Mục Lục
ToggleNgày 6.4, bác sĩ Lê Hoàng Hùng, Khoa Ngoại thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM) đã kịp thời phẫu thuật lấy dị vật kim loại trong vùng hố sọ giữa của nam bệnh nhi H.L.Đ (4 tuổi, ở đặc khu Phú Quốc, An Giang). Sự việc này nhắc nhở về những nguy hiểm xung quanh việc sử dụng ná bắn chim và những tai nạn thường gặp, nhất là trẻ em.
Theo gia đình, trước đó, bé Đ. nghịch ná bắn chim cùng bạn thì xảy ra tai nạn. Bé được đưa đến cơ sở y tế địa phương, sau đó chuyển lên tuyến trên do vết thương nguy hiểm.
Bệnh nhi nhập vào Bệnh viện Nhi đồng 2 trong tình trạng sưng đau vùng mắt phải và đầu, có vết thương ở mi dưới. Kết quả chụp CT-Scanner ghi nhận dị vật kim loại hình cầu, đường kính khoảng 5 mm (viên bi sắt), nằm ở vùng hố sọ giữa, sát màng não thùy thái dương phải.
Các bác sĩ nhanh chóng phẫu thuật mở sọ lấy dị vật. Sau khoảng 2 giờ, viên bi sắt đã được lấy ra an toàn.
Theo bác sĩ Hùng, nếu không được can thiệp kịp thời, bệnh nhi có thể đối mặt nguy cơ viêm màng não, áp xe nội sọ, nhiễm trùng nặng, thậm chí tử vong.
Sau phẫu thuật, bệnh nhi tỉnh táo, sức khỏe ổn định, kiểm soát được nguy cơ nhiễm trùng. Tuy nhiên, vẫn có nguy cơ ảnh hưởng thị lực mắt phải do tổn thương nhãn cầu.
Theo bác sĩ Nguyễn Thành Đô, Phó trưởng khoa Ngoại thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 2, mỗi năm bệnh viện tiếp nhận khoảng 1 – 2 trường hợp dị vật vùng đầu mặt; chủ yếu do trẻ nghịch ná bắn chim hoặc súng tự chế, khiến đạn găm vào đầu.
Bác sĩ Đô khuyến cáo, các bậc phụ huynh không nên sử dụng hoặc lưu trữ các loại vật dụng có tính sát thương. Phụ huynh cần sát sao con trẻ, để các đồ vật nguy hiểm xa tầm tay của trẻ. Nhà trường và gia đình nên thường xuyên nhắc nhở trẻ không được chơi hoặc chế tạo các loại đồ chơi gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng, nhằm tránh các tai nạn thương tâm tương tự.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/nghich-na-ban-chim-be-trai-4-tuoi-bi-bi-sat-gam-vao-so-185260406124852607.htm
Phê duyệt đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa

Theo đó, đề án đặt mục tiêu hiện đại hóa toàn diện hệ sinh thái văn hóa số quốc gia; đồng thời đưa văn hóa số trở thành nguồn lực mới cho phát triển bền vững; bảo đảm tài nguyên văn hóa được mở rộng số hóa, chia sẻ hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.
Đề án đưa ra các mục tiêu cụ thể. Đến năm 2030, 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung. Cũng thời điểm này, 100% các loại hình di sản văn hóa đã số hóa được chuẩn hóa dữ liệu theo khung chuẩn quốc gia và chia sẻ theo quy định; 80% di sản văn hóa số công có mã định danh số để xác lập quyền sở hữu, kiểm soát khai thác, khuyến khích người dân, tổ chức, doanh nghiệp cũng xác định mã định danh, quyền sở hữu để thúc đẩy thị trường.
Bảo đảm ít nhất 75% người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; 80% các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa trên môi trường số...
Mục tiêu đến năm 2045, phát triển hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa số toàn diện, thông minh, tương tác cao, vừa bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, vừa lan tỏa mạnh mẽ văn hóa Việt ra thế giới và hội nhập quốc tế. Văn hóa số Việt Nam trở thành động lực phát triển con người Việt Nam toàn diện và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, trong đó phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột bền vững, đóng góp 9% GDP, quy mô các sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm tỷ trọng trên 80% sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/phe-duyet-de-an-chuyen-doi-so-trong-linh-vuc-van-hoa-185260405222054742.htm
Chuyên gia: 'Luật đô thị đặc biệt cần cho TP HCM nhưng quan trọng là cách làm'

"Ngay cả khi được trao quyền rộng, thành phố vẫn khó tạo bứt phá nếu không khơi lại tinh thần dám nghĩ, dám làm", TS Huỳnh Thế Du, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, nói tại hội thảo tham vấn về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cho TP HCM do UBND TP HCM phối hợp với Đại học Quốc gia TP HCM tổ chức, ngày 4/4.
Theo ông Du, khoảng một thập niên qua TP HCM không thiếu cơ chế đặc thù, song các chính sách chưa tạo động lực tăng trưởng rõ rệt, thậm chí vai trò, đóng góp của thành phố có xu hướng giảm.
Dẫn số liệu, ông cho biết năm 2001, vùng Đông Nam Bộ chiếm 37,6% GDP cả nước, hiện còn 31,1%; trong khi vùng Đồng bằng sông Hồng từ khoảng 25% đã vươn lên dẫn đầu. Cách đây 20-25 năm, khu vực TP HCM (gồm Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương cũ) đóng góp khoảng 50% thu ngân sách, nay còn khoảng một phần ba.
Diễn biến này cũng thể hiện qua các giai đoạn áp dụng cơ chế đặc thù. Khi ban hành Nghị quyết 54 năm 2017, vùng TP HCM chiếm khoảng 27% GDP cả nước; sau 5-6 năm triển khai, tỷ trọng giảm còn 24,5% và đến năm 2020 còn 23,1%.
Liên hệ giai đoạn đầu Đổi mới, TS Huỳnh Thế Du cho rằng TP HCM từng tăng trưởng mạnh nhờ cách làm linh hoạt, "phá rào" trước những ràng buộc chưa phù hợp. "Luật Đô thị đặc biệt hay việc nới khung thể chế chỉ là điều kiện cần, vấn đề là cách làm và vận hành thực tế của bộ máy", ông nói.
Theo chuyên gia này, điểm mấu chốt nằm ở "thể chế phi chính thức" - cách hệ thống thực sự vận hành, từ phối hợp giữa các cơ quan, xử lý công việc đến tinh thần dám làm và mức độ linh hoạt trong thực thi - có thể chiếm tới 80% động lực đổi mới.
TS Du lưu ý nếu chỉ hoàn thiện quy định trên giấy mà không thay đổi cách vận hành, hiệu quả sẽ hạn chế. Vì vậy, cùng với xây dựng luật, TP HCM cần khơi lại tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm trong đội ngũ thực thi.
"Giả định TP HCM có quyền như Singapore, tôi vẫn lo ngại nếu cách làm không thay đổi", ông nói, dẫn lại việc thành phố đã trải qua nhiều cơ chế như Nghị quyết 54, 98 nhưng chưa tạo được bứt phá rõ rệt.
Đồng quan điểm, TS Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng để luật phát huy hiệu quả cần hướng tới mục tiêu: thành phố phải "được làm, làm được và dám làm", đồng thời triển khai nhanh, sáng tạo và hiệu quả.
Theo ông, dự thảo luật cần thiết kế cơ chế để TP HCM chủ động triển khai các nhiệm vụ cụ thể, kể cả ban hành quy định với những nội dung pháp luật hiện hành chưa đề cập. Tuy nhiên, quyền hạn phải đi kèm năng lực thực thi và trách nhiệm, do đó cần cơ chế bảo vệ cán bộ, nhất là người trực tiếp ra quyết định.
TS Điền nhấn mạnh điểm nghẽn hiện nay nằm ở khâu tổ chức thực hiện, khi chủ trương, định hướng cơ bản đã rõ. Vì vậy, dự thảo cần bổ sung các công cụ hỗ trợ như quy hoạch, kiến tạo không gian phát triển, liên kết vùng, đồng thời cho phép thành phố chủ động với các lĩnh vực mới.
Về tài chính, ông đề xuất tăng quyền tự chủ tài khóa, cho phép TP HCM chủ động thu - chi, áp dụng một số khoản thu đặc thù và sử dụng các công cụ huy động vốn như trái phiếu, quỹ hạ tầng.
Ngoài ra, cần đột phá trong hợp tác công tư, mở rộng sang hạ tầng số, không gian ngầm và các lĩnh vực mới, cùng cơ chế tài chính cho đổi mới sáng tạo. Thành phố cũng cần chủ động hơn về tổ chức bộ máy, chính sách tiền lương để thu hút nhân lực chất lượng cao.
Bộ Chính trị đã đồng ý cho TP HCM xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, tương tự Luật Thủ đô. Thành phố dự kiến hoàn tất dự thảo trong tháng 4, sau đó tổ chức các hội thảo, lấy ý kiến từ tháng 5 đến tháng 6 trước khi trình Quốc hội khóa XVI xem xét vào cuối năm 2026.
Theo Phó chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Mạnh Cường, thành phố không chỉ dừng ở bổ sung cơ chế đặc thù mà hướng tới luật hóa các chính sách ở mức cao nhất, đủ sức giải phóng nguồn lực và tạo động lực tăng trưởng mới.
TP HCM xác định ba nguyên tắc khi xây dựng luật. Thứ nhất, trao quyền tự chủ toàn diện theo phương châm "địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm". Thứ hai, luật hóa các vấn đề thực tiễn chưa có hành lang pháp lý như quản lý không gian ngầm, tài sản công, đường sắt đô thị, phát triển trung tâm tài chính, thu hút nhân tài. Thứ ba, thể chế hóa các cơ chế đặc thù, biến lợi thế riêng của thành phố thành quy định pháp luật để phát huy hiệu quả.
Lê Tuyết
Nâng cao chất lượng giám sát, phản biện

Bộ Tư pháp đang đề xuất thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ (gồm Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp - Môi trường) và UBND 10 tỉnh, thành phố (Quảng Ninh, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bắc Ninh, Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ).
Việc thí điểm luật sư công là cần thiết nhằm tăng khả năng kiểm soát tính hợp pháp của các quyết định hành chính trước khi ban hành, đẩy mạnh việc tham gia tố tụng hành chính để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, đồng thời tăng khả năng giải quyết các tranh chấp quốc tế và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng nên mở rộng phạm vi thí điểm đối với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, thay vì chỉ với 18 đơn vị như đề xuất của cơ quan soạn thảo.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Chủ nhiệm Cơ quan truyền thông Liên đoàn Luật sư Việt Nam , Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, dẫn điều 9 Hiến pháp quy định MTTQ Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
MTTQ Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân đến các cơ quan nhà nước; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Theo ông Hậu, các chức năng trên của MTTQ Việt Nam đều đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ phải thực sự am hiểu về pháp luật. Việc thí điểm luật sư công, một đội ngũ pháp lý chuyên nghiệp, sẽ giúp hoạt động của khối mặt trận chuyên nghiệp, chất lượng hơn.
Chẳng hạn hoạt động giám sát, phản biện xã hội, liên quan trực tiếp đến lợi ích công cộng, tác động đến chính sách pháp luật và các quyết định quản lý nhà nước. Do đó, thận trọng, chính xác, hiệu quả là những yếu tố bắt buộc cần có.
Dự thảo quy định luật sư công phải đảm bảo rất nhiều tiêu chí như: trình độ cử nhân luật trở lên, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ việc pháp lý phức tạp, đã được đào tạo luật sư công… Những phẩm chất này của luật sư công chắc chắn sẽ giúp hoạt động giám sát, phản biện trở nên hiệu quả hơn.
Một khía cạnh khác là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, nhất là người yếu thế. Ông Hậu cho rằng nên mở rộng vai trò của luật sư công trong việc tăng cường tiếp cận công lý cho các đối tượng chính sách, thay vì giới hạn ở bảo vệ quyền, lợi ích của cơ quan nhà nước. Nếu nhìn nhận ở góc độ này, việc thí điểm luật sư công với khối mặt trận là hoàn toàn phù hợp cả về chức năng và bối cảnh, khi Liên đoàn Luật sư Việt Nam cùng các tổ chức luật sư đã quy tụ về MTTQ Việt Nam.
Theo ông Lưu Anh Cường, Giám đốc Công ty luật Thái Dương FDI Hà Nội, Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật nhấn mạnh yêu cầu "phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, sự tham gia rộng rãi, thực chất của người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong xây dựng và thi hành pháp luật". Nội dung trên cho thấy khi bàn về nâng cao chất lượng thi hành pháp luật, Đảng không chỉ đặt trọng tâm ở cơ quan quản lý nhà nước, mà còn đặt trọng tâm ở các chủ thể giám sát và phản biện việc thực thi pháp luật.
Tại dự thảo của Bộ Tư pháp, danh sách thí điểm luật sư công gồm 18 đơn vị, tập trung phần lớn vào khối hành pháp. Điều này dẫn tới hệ quả là kết quả thí điểm dù có giá trị nhưng sẽ chủ yếu cho thấy cách luật sư công vận hành trong bộ, ngành và chính quyền địa phương, chưa chắc phản ánh đầy đủ tác dụng của chế định này trong các thiết chế có chức năng quan trọng khác, nhất là giám sát, phản biện xã hội.
Thực tế cho thấy các thiết chế thuộc khối mặt trận và tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương có tính chất hoạt động khác đáng kể so với bộ, ngành và chính quyền địa phương. Bộ, ngành và UBND chủ yếu thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong khi Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội vừa là chủ thể trong hệ thống chính trị, vừa có vai trò giám sát, phản biện xã hội, tiếp công dân, tham gia công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh kiến nghị của nhân dân và trong nhiều trường hợp là đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức mình hoặc của các nhóm xã hội mà mình đại diện.
So sánh về nhu cầu pháp lý, ở cơ quan hành chính thường gắn với quản lý, điều hành, xử lý tranh chấp, tham gia tố tụng hoặc giải quyết rủi ro pháp lý trong hoạt động công vụ. Còn ở khối mặt trận và tổ chức chính trị - xã hội thường gắn nhiều hơn với giám sát, phản biện và các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như đã nêu.
Như vậy, nếu chỉ thí điểm trong một loại môi trường, kết quả thu được chủ yếu phản ánh môi trường đó. Trong khi đó, để quyết định có nên luật hóa mô hình luật sư công hay không thì không nên dừng lại ở việc xem xét mô hình này có vận hành được hay không mà cần biết nó phù hợp với loại thiết chế nào, phát huy tác dụng mạnh nhất ở đâu và bộc lộ vướng mắc gì trong từng bối cảnh khác nhau.
Điều quan trọng nữa, ông Lưu Anh Cường cho rằng, dự thảo nghị quyết quy định phạm vi hoạt động của luật sư công gồm tham gia tố tụng với tư cách là luật sư hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; tư vấn pháp luật; đại diện trong giải quyết tranh chấp trong nước và quốc tế; tư vấn xử lý các vấn đề pháp lý của dự án kinh tế - xã hội; tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài…
Đối chiếu nội dung trên với thực tế hoạt động của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và cơ quan Trung ương của một số tổ chức chính trị - xã hội, có thể thấy nhiều điểm giao nhau khá rõ. Đơn cử giám sát và phản biện xã hội, hoạt động này đòi hỏi không chỉ trách nhiệm chính trị mà còn cần cả khả năng đọc hồ sơ, hiểu quy trình pháp luật, nhận diện rủi ro hoặc dấu hiệu bất cập, từ đó chuyển ý kiến giám sát thành lập luận pháp lý có sức nặng hơn. Luật sư công rõ ràng đáp ứng tốt yêu cầu.
Đặc biệt, dự thảo quy định luật sư công được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cho sao chép hoặc cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc mà họ đang giải quyết. Nếu thí điểm luật sư công với khối mặt trận, việc đọc, xác định tài liệu then chốt, nhận diện mâu thuẫn pháp lý, đối chiếu hồ sơ, làm rõ điểm cần kiến nghị hoặc phản biện có thể được thực hiện bài bản hơn, từ đó nâng cao chiều sâu pháp lý cho những quyền năng giám sát, phản biện vốn đã được Hiến pháp và luật trao.
Ngoài ra, không ít vụ việc kéo dài thường đi qua kênh mặt trận hoặc tổ chức chính trị - xã hội trước, hoặc ít nhất các tổ chức này cũng tham gia kiến nghị, giám sát và đối thoại. Nếu có lực lượng luật sư công, chất lượng tham gia sẽ được nâng lên theo hướng có căn cứ pháp lý rõ hơn, kiến nghị chính xác hơn, đồng thời nhận diện đúng trọng tâm tranh chấp sớm hơn.
Hay như việc khối mặt trận và tổ chức chính trị - xã hội cũng có tài sản công, trụ sở, hợp đồng, quan hệ lao động và có thể phát sinh tranh chấp hoặc vấn đề pháp lý. Một lực lượng pháp lý chuyên trách có thể tạo ra khác biệt về chiều sâu chuyên môn, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của chính tổ chức mình.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/nang-cao-chat-luong-giam-sat-phan-bien-18526040521391635.htm




