thực hiện cho các nhà cung cấp của họ, nhưng không phải trả bất kỳ hóa đơn nào hoặc thực hiện bất kỳ hoạt động ghi sổ kế toán nào (National Disability Insurance Scheme, 2026).
Nền tảng số giúp tăng tính minh bạch, giảm thủ tục hành chính và nâng cao khả năng tự quản lý của người khuyết tật.
Đồng thời, hệ thống dữ liệu tập trung cũng hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc giám sát chất lượng dịch vụ, đánh giá hiệu quả chính sách và điều chỉnh nguồn lực. Việc tích hợp công nghệ số vào toàn bộ quy trình quản lý đã tạo nên một "hệ sinh thái dịch vụ số" đồng bộ, trong đó cá nhân, nhà cung cấp và cơ quan quản lý được kết nối trên cùng một nền tảng.
Ở châu Âu, tiêu chuẩn tiếp cận web WCAG (Web Content Accessibility Guidelines) được áp dụng rộng rãi nhằm bảo đảm khả năng truy cập cho mọi người, bao gồm người khuyết tật. Phiên bản mới nhất WCAG 2.2 nhấn mạnh thiết kế bao trùm và trải nghiệm người dùng (W3C, 2023).
Ngoài ra, các quốc gia Bắc Âu như Phần Lan đã phát triển mô hình giáo dục hòa nhập, trong đó hỗ trợ giáo dục được cung cấp ngay trong lớp học thay vì tách biệt, giúp người khuyết tật tham gia đầy đủ vào hệ thống giáo dục (UNESCO, 2020).
Tại Việt Nam, Chương trình chuyển đổi số quốc gia năm 2020 đã tạo nền tảng quan trọng để phát triển dịch vụ công trực tuyến và mở rộng tiếp cận cho người dân, bao gồm người khuyết tật.
Các chính sách như Nghị quyết 57-NQ/TW (2024) và Thông tư 26/2020/TT-BTTT đã bước đầu tích hợp yếu tố tiếp cận số vào quản lý nhà nước. Hệ thống dịch vụ công trực tuyến đã giúp người khuyết tật tiếp cận thủ tục hành chính từ xa, giảm chi phí và tăng tính độc lập (VOV, 2025).
Trong công tác xã hội, chuyển đổi số mở ra các phương thức hỗ trợ mới như tư vấn trực tuyến, ứng dụng di động và nền tảng trí tuệ nhân tạo, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều rào cản vẫn tồn tại. Khảo sát năm 2024 cho thấy nhiều cổng thông tin điện tử chưa tương thích với công nghệ hỗ trợ như trình đọc màn hình, thiếu mô tả hình ảnh và phụ đề. Điều này làm hạn chế khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ của người khuyết tật, đặc biệt là người khiếm thị.
Hạ tầng công nghệ tuy phát triển nhanh nhưng chưa đồng bộ, tiêu chuẩn tiếp cận còn lạc hậu và cơ chế giám sát chưa hiệu quả. Điều này tạo ra khoảng cách đáng kể giữa chính sách và thực tiễn. Các nghiên cứu cho thấy người khuyết tật có nguy cơ bị loại trừ số cao hơn do hạn chế về kỹ năng, thiết bị và thiết kế công nghệ không phù hợp.
Nếu không áp dụng cách tiếp cận bao trùm trong thiết kế và triển khai công nghệ, chuyển đổi số có thể làm gia tăng bất bình đẳng. Ngoài ra, việc thiếu nguồn lực, chi phí cao trong nâng cấp hệ thống, và sự phối hợp liên ngành chưa hiệu quả cũng là những rào cản lớn trong thực thi chính sách.
Nhân vật chính trong bức hình là cô gái có mái tóc dài, để xoăn nhẹ và buông xõa tự nhiên.
Cô gái ăn mặc không quá cầu kỳ với gương mặt được trang điểm nhẹ, đôi môi đỏ và má ửng hồng, tạo cảm giác trong veo nhưng vẫn cuốn hút. Đặc biệt, điểm nhấn của bức hình là đôi mắt có chiều sâu, cuốn hút mọi ánh nhìn.
Bộ ảnh mang phong cách cổ điển khiến nhiều người liên tưởng tới ảnh chụp của những mỹ nhân đình đám thập niên 90. Trên nhiều nền tảng mạng xã hội, bộ hình thu hút hàng trăm nghìn lượt tương tác với các ý kiến trái chiều.
Trong đó, phần lớn nhận định cho rằng, nhan sắc của cô gái khiến họ liên tưởng tới các "nữ hoàng ảnh lịch" đình đám của Việt Nam một thời.
Cô gái trong bộ ảnh trên là Đàm Phương Linh, 21 tuổi, đến từ thành phố Hải Phòng. Hiện cô theo học tại trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội.
Chia sẻ với phóng viên Dân trí, Linh cho biết đây là bộ ảnh chụp rất ngẫu hứng, không được chuẩn bị kỹ lưỡng. Ngày 31/3, sau khi cùng nhóm bạn uống cà phê ở công viên Thống Nhất, Linh định ra về. Tuy nhiên, thời điểm đó cả nhóm thấy ánh nắng chiều ở công viên rất đẹp nên muốn thử máy ảnh.
Vốn là người mẫu ảnh tự do đồng thời có niềm đam mê chụp ảnh nên Linh tạo dáng nhanh chóng và tự nhiên trước ống kính. Cô chỉ trang điểm nhẹ, mặc trang phục hàng ngày. Tổng thời gian chụp hình khoảng 20 phút.
Linh được nhận xét có gương mặt mang nét đẹp hoài niệm với sống mũi thẳng và bờ môi gợi cảm. Mái tóc buông dài tự nhiên với lớp trang điểm gần như trong suốt, tạo nên tổng thể dịu dàng mà cổ điển.
Sau đó, cô có chia sẻ một số bức hình lên các nền tảng mạng xã hội. Bất ngờ các bài viết đều thu hút lượng xem ngoài sức tưởng tượng.
"Tôi không nghĩ bộ ảnh có sức lan tỏa mạnh mẽ như vậy", Linh nói.
Hiện Linh theo học ngành kinh tế chính trị quốc tế và kinh tế đối ngoại tại trường. Khi có thời gian rảnh rỗi, cô còn làm thêm mẫu ảnh tự do và theo đuổi công việc này gần 2 năm.
Cô gái cho biết luôn ưu tiên việc học, còn công việc người mẫu ảnh chỉ được xem như cách theo đuổi đam mê, hỗ trợ chi trả một phần sinh hoạt phí hàng tháng. Cô chỉ nhận công việc khi không vướng bận lịch học.
Với Linh, việc làm người mẫu ảnh còn là cách giúp cô lưu giữ những nét đẹp tuổi thanh xuân. Cô cho rằng những đường nét trên gương mặt được thừa hưởng từ mẹ của mình. Sở thích chụp ảnh của Linh cũng được truyền cảm hứng từ những bức ảnh thời trẻ của mẹ.
Sau khi bộ ảnh gây sốt trên nhiều nền tảng, Linh cho biết cũng nhận được sự quan tâm của nhiều người. Chia sẻ về chuyện đời tư, cô gái trẻ cho biết hiện vẫn độc thân và muốn để chuyện tình cảm thuận theo tự nhiên.