Có một thực tế đáng suy nghĩ, theo nhiều thống kê và quan sát xã hội, rất ít học sinh THPT tham gia việc nhà thường xuyên.
Chúng tôi thử khảo sát sơ bộ trong gần 150 học sinh THPT (3 lớp học), thì thấy tỷ lệ học sinh không bao giờ biết tự ủi đồ đi học là rất lớn, khoảng từ 30 – 40%. Tỷ lệ tương tự với các việc như gặt đồ, quét nhà, rửa chén bát… Điều đó đặt ra một câu hỏi gia đình đang ở đâu trong việc giáo dục kỹ năng sống ở nhà cho con em?
Không ít phụ huynh quan niệm rằng nhiệm vụ chính của con là học, còn mọi việc khác đã có cha mẹ lo. Từ việc nhỏ như dọn dẹp phòng, rửa chén, đến những việc cần kỹ năng hơn như nấu ăn, quản lý chi tiêu… tất cả đều được người lớn “bao trọn”. Sự hy sinh ấy xuất phát từ tình thương, nhưng lại tiềm ẩn một hệ quả lâu dài là con trẻ mất đi cơ hội học cách tự lập.
Trong khi đó theo các chuyên gia tâm lý giáo dục, lứa tuổi THPT là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng trước khi bước vào đời. Việc thiếu kỹ năng sống không chỉ khiến các em gặp khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến khả năng thích nghi khi học xa nhà, đi làm hoặc xây dựng cuộc sống riêng sau này. Đáng nói hơn, nhiều em hình thành tâm lý ỷ lại, thụ động. Khi mọi thứ đã có người khác làm thay, các em không còn nhu cầu học hỏi hay chịu trách nhiệm cho chính cuộc sống của mình.
Nhiều phụ huynh nghĩ rằng làm việc nhà sẽ ảnh hưởng đến việc học. Tuy nhiên, theo quan điểm người viết bài thì ngược lại. Học sinh biết chia sẻ việc nhà thường có ý thức trách nhiệm cao hơn, kỹ năng quản lý thời gian tốt hơn và tinh thần tự lập rõ rệt hơn.
Giúp việc nhà, nếu được phân bổ hợp lý, không hề lấy đi thời gian học tập mà còn giúp học sinh hiểu giá trị của lao động, rèn luyện tính kỷ luật và kiên trì, hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề trong đời sống thực tế. Một học sinh biết tự nấu ăn, tự giặt giũ, tự sắp xếp không gian sống… cũng chính là một người đang học cách làm chủ bản thân. Đó là những bài học không có trong sách giáo khoa, nhưng lại theo các em suốt đời.
Nhà trường dạy kiến thức, xã hội có thể tạo môi trường, nhưng chính gia đình mới là nơi đặt nền móng cho thói quen và kỹ năng sống. Trẻ em không tự nhiên biết làm việc nhà, mà các em học bằng cách quan sát và được hướng dẫn. Nếu cha mẹ luôn làm thay, hoặc không giao việc cụ thể, trẻ sẽ không hình thành được ý thức trách nhiệm. Ngược lại, những gia đình biết cách giáo dục con thông qua việc nhà sẽ giao việc phù hợp với độ tuổi (rửa chén, quét nhà, nấu ăn đơn giản…); không làm thay khi con có thể tự làm; kiên nhẫn hướng dẫn thay vì trách mắng khi con làm chưa tốt; xem việc nhà là trách nhiệm chung, không phải “giúp đỡ” cha mẹ. Và chính trong không gian gia đình, những kỹ năng tưởng chừng nhỏ bé ấy dần tích lũy thành năng lực sống bền vững.
Đừng đợi đến khi con rời nhà mới dạy con tự lập. Nếu gia đình không chuẩn bị từ sớm, con trẻ sẽ phải học những bài học cơ bản nhất trong hoàn cảnh bị động và áp lực hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu ngay từ khi còn ở nhà, các em đã được rèn luyện từng chút một, thì khi bước ra đời, các em sẽ tự tin, chủ động và thích nghi nhanh hơn.
Thực ra không thiếu những bài học từ sách vở, nhà trường (cả sách chương trình cũ và mới) đã dạy học sinh những kỹ năng sống. Từ thời nhỏ các em đã biết đến các bài thơ giản dị như về việc đánh răng; việc “Quạt cho bà ngủ” (tên bài thơ của Thạch Quý) là hành động nhỏ nhưng đầy tình cảm, dạy trẻ biết chăm sóc người thân, biết quan tâm.
Sách giáo khoa cũng dạy bé biết phụ giúp việc nhỏ trong nhà trong bài Tí Xíu (Ngô Văn Phú); giúp trẻ quan sát lao động để hiểu giá trị lao động chân chính trong bài tập đọc Bố làm thợ mộc (Ngô Quân Miện); hoặc văn bản tập đọc Đẹp mà không đẹp dạy trẻ biết giữ gìn không gian công cộng sạch đẹp…
Những bài học nói trên không chỉ dạy chữ mà còn dạy cách sống bằng những hình ảnh giản dị, gần gũi.
Chỉ tiếc rằng giữa sách vở, lý thuyết nhà trường và ứng dụng thực tế còn khoảng cách khá xa. Để lấp đầy khoảng cách này cần sự sẵn sàng hợp sức của cha mẹ học sinh.
Chiều 10.4, Bộ GD-ĐT đã có thông cáo báo chí trả lời về kết quả kiểm tra, xác minh với dự án đạt giải nhất cuộc thi khoa học kỹ thuật của học sinh Ninh Bình. Trong đó Bộ GD-ĐT kết luận là dự án không vi phạm liêm chính khoa học, cụ thể là không có dấu hiệu sao chép hay đạo văn.
Theo Bộ GD-ĐT, trước những nghi vấn của dư luận về tính liêm chính khoa học của dự án đoạt giải nhất cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia năm học 2025 - 2026 mà tác giả là 2 học sinh Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy, Ninh Bình, Bộ GD-ĐT đã chính thức lập tổ tư vấn đánh giá dự án này.
Tổ tư vấn gồm 5 chuyên gia có trình độ tiến sĩ trở lên đến từ các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu có uy tín đã nghiên cứu dự án đoạt giải của 2 học sinh Ninh Bình (dự án "Phát triển vật liệu Polyurethane Composite đa chức năng chống cháy, cách nhiệt, kháng vi sinh hướng tới ứng dụng trong xây dựng và đời sống").
Sau quá trình nghiên cứu hồ sơ và thẩm định, tổ tư vấn đã thống nhất khẳng định học sinh hoàn toàn có thể thực hiện được dự án này dưới sự hướng dẫn của giáo viên và nhà khoa học.
Cụ thể, việc phân tích kết quả từ các phép đo (như DTA, XRD, FT-IR) hoàn toàn nằm trong khả năng của học sinh vì đây là những kiến thức có trong chương trình phổ thông. Bên cạnh đó, các trang thiết bị phục vụ thí nghiệm đều có sẵn tại các trung tâm nghiên cứu ở Việt Nam nên việc thu thập dữ liệu trong nước là hoàn toàn đáp ứng được.
Về nghi vấn "sao chép", tổ tư vấn cho biết dựa trên số liệu kiểm tra đạo văn (phần mềm Turnitin) và các công bố trước đó, không ghi nhận việc trùng lặp do đạo văn. Đề tài không có dấu hiệu sao chép mà thể hiện rõ sự kế thừa có chọn lọc, kết hợp với quá trình thực nghiệm độc lập và phân tích khoa học.
Đề tài có sử dụng các phương pháp và hướng tiếp cận phổ biến trong lĩnh vực vật liệu polymer. Tuy nhiên, đây là các phương pháp chuẩn, được chấp nhận rộng rãi trong nghiên cứu khoa học. Nhóm nghiên cứu đã chủ động thiết kế thí nghiệm, lựa chọn vật liệu, điều chỉnh quy trình và xây dựng hệ số liệu riêng, thể hiện tính độc lập trong triển khai. Do đó, không có cơ sở kết luận là sao chép hay đạo văn.
Đồng thời, các chuyên gia đánh giá đây là nghiên cứu có tính mới tương đối, có tính sáng tạo và mang lại giá trị ứng dụng cao, phù hợp với năng lực ở bậc phổ thông.
Cũng trong thông cáo này, Bộ GD-ĐT nhấn mạnh quy trình chấm thi năm nay được thực hiện nghiêm ngặt qua 2 phần: đánh giá báo cáo tóm tắt và phỏng vấn trực tiếp. Đặc biệt, để bảo vệ sự liêm chính trong học thuật, Hội đồng thẩm định đã tiến hành quét độ trùng lặp toàn bộ hồ sơ trước khi gửi đi chấm. Ban tổ chức cũng trang bị sẵn phần mềm tại khu vực thi để giám khảo có thể tra cứu, kiểm tra sự trùng lặp nội dung của bất kỳ dự án nào ngay trong quá trình chấm.
Như Báo Thanh Niên đã đưa tin, sau khi Bộ GD-ĐT công bố kết quả cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia năm học 2025 - 2026, trên nhóm Liêm chính khoa học xuất hiện hàng loạt bài đăng nêu nghi vấn nhiều dự án đạt giải cao, trong đó có dự án đạt giải nhất của 2 học sinh Ninh Bình.
Theo các thành viên nhóm Liêm chính khoa học, nội dung poster của dự án cho thấy các học sinh Ninh Bình đã phải thực hiện hàng chục kỹ thuật phân tích và đánh giá phức tạp, vượt xa năng lực và kiến thức của học sinh phổ thông.
Đặc biệt, dựa trên những thông tin công khai rất hạn chế (liên quan tới cuộc thi khoa học kỹ thuật), các thành viên nhóm Liêm chính khoa học đã đưa ra những bằng chứng được cho là "không thể chối cãi về sự liên quan của nhóm Hoàng Mai Hà với dự án của 2 học sinh Ninh Bình" (PGS Hoàng Mai Hà, Phó viện trưởng Viện Hóa học, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam - PV).
Viện Hóa học cũng đã có ý kiến phản hồi, khẳng định cán bộ của viện (PGS Hoàng Mai Hà) không có bất kỳ mối liên hệ hay tham gia hướng dẫn nào đối với dự án của học sinh Ninh Bình. Viện Hóa học cũng khẳng định cũng đã chủ động rà soát danh sách học sinh, sinh viên đăng ký thực tập, nghiên cứu tại đơn vị trong giai đoạn 2024 - 2025. Kết quả không ghi nhận trường hợp nào liên quan đến 2 học sinh Ninh Bình có dự án đạt giải nhất cấp quốc gia nêu trên.
Như vậy, giữa nội dung thông cáo báo chí mà Bộ GD-ĐT phát hành chiều nay và trả lời của Viện Hóa học có một khoảng trống cần được làm rõ: các học sinh sử dụng các thiết bị của đơn vị nghiên cứu nào và thực hiện các thí nghiệm ở đâu?
Mặt khác, dư luận giới khoa học cũng cho rằng cho đến nay Bộ GD-ĐT vẫn không công khai nội dung các dự án đạt giải là vi phạm chính quy chế cuộc thi của Bộ GD-ĐT.
Từ luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), một nghiên cứu về kỹ thuật mới giúp AI trả lời câu hỏi trắc nghiệm ổn định hơn được đăng trên tạp chí quốc tế Q1.
Khởi nguồn từ một luận văn tốt nghiệp đại học, công trình nghiên cứu của thầy trò khoa khoa học và kỹ thuật máy tính của trường này đã được công bố trên tạp chí quốc tế hàng đầu về trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục sau khi trải qua nhiều vòng phản biện.
Bài báo Enhancing Large Language Model Performance for Automatic Zero-Shot Multiple-Choice Question Answering via Single-Token Logit Prompting của nhóm tác giả từ Việt Nam đã được công bố trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence.
Đây là tạp chí mở thuộc Nhà xuất bản Elsevier, hiện xếp hạng Q1, đứng đầu lĩnh vực giáo dục (Education), hạng 4 trong lĩnh vực khoa học máy tính ứng dụng (Computer Science Applications) và hạng 5 lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI- Artificial Intelligence), theo SCImago.
Nhóm tác giả gồm Đặng Phú Quốc - cựu sinh viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), Trần Trương Tuấn Phát - giảng viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), TS Vũ Đức Lý (giảng viên Trường ĐH Quốc tế Miền Đông), Nguyễn Song Thiên Long và Võ Thị Như Quỳnh cùng là sinh viên năm thứ ba Trường ĐH Bách khoa, được PGS.TS Quản Thành Thơ - Trưởng khoa khoa học và kỹ thuật máy tính Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) hướng dẫn.
Công trình tập trung vào đề xuất kỹ thuật viết lời nhắc (prompting) mới mang tên Single-Token Logit (STL) nhằm nâng cao độ chính xác và tính ổn định của các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) khi tự động trả lời câu hỏi trắc nghiệm (MCQ). Tác giả Đặng Phú Quốc cho biết nghiên cứu xuất phát từ luận văn tốt nghiệp đại học của anh.
"Ban đầu mình chỉ đặt mục tiêu giải quyết tốt một bài toán chuyên môn về mô hình ngôn ngữ lớn, chứ không kỳ vọng sẽ được công bố trên tạp chí thứ hạng cao. Sau khoảng 28 tháng kể từ khi bắt tay nghiên cứu, đến tháng 3-2026 công trình đã được đăng trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence", anh Quốc chia sẻ.
Thông tin thêm, anh Trần Trương Tuấn Phát cho hay nhóm đã trải qua nhiều vòng phản biện kín hai chiều. Mỗi vòng đều yêu cầu những cải tiến đáng kể như bổ sung thí nghiệm, làm rõ cách diễn giải, củng cố định hướng nghiên cứu và tái cấu trúc bản thảo.
Việc lựa chọn nơi nộp bài được nhóm thực hiện theo gợi ý của Nhà xuất bản Elsevier. Chỉ sau khi được chấp nhận, nhóm mới có thông tin đây là tạp chí đứng đầu thế giới trong lĩnh vực giáo dục (Education). "Đó là kết quả đặc biệt mà chính nhóm tác giả cũng không ngờ tới", PGS.TS Quản Thành Thơ nói thêm.
Từ thực tế nghiên cứu, nhóm nhận thấy hiện tượng gọi là giới hạn Multiple-Choice Symbol Binding (MCSB) làm giảm đáng kể độ tin cậy của LLM, nhất là khi ứng dụng vào chấm bài hay xây dựng ngân hàng câu hỏi của lĩnh vực giáo dục. Vì thế, nhóm đề xuất kỹ thuật Single-Token Logit (STL).
Thay vì đưa toàn bộ đáp án và yêu cầu mô hình chọn A - B - C - D như thông thường, STL tách từng đáp án riêng biệt và yêu cầu mô hình đánh giá theo dạng đúng - sai cho từng lựa chọn.
Hệ thống lần lượt hỏi "Đáp án này có đúng không?" và sử dụng xác suất của token "yes" để đánh giá mức độ phù hợp. "Cơ chế này giúp mô hình xác minh từng lựa chọn một cách độc lập, không bị chi phối bởi vị trí hay nhãn đáp án, khắc phục trực tiếp hạn chế của giới hạn MCSB", anh Phát nói về ưu điểm của nghiên cứu.
Nghiên cứu còn tích hợp kỹ thuật Retrieval-Augmented Generation (RAG) cho phép mô hình truy xuất kiến thức bên ngoài khi cần, giúp tăng độ chính xác theo ngữ cảnh cũng như kiểm tra độ ổn định của giải pháp trong các điều kiện khác nhau.
Khi thử nghiệm trên ba bộ dữ liệu khoa học chuẩn gồm ARC, OpenBookQA và SciQ, STL cho kết quả ngang bằng hoặc vượt trội so với nhiều phương pháp phổ biến với mức cải thiện lên tới 11 điểm phần trăm trong một số cấu hình, đồng thời giảm đáng kể chi phí tính toán.
Về tiềm năng ứng dụng, kỹ thuật STL có thể hỗ trợ giáo viên rà soát đề thi, tự động gợi ý đáp án cho câu hỏi chưa có lời giải, hỗ trợ chấm bài và phát triển các hệ thống học tập thông minh có khả năng giải thích kết quả đánh giá.
Theo PGS.TS Quản Thành Thơ, công bố không chỉ đóng góp xuất sắc về mặt giá trị học thuật đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực LLM mà còn cho thấy việc nâng cao độ tin cậy của AI không nhất thiết phải đến từ mô hình lớn hơn hay kiến trúc phức tạp. "Đôi khi chỉ một thay đổi nhỏ trong cách thiết kế lời nhắc (prompt) cũng có thể tạo ra khác biệt lớn trong ứng dụng thực tế", ông Thơ nhận định.
Cụ thể, 17 địa phương tổ chức thi lớp 10 công lập vào cuối tháng 5, trong khoảng từ 25 đến 31/5 hoặc 1/6. Nhóm tổ chức thi tháng 6 gồm 9 tỉnh, thành, đều vào đầu hoặc cuối tháng để tránh lịch thi tốt nghiệp THPT (11-12/6). Còn lại cho biết sẽ hoàn tất tuyển sinh trước 31/7.
Với môn thứ ba, duy nhất Tuyên Quang chọn môn Khoa học Tự nhiên. Ông Vũ Đình Hưng, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, nhìn nhận với kiến thức tích hợp giữa Vật lý, Hóa học và Sinh học, môn Khoa học tự nhiên giúp đánh giá toàn diện tư duy khoa học, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh. Qua đó, kỳ thi lớp 10 không chỉ phục vụ tuyển sinh, mà còn góp phần định hướng lựa chọn môn học, định hướng nghề nghiệp cho các em.
33 địa phương còn lại chọn Ngoại ngữ, cho biết nó phù hợp với định hướng đưa Tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, góp phẩn đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế.
Lịch thi và môn thứ ba thi lớp 10 của 34 tỉnh, thành như sau:
TT
Tỉnh, thành
Lịch thi
Môn thứ ba
1
An Giang
Cuối tháng 5
Tiếng Anh
2
Bắc Ninh
26-28/5
3
Cao Bằng
Trước 31/7
4
Đồng Nai
28-29/5
5
Đồng Tháp
Trước 31/7
6
Điện Biên
-
7
Gia Lai
27-28/6
8
Hà Tĩnh
6-7/6
9
Hưng Yên
25-26/5
10
Lai Châu
25-26/5
11
Khánh Hòa
28-29/5
12
Lạng Sơn
26-28/5
13
Phú Thọ
1-3/6
14
Quảng Trị
26-27/5
15
Quảng Ngãi
30/5-1/6
16
Sơn La
Tháng 6
17
Tây Ninh
2-3/6
18
Thái Nguyên
26-28/5
19
Thanh Hóa
Tháng 7
20
Cần Thơ
Trước 31/7
Ngoại ngữ
21
Đà Nẵng
23-25/5
22
Đăk Lăk
Trước 15/7 (chủ yếu xét tuyển)
23
Hà Nội
30/5-1/6
24
Hải Phòng
2-4/6
25
Lào Cai
27-29/5
26
Nghệ An
25-26/5
27
Ninh Bình
23-25/5
28
Quảng Ninh
3-5/7
29
TP HCM
1-2/6
30
TP Huế
27-29/5
31
Tuyên Quang
27-28/5
Khoa học tự nhiên
32
Cà Mau
26-28/6
THPT chuyên: Văn, Toán, Tiếng Anh + môn chuyên
Còn lại: Xét tuyển
33
Lâm Đồng
1-3/7
34
Vĩnh Long
2-3/7
Theo quy chế tuyển sinh lớp 10 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm 2025, các địa phương có thể chọn thi tuyển, xét tuyển vào lớp 10 hoặc kết hợp. Nếu thi tuyển, kỳ thi gồm Toán, Văn và môn thứ 3 (hoặc bài thi tổ hợp).
Môn này do địa phương chọn từ nhóm: Ngoại ngữ, Giáo dục công dân, Khoa học Tự nhiên, Lịch sử và Địa lý, Công nghệ, Tin học, nhưng không được lấy một môn quá ba năm liên tiếp, công bố trước 31/3.