Phát biểu tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI sáng 6.4, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở đầu cho một nhiệm kỳ mới, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp.
Đây cũng là kỳ họp tập trung thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tạo nền tảng pháp lý, thể chế và động lực chính sách để đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới: phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc.
Chúc mừng kết quả bầu cử tốt đẹp và các vị đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp đã được cử tri cả nước tín nhiệm lựa chọn, Tổng Bí thư cũng ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Quốc hội, các vị đại biểu, ủy viên HĐND các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025, là nền tảng quan trọng để Quốc hội khóa XVI kế thừa, phát huy và phát triển lên tầm cao mới.
Nhấn mạnh thế giới đang biến đổi rất nhanh, rất sâu sắc trên cả chiều rộng và chiều sâu, Tổng Bí thư cũng nêu rõ các thách thức từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, dòng vốn toàn cầu… Trong bối cảnh ấy, quốc gia nào chủ động chiến lược, cải cách thể chế kịp thời, giải phóng được sức sáng tạo, huy động được nguồn lực toàn dân, nắm bắt được thời cơ mới, quốc gia đó sẽ vượt lên và phát triển.
Theo Tổng Bí thư, đất nước ta, với lịch sử hàng ngàn năm văn hiến, qua 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 40 năm đổi mới, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa thời đại.
“Nhưng chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào sự thật rằng: yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đang đặt ra những đòi hỏi cao hơn, nhanh hơn và quyết liệt hơn về thể chế, về mô hình tăng trưởng, về chất lượng quản trị quốc gia, về năng lực phản ứng chính sách, về kỷ luật thực thi và nâng cao mức sống của nhân dân”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Đại hội XIV của Đảng đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tiến trình đó, Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn để thực hiện đầy đủ, xứng đáng trọng trách hiến định của mình.
“Mỗi đại biểu Quốc hội phải luôn ý thức sâu sắc rằng mình không chỉ đại diện cho đơn vị bầu cử, không chỉ mang theo lá phiếu tín nhiệm của cử tri, mà còn gánh trên vai trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, đối với niềm tin của nhân dân, đối với tương lai của các thế hệ mai sau”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Quốc hội khóa XVI tập trung thực hiện tốt 4 nhiệm vụ lớn. Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, xây dựng bằng được một hệ thống pháp luật hiện đại, thống nhất, ổn định, khả thi và kiến tạo phát triển.
Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện đáng kể, nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu liên thông; có những quy định chưa rõ, chưa ổn định, chưa theo kịp thực tiễn, làm tăng chi phí tuân thủ, làm chậm cơ hội phát triển, làm khó cho người dân, doanh nghiệp và bộ máy thực thi.
Vì vậy, Quốc hội cần chỉ đạo rà soát tổng thể hệ thống pháp luật, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật quốc gia, kiên quyết khắc phục tình trạng “luật bó”, chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng.
Đặc biệt, phải đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai. Luật không chỉ “mở đường” mà còn phải “sửa đường”.
Mỗi đạo luật phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, từ lợi ích chính đáng của nhân dân; kiên quyết phòng, chống lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, mọi tác động tiêu cực làm méo mó chính sách. Phải chuyển mạnh từ tư duy “làm luật cho đủ” sang tư duy “làm luật để phát triển”; từ “pháp luật tốt trên giấy” sang “pháp luật tốt trong cuộc sống”. Hiệu quả thực thi và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp phải là thước đo cao nhất của chất lượng lập pháp.
Thứ hai, nâng tầm giám sát tối cao của Quốc hội theo hướng thực chất, sắc bén, đi đến cùng trách nhiệm và kết quả. Giám sát không chỉ để “kiểm tra việc đã làm”, mà còn phải giúp “định hình việc cần làm”, nhận diện sớm những bất cập có thể phát sinh và phải đi đến cùng câu hỏi cuối cùng: vấn đề đã được giải quyết hay chưa.
Tổng Bí thư đề nghị Quốc hội nhiệm kỳ này tập trung giám sát những vấn đề lớn, những lĩnh vực then chốt, những “điểm nghẽn của điểm nghẽn” trong phát triển; những vấn đề bức xúc mà cử tri và nhân dân quan tâm; đặc biệt là việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, việc tổ chức thi hành pháp luật, việc sử dụng nguồn lực quốc gia, quản lý tài sản công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Thứ ba, Quốc hội phải nâng cao bản lĩnh và tầm nhìn khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; quyết định phải đúng, trúng, kịp thời, vì lợi ích lâu dài của quốc gia.
“Giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt lịch sử của đất nước đòi hỏi Quốc hội không chỉ quyết định đúng, mà phải quyết định trúng và kịp thời; bởi chậm một quyết sách có thể làm lỡ một thời cơ chiến lược”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gần dân, sát thực tiễn và phản ứng chính sách nhanh hơn.
Trong một thế giới biến động không ngừng, Quốc hội không thể vận hành theo nhịp độ cũ, cách thức cũ. Quốc hội phải có năng lực thích ứng nhanh hơn, phản ứng chính sách kịp thời hơn, quyết định vấn đề nhanh hơn nhưng vẫn chặt chẽ, đúng đắn.
Tổng Bí thư lưu ý cần tiếp tục nghiên cứu tăng hợp lý số kỳ họp, đa dạng hóa và linh hoạt hóa các hình thức hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, nhất là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, hình thức trực tuyến và hệ sinh thái số để nâng cao tính kịp thời, chủ động và hiệu quả trong xem xét, quyết định chính sách.
Cạnh đó, phải tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng đại biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu chuyên trách. Mỗi đại biểu vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực phản biện, vừa có khả năng truyền tải trung thực tiếng nói của nhân dân đến nghị trường.
Quốc hội phải gắn bó mật thiết hơn với nhân dân; mở rộng các kênh tiếp nhận, lắng nghe ý kiến của cử tri, nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học; tăng cường công khai, minh bạch trong toàn bộ hoạt động của mình. Xây dựng Quốc hội số, hiện đại, thông minh, nhưng trước hết phải là một Quốc hội gần dân, hiểu dân, vì dân, hành động vì lợi ích của dân.
“Khi lòng dân được lắng nghe, khi ý dân được phản ánh trung thực, khi quyết sách xuất phát từ thực tiễn đời sống, thì Quốc hội sẽ mạnh hơn, Nhà nước sẽ vững hơn, niềm tin xã hội sẽ lớn hơn”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Phát biểu thảo luận, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh lần sửa đổi này không chỉ đơn thuần hoàn thiện một đạo luật cụ thể, mà là "bước đi có ý nghĩa chiến lược nhằm kiến tạo mô hình thể chế phát triển mới cho thủ đô, với vị trí đặc biệt trung tâm chính trị hành chính quốc gia, đồng thời là động lực phát triển của cả nước".
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Hà Nội đang đối diện với nhiều điểm nghẽn, từ quy hoạch, hạ tầng, quản trị đô thị, cho đến phân cấp phân quyền, huy động nguồn lực... Do đó, luật sửa đổi phải giải quyết căn bản những tồn tại này.
Chẳng hạn về quy hoạch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu tình trạng "một chỗ đất thì có mấy ông nói có dự án muốn xây nhà để bán, lại cấp đất, mà đường sá không ai lo. Tại sao thời xưa Pháp quy hoạch hay thế, phố cổ xây dựng không tắc đường, không ngập lụt, nhưng mình giờ xây dựng thế nào mà xây đến đâu tắc đường, ngập lụt đến đấy, vì không anh nào lo đường, không có hệ thống ngầm thoát nước, cứ xây nhà lên để bán".
Để khắc phục, cần quy hoạch rõ vùng lõi thế nào, đô thị vệ tinh ra sao, tiêu chuẩn về bệnh viện, nhà văn hóa, trường học, sân vận động, vườn hoa..., cùng với đó là hệ thống giao thông kết nối từ các thành phố vệ tinh về khu vực trung tâm.
"Quy hoạch phát triển làm sao phải có tầm nhìn, để toàn dân được biết rõ, hiện tại đường ngoằn ngoèo như thế, 10 năm sau thế nào", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, đồng thời yêu cầu phải đảm bảo tính bền vững, "không phải quy hoạch nhiệm kỳ 5 năm, ông này làm quy hoạch ông kia lên chủ tịch lại đảo lại".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh đến tư duy xây dựng luật, cần chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển. Luật không chỉ quy định cấm hay hạn chế mà phải tạo không gian thể chế để thủ đô chủ động thiết kế, thử nghiệm và triển khai các chính sách đặc thù.
Luật chỉ nên quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, ổn định, còn những gì mang tính biến động nhanh thì giao cho Chính phủ, thậm chí chính quyền thành phố quy định, để bảo đảm thích ứng với thực tiễn.
Vẫn theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, thủ đô không thể phát triển nếu tách rời vùng và ngược lại. Do đó, luật cần xây dựng cơ chế phối hợp thực chất giữa Hà Nội và các tỉnh về tài chính, giao thông…
Song song với việc trao quyền mạnh hơn, phân cấp, phân quyền triệt để hơn thì cũng cần giải trình rõ ràng hơn, kiểm soát quyền lực chặt chẽ hơn. "Thủ đô được trao quyền cao hơn thì phải chịu trách nhiệm cao hơn; được cơ chế đặc thù thì phải tạo ra kết quả vượt trội; được thí điểm trước thì phải đi đầu về kỷ cương và hiệu quả", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, và yêu cầu Hà Nội phải trở thành hình mẫu về quản trị hiện đại, có giá trị lan tỏa cho cả nước.
Cùng cho ý kiến tại tổ, Chủ tịch Quốc hội (QH) Trần Thanh Mẫn khẳng định việc xây dựng luật Thủ đô sửa đổi sẽ giúp Hà Nội bứt phá về kinh tế, giải quyết dứt điểm tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, thiếu nhà ở xã hội…, từ đó vươn tầm khu vực và quốc tế.
Theo Chủ tịch QH, năm 2025, QH đã ban hành tới 89 đạo luật, trong đó có những quy định tại các luật mới vượt trội hơn so với luật Thủ đô hiện hành, khiến luật Thủ đô trở nên lạc hậu. Bối cảnh trên cho thấy việc sửa đổi luật là rất cần thiết, cũng là tiền đề để tới đây xây dựng luật Đô thị đặc biệt cho TP.HCM.
Chủ tịch QH nhấn mạnh sửa đổi luật Thủ đô lần này cần phân cấp, phân quyền toàn diện, tối đa cho chính quyền TP.Hà Nội, theo nguyên tắc "Hà Nội quyết, Hà Nội làm, Hà Nội chịu trách nhiệm". Trong đó, một số nội dung trọng tâm như: mở rộng nguyên tắc áp dụng pháp luật, bổ sung quy định miễn trách nhiệm pháp lý, thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, tăng thẩm quyền về tổ chức bộ máy cho HĐND thành phố, tăng mức xử phạt vi phạm hành chính…
Nhắc lại buổi làm việc với Hà Nội mới đây, khi Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu thủ đô phải có tầm nhìn quy hoạch 100 năm và xa hơn nữa, Chủ tịch QH khẳng định bất cứ đất nước nào muốn phát triển thì phải có quy hoạch và quy hoạch đó phải được công bố công khai cho toàn dân biết. Chủ tịch QH dẫn ví dụ các thành phố lớn trên thế giới, khách đến có thể thấy ngay sa bàn quy hoạch, thể hiện rõ các khu công nghiệp, thương mại, văn hóa; còn quy hoạch của chúng ta thời gian qua chưa thực sự bài bản.
Một vấn đề khác được Chủ tịch QH lưu ý là tăng trách nhiệm giải trình công khai trên tinh thần phân quyền triệt để, "bộ, ngành không thể ôm" mà phải giao quyền cho Hà Nội. Đồng thời, cần cơ chế bảo vệ cán bộ, khuyến khích sáng tạo và bộ công cụ quản lý đô thị mạnh mẽ.
Góp ý thêm, đại biểu Trần Hoàng Ngân (đoàn TP.HCM) cho rằng hiện đã có nhiều thể chế luật pháp dành cho Hà Nội, song qua thực tiễn triển khai thì thấy thủ đô vẫn còn nhiều điểm nghẽn. "Chúng ta có thể hình dung hiện nay bầu trời tại Hà Nội, khi chúng ta đến đây họp, ô nhiễm rất lớn. Nếu tra cứu Google danh sách 10 thành phố ô nhiễm không khí nhất thì Hà Nội luôn nằm trong top đầu", ông Ngân nói.
Đại biểu Trần Hoàng Ngân kiến nghị cần có cơ chế thật quyết liệt, bằng việc phân cấp, phân quyền trọn vẹn, để Hà Nội đủ thẩm quyền giải quyết các điểm nghẽn về ô nhiễm môi trường, giao thông, ngập nước, an toàn đô thị, PCCC và các ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu.
Đại biểu Nguyễn Phương Thủy (đoàn Hà Nội) cũng cho rằng luật cần tạo khuôn khổ để thủ đô có thể linh hoạt, chủ động hơn, bởi "nếu mỗi chính sách lại phải báo cáo QH thì sẽ mất thời gian và để lỡ cơ hội".
Tuy nhiên, bên cạnh việc trao quyền, bà lưu ý phải nâng cao chất lượng giải trình và kiểm soát quyền lực để việc phân quyền đúng đắn và có hiệu quả. Cần cơ chế rõ ràng để các cơ quan được giao quyền yên tâm thực hiện, đồng thời cơ quan giám sát có cơ chế như "phanh hãm" để việc thử nghiệm chính sách và thể chế không bị lạm dụng hay chệch hướng.
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV vừa qua đã thông qua Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng (Quy định). Đây là sự cụ thể hóa "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng, gồm: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quy định đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành những quy tắc mang tính bắt buộc nhằm nâng cao nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, khả năng ứng phó các biến động của tình hình mới.
Trao đổi với Thanh Niên, trung tướng, GS Trần Vi Dân, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nhìn nhận nếu công tác cán bộ là "then chốt của then chốt", thì công tác chính trị, tư tưởng là mở đường, đi trước vì nó giải quyết vấn đề nhận thức của đảng viên: "Tư tưởng thông suốt hành động mới đúng".
Thưa ông, tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh việc thực hiện nghiêm túc, nhất quán "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng và xem Quy định về công tác chính trị, tư tưởng là sự cụ thể hóa những nguyên tắc này. Ông đánh giá thế nào về tính cấp thiết của quy định này trong giai đoạn hiện nay?
GS Trần Vi Dân: Công tác chính trị, tư tưởng không phải là mới mà đã có từ những lớp học tại Quảng Châu do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở ra để truyền bá tư tưởng cách mạng trước khi Đảng ra đời. Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, công tác này luôn được coi là đi trước mở đường, đi cùng dẫn dắt và động viên khích lệ, đi sau để tổng kết.
Tuy nhiên, tại sao bây giờ lại cần một quy định riêng biệt và mang tính hệ thống như vậy? Có 2 lý do chính. Thứ nhất, trước đây các nội dung này nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau như Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận. Đây là lần đầu tiên Đảng có một quy định riêng, tích hợp và hệ thống lại một cách rõ ràng, thống nhất, tập trung để làm công cụ xây dựng Đảng vững mạnh.
Thứ hai, chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những điều kiện mới, nơi mà "thuyền to thì sóng lớn". Các nguy cơ từ năm 1994 như tụt hậu kinh tế, "diễn biến hòa bình", chệch hướng xã hội chủ nghĩa và tham nhũng vẫn hiện hữu, thậm chí diễn biến phức tạp hơn. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nếu cán bộ không vững vàng về chính trị, tư tưởng thì rất dễ dẫn đến mất cảnh giác, dao động, thậm chí là "tự diễn biến".
Xin ông phân tích sâu hơn về nội dung kiên định đầu tiên: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh?
Đây là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chúng ta kiên định không phải là giáo điều, máy móc mà là vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu thời đại. Thực tế đã chứng minh sở dĩ chúng ta thắng được các đế quốc lớn là nhờ sức mạnh của ý chí và tư tưởng. Khi sức mạnh "cứng" (vũ khí, trang thiết bị) của ta còn hạn chế, thì chính chính trị, tư tưởng đã biến những con người bình thường thành anh hùng.
Ngày nay, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên vẹn. Ngay cả các học giả tư sản phương Tây cũng có những công trình chứng minh tính đúng đắn trong các luận điểm của Mác. Việc kiên định nền tảng này giúp chúng ta không bị lạc lối trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, một chế độ hướng tới việc giải quyết triệt để các bất công và đem lại hạnh phúc thực sự cho con người, điều mà các chế độ khác chưa làm được.
Nội dung kiên định thứ hai được Tổng Bí thư nhắc tới là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Thưa ông, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, mục tiêu này cần được hiểu và bảo vệ như thế nào?
Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là mục tiêu và lý tưởng của Đảng ta ngay từ khi mới thai nghén. Độc lập dân tộc là điều kiện cần, còn Chủ nghĩa xã hội là điều kiện đủ để đất nước phát triển bền vững. Cần lưu ý rằng độc lập dân tộc bao gồm độc lập cả về chủ quyền lẫn đường lối. Nếu chúng ta lơi lỏng, không kiên định, chúng ta có thể mất quyền tự chủ bất cứ lúc nào, không chỉ về chủ quyền lãnh thổ mà còn về đường lối chính trị.
Việc kiên định mục tiêu này giúp chúng ta thoát khỏi sự khủng hoảng về đường lối mà các phong trào yêu nước trước đây từng gặp phải. Trong thời đại mới, việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội chính là tạo ra nguồn lực và sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền độc lập đó một cách tốt hơn. Hai ngọn cờ này phải luôn song hành, không thể buông lơi bất cứ phía nào.
Một điểm rất mới và quan trọng là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Ông có thể lý giải vì sao nội dung này lại được đặt ngang hàng với các nền tảng tư tưởng cốt lõi?
Điều này cho thấy sự trưởng thành vượt bậc về lý luận của Đảng. Sau gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối này, đủ để xác định đó là một cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng bên cạnh chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới là quá trình có tính quy luật để giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực.
Kiên định đổi mới có nghĩa là đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc chứ không phải là sự thay đổi vô nguyên tắc. Nhờ kiên định đường lối này, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã thay đổi căn bản. Từ chỗ mong muốn thêm bạn bớt thù, phá thế bao vây cấm vận, đến nay chúng ta đã sẵn sàng là đối tác tin cậy và tham gia định hình các cơ chế quốc tế. Sự ghi nhận của thế giới đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay cả từ những quốc gia có thể chế chính trị khác biệt, chính là minh chứng rõ nhất cho sự đúng đắn của đường lối này.
Nội dung kiên định cuối cùng là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì sao đây lại là chìa khóa để bảo vệ Đảng từ bên trong, thưa ông?
Các nguyên tắc như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình là điều kiện bắt buộc để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế cho thấy, hầu hết các sai phạm của cán bộ dẫn đến xử lý kỷ luật thời gian qua đều bắt nguồn từ việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức này. Kiên định các nguyên tắc này giúp giữ vững kỷ luật, kỷ cương và bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Bên cạnh đó, quy định mới cũng hướng tới việc để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên. Dân là gốc, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân giám sát. Khi các nguyên tắc được công khai, nhân dân sẽ là thước đo chuẩn xác nhất để đánh giá sự gương mẫu của người đảng viên. Quy định này thực chất là để cấp ủy, đảng viên tốt hơn, gương mẫu hơn để phục vụ nhân dân tốt hơn.
Chiều ngày 8.4, tại trụ sở Thành ủy Hà Nội, Ban Chấp hành Đảng bộ TP.Hà Nội tổ chức Hội nghị công bố quyết định của Bộ Chính trị về công tác cán bộ.
Tại hội nghị, lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương đã công bố các quyết định của Bộ Chính trị về công tác cán bộ.
Theo đó, Bộ Chính trị quyết định Bộ trưởng Bộ NN-MT Trần Đức Thắng thôi giam gia Ban chấp hành Đảng bộ Chính phủ; phân công chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, và giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Trước đó, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc được Bộ Chính trị điều động, phân công giữ chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương.
Ông Trần Đức Thắng (sinh năm 1973; quê quán: Phú Thọ); trình độ tiến sĩ kinh tế. Ông Thắng là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII (từ ngày 30.1.2021), khóa XIV (từ ngày 22.1.2026); Bộ trưởng Bộ NN-MT (từ ngày 25.10.2025); Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIV (từ ngày 23.1.2026).
Về quá trình công tác, từ tháng 10.2009 - 10.2018, ông Thắng lần lượt giữ chức Phó cục trưởng Cục Quản lý công sản; Phó chánh Văn phòng Bộ Tài chính; Cục trưởng Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính.
Từ tháng 10.2018 - 1.2021, ông làm Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương rồi giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XII. Ngày 30.1.2021, ông Thắng được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII.
Đến tháng 10.2022, Bộ Chính trị điều động, chỉ định ông Trần Đức Thắng làm Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương.
Ngày 1.7.2025, Thủ tướng điều động, bổ nhiệm ông Trần Đức Thắng giữ chức Phó tổng Thanh tra thường trực Thanh tra Chính phủ. Sau đó, ông được chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy Bộ NN-MT, quyền Bộ trưởng Bộ NN-MT.
Ngày 14.8.2025, tại Đại hội Đảng bộ Bộ NN-MT lần thứ nhất, ông Thắng được chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy Bộ NN-MT, rồi đến ngày 25.10.2025, ông được Quốc hội khóa XV thông qua Nghị quyết bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ NN-MT.
Ngày 22.1.2026, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ông Thắng được được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV. Đến ngày 23.1.2026, tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ông Thắng được bầu vào Bộ Chính trị.
Tháng 3.2026, ông Thắng trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 - 2031.