Ngày 10.4, tại UTH, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) tổ chức tọa đàm lấy ý kiến góp ý dự thảo Chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học về đường sắt, nhằm cụ thể hóa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các dự án trọng điểm quốc gia về phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, trong đó có đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. Tiếp theo hoạt động khảo sát để hoàn thiện Đề án “Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045” ngày 3.10.2025 tại UTH, sự kiện là bước triển khai quan trọng để thực hiện Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2230/QĐ-TTg. Đồng thời, Tọa đàm ghi nhận vai trò tiên phong của UTH trong việc sẵn sàng và chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dự án đường sắt quy mô lớn của quốc gia.
Tọa đàm do TS Đặng Văn Huấn – Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT) – chủ trì, với sự tham dự của PGS-TS Nguyễn Xuân Phương – Hiệu trưởng UTH; đại diện lãnh đạo, chuyên gia đến từ 15 cơ sở giáo dục đại học và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đường sắt, giao thông vận tải. Việc UTH được lựa chọn đăng cai tổ chức Tọa đàm một lần nữa khẳng định uy tín, năng lực của nhà trường trong đào tạo, nghiên cứu các lĩnh vực giao thông vận tải, đặc biệt là đường sắt hiện đại, đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao – những lĩnh vực then chốt trong hiện thực hóa khát vọng phát triển hạ tầng chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Phát biểu khai mạc, TS Đặng Văn Huấn nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải xây dựng Chuẩn chương trình đào tạo đồng bộ, hiện đại, có khả năng đáp ứng nhu cầu triển khai các dự án đường sắt quy mô lớn, nhất là đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam và hệ thống đường sắt đô thị tại các trung tâm kinh tế – xã hội lớn. Theo ông, việc chuẩn hóa chương trình đào tạo không chỉ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực đường sắt, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thực hiện hiệu quả các định hướng chiến lược được nêu trong các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về phát triển hạ tầng.
Theo báo cáo tại tọa đàm, dự thảo chuẩn chương trình đào tạo ngành đường sắt được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bám sát thực tiễn trong nước và định hướng liên ngành, tích hợp các lĩnh vực xây dựng, cơ khí, điện – điện tử, công nghệ thông tin và khai thác vận tải. Nội dung đào tạo chú trọng cân đối giữa lý thuyết và thực hành, tăng cường thí nghiệm, thực tập, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp – mô hình mà UTH đã triển khai hiệu quả trong nhiều năm qua, qua đó tạo tiền đề để nhanh chóng hình thành đội ngũ kỹ sư có thể tham gia ngay vào các dự án đường sắt tốc độ cao khi được triển khai. Tại phiên thảo luận, nhiều chuyên gia nhấn mạnh cần tiếp cận ngành đường sắt như một hệ thống tích hợp đa lĩnh vực, trong đó nhân lực phải có năng lực tổng hợp về kỹ thuật, công nghệ và quản lý, phù hợp với yêu cầu vận hành các tuyến đường sắt tốc độ cao hiện đại.
Đóng góp ý kiến, TS Lê Anh Uyên Vũ – Phó viện trưởng Viện Cơ khí UTH – cho biết các chương trình đào tạo hiện nay của UTH về đường sắt được xây dựng theo định hướng liên ngành, chuẩn đầu ra cơ bản tương thích với dự thảo chuẩn đang xây dựng, cho thấy định hướng đào tạo của UTH phù hợp với thực tiễn và xu hướng phát triển của ngành. TS Uyên Vũ cũng đề xuất Hội đồng xây dựng chuẩn CTĐT có thể tham khảo chương trình mà UTH đang triển khai như một hướng tiếp cận hiệu quả trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đường sắt hiện đại và đường sắt tốc độ cao.
Các đại biểu cũng kiến nghị khá tương đồng với ý kiến từ các chuyên gia của UTH về việc cần tinh gọn, giảm số lượng chuẩn đầu ra, tăng tỷ trọng thực hành, đẩy mạnh học kỳ doanh nghiệp, đồng thời bổ sung các nội dung về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, an toàn hệ thống – những yêu cầu công nghệ cốt lõi của đường sắt tốc độ cao. Nhiều ý kiến thống nhất rằng chương trình đào tạo cần linh hoạt, gắn với thực tiễn, nhu cầu thị trường lao động và các lộ trình, quy hoạch phát triển đường sắt mà Đảng, Nhà nước đã đề ra trong các văn kiện chiến lược.
Phát biểu tại tọa đàm, PGS-TS Nguyễn Xuân Phương – Hiệu trưởng UTH – khẳng định UTH luôn chủ động, tiên phong trong đón đầu các xu hướng phát triển nguồn nhân lực giao thông vận tải, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Hiệu trưởng nhấn mạnh UTH đã và đang từng bước hoàn thiện các chương trình đào tạo, tăng cường năng lực đội ngũ giảng viên, đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thực hành, mô phỏng… để sẵn sàng đảm nhiệm vai trò nòng cốt trong đào tạo kỹ sư đường sắt tốc độ cao, góp phần hiện thực hóa các Nghị quyết của Đảng về phát triển hạ tầng chiến lược, chuyển đổi cơ cấu vận tải theo hướng hiện đại, bền vững. Ông khẳng định UTH sẵn sàng đồng hành cùng Bộ GD-ĐT và các đối tác trong việc hoàn thiện, triển khai chuẩn CTĐT; chia sẻ về các CTĐT về đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị đang triển khai tại trường.
Với định hướng trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu ứng dụng hàng đầu trong lĩnh vực giao thông vận tải phía Nam, UTH đang từng bước khẳng định vai trò trụ cột trong đào tạo nguồn nhân lực đường sắt chất lượng cao, gắn với nhu cầu thực tiễn, xu thế phát triển công nghệ và định hướng mở rộng mạng lưới đường sắt tốc độ cao của đất nước. Các đại biểu của UTH tham dự Tọa đàm góp ý cho dự thảo theo thực tiễn các CTĐT của UTH luôn được cải tiến kịp thời để theo kịp định hướng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Các chương trình đào tạo của UTH được cải tiến ưu tiên đào tạo kiến thức nền tảng, đào tạo sinh viên phát triển tư duy, cách học, cách giải quyết vấn đề, đổi mới sáng tạo và ứng dụng hiệu quả AI và dữ liệu lớn vào học tập và thực tiễn.
Ban tổ chức Đấu trường VioEdu đã ra thông báo hủy toàn bộ kết quả thi của các thí sinh ở một số cụm thi tại Hà Nội vì phát hiện hành vi gian lận. Giám thị coi thi đã điều chỉnh camera để tạo góc khuất can thiệp bài thi, đến cạnh từng thí sinh để nhắc bài.
Nỗi lo ngại về căn bệnh thành tích cùng hệ lụy của sự gian dối trong giáo dục lại tiếp tục khơi lên làn sóng tranh luận của cộng đồng.
Và một lần nữa chúng ta phải chững lại, soi chiếu và thẳng thắn trả lời câu hỏi: Bạn đã chú tâm dạy trẻ bài học về sự trung thực chưa?
Trung thực là đức tính cần vun bồi cho trẻ ngay từ tấm bé ở gia đình và chân ướt chân ráo cắp sách đến trường. Bài học ấy cần được neo giữ để uốn rèn suốt hành trình học tập, lớn khôn, trưởng thành.
Rất nhiều cuộc thi dành cho học sinh cùng vô số phong trào được phát động rầm rộ trong ngành giáo dục hiện nay. Nhiều sản phẩm được vinh danh, học trò vinh quang bước lên khán đài nhận thưởng nhưng đằng sau ánh hào quang ấy là gì?
Phải chăng tên trò chỉ được gán vào bài thi sau khi thầy đã miệt mài nghiên cứu, viết đề tài, thử nghiệm và thu nhận kết quả? Phải chăng mỗi mùa thi lại rầm rộ các trang mạng chuyên rao giá đề tài và mạnh miệng đảm bảo chất lượng để người ta vung tiền ra mua lấy hư danh?...
Người ta to nhỏ về những bài thi đạt điểm tuyệt đối là do giáo viên dạy kèm ngồi cạnh đọc đáp án. Người ta thầm thì về cảnh giáo viên phụ trách chọn góc khuất camera để chỉ bài cho trò ở các vòng thi kết nối trực tuyến.
Dạy trẻ thế nào về tính trung thực khi người lớn đồng lõa với sự giả dối, tiếp tay cho sự gian lận thi cử như thế?
Tất nhiên chúng ta đừng chỉ đẩy trái bóng trách nhiệm về căn bệnh sính thành tích cho nhà trường. Bởi mỗi phụ huynh cũng cần nhìn lại về hành trình ươm mầm tài năng con trẻ, hành trình uốn nắn năng lực của trẻ.
Không ít mẹ cha đang biến đứa con bé bỏng thành trang sức hào nhoáng để khoe khoang với thiên hạ về cách dạy con thành công của mình.
Mỗi mùa tổng kết năm học là trăm hoa đua nở trên mạng xã hội về cách khoe con: giấy khen sáng trưng, bảng điểm rực rỡ, huy chương bóng loáng…
Mạng xã hội đang đẩy căn bệnh khoe thành tích của trẻ trượt dài không lối thoát. Từ đây vấn nạn xin điểm, chạy trường chạy lớp, hô biến học bạ đều tăm tắp điểm 10 ngày càng trầm kha.
Xin hãy nhớ rằng: Sự giả dối ở bất kỳ môi trường nào cũng sẽ hằn vô vàn vết rạn nứt về niềm tin. Sự giả dối trong giáo dục lại càng đáng lo hơn.
Nhân tài được sản sinh từ quá trình học thật - thi thật sẽ là viên gạch nền móng dựng xây đất nước giàu đẹp và bền vững.
Ngược lại, nhân tài nếu chẳng may sinh ra từ sự đánh tráo điểm số, tô hồng năng lực, làm đẹp hồ sơ sẽ chỉ là những viên gạch rỗng khiến các giá trị xã hội bị đảo lộn, người thực tài và kẻ bất tài nhập nhằng ranh giới vô hình trung cản trở sự phát triển của quốc gia, chặn đường hội nhập quốc tế.
Chiều nay, 7.4, tại Trường THPT chuyên Chu Văn An (Hà Nội) đã diễn ra buổi giao lưu giữa PGS Nguyễn Quỳnh Lan, Viện Nghiên cứu tiên tiến, Đại học Phenikaa, với học sinh của trường.
Tại đây, nhà vật lý thiên văn đã chia sẻ những thông tin thú vị nhằm "giải oan" cho ngành học bị mang định kiến "trên trời" này.
PGS Nguyễn Quỳnh Lan cho biết, vật lý thiên văn vẫn bị mang tiếng là ngành học xa vời, viển vông, trong khi thực tế nó xuất phát từ "mặt đất" và đang có nhiều ứng dụng phục vụ cuộc sống ngay trên "mặt đất".
PGS Nguyễn Quỳnh Lan nói: "Thiên văn học là một ngành khoa học có từ thời cổ đại, bắt nguồn từ những trận lũ lụt do dòng sông Nile gây nên. Hồi ấy, các tu sĩ Ai Cập đã phải nhìn lên bầu trời để xác định chu kỳ nước sông Nile lên xuống, từ đó tính toán thời gian gieo trồng và thu hoạch mùa màng trước khi lũ tràn về san phẳng làng mạc. Cách ra đời của ngành thiên văn học tương tự như ngành hình học (Geometry - đo đất), cũng là từ nhu cầu thực tiễn thời Ai Cập cổ đại nhằm đo đạc lại ruộng đồng sau mỗi mùa lũ".
Cũng theo PGS Nguyễn Quỳnh Lan, ngày nay, thiên văn học tiếp tục hiện diện trong nhiều khía cạnh của đời sống con người. Hệ thống định vị GPS chúng ta sử dụng trên điện thoại di động chính là kết quả của việc nghiên cứu các vệ tinh trong thiên văn.
Hoặc điện hạt nhân bắt nguồn từ việc nghiên cứu các phản ứng nhiệt hạt nhân trong lòng mặt trời. Ngay cả những hiện tượng gây nhiễu động từ trường hay làm giảm tuổi thọ vệ tinh thực chất cũng xuất phát từ việc mặt trời hoạt động mạnh, sinh ra các vết đen và phát xạ hạt mang điện tạo thành bão từ.
PGS Nguyễn Quỳnh Lan tiếp tục mang đến cho các học sinh ham thích khám phá tự nhiên của Trường THPT chuyên Chu Văn An một bất ngờ khác khi giới thiệu một tiến bộ mới trong ngành vật lý thiên văn: lắng nghe tiếng vọng của vũ trụ qua sóng hấp dẫn.
PGS Nguyễn Quỳnh Lan cho biết, nhà bác học Albert Einstein là người dự đoán sự tồn tại của sóng hấp dẫn vào năm 1916 trong thuyết tương đối tổng quát. Đây là một khám phá về lý thuyết, sóng hấp dẫn được tạo ra từ các sự kiện vũ trụ năng lượng lớn (như 2 lỗ đen sáp nhập) làm rung chuyển không - thời gian. Nhưng đến năm 2015, các nhà khoa học tại đài quan sát LIGO (Mỹ) mới lần đầu tiên ghi nhận được sự hiện diện của sóng hấp dẫn (phát hiện này được công bố năm 2016, được giải Nobel năm 2017).
Để ghi nhận được sự hiện diện của sóng hấp dẫn, các nhà khoa học đã xây dựng những đài quan sát nằm sâu trong lòng đất hoặc ở những không gian được cách ly đặc biệt trên mặt đất. Từ trái đất, qua những máy "siêu dò", các nhà khoa học "lắng nghe tiếng vọng của vũ trụ", ghi nhận những dao động nhỏ nhất từ vũ trụ xa xôi.
Theo PGS Nguyễn Quỳnh Lan, việc nắm bắt được loại sóng này đòi hỏi hàng chục năm nỗ lực của một mạng lưới hợp tác quốc tế khổng lồ. Hiện tại, những gì con người có thể thấy và nghe được mới chỉ chiếm khoảng 4% vũ trụ, 96% còn lại vẫn là bức màn bí ẩn của vật chất tối và năng lượng tối. Do đó, kiến thức cần được khám phá của ngành vật lý thiên văn là vô cùng mênh mông. Tương lai của ngành vẫn còn nằm ở phía trước và phụ thuộc vào các bạn học sinh yêu vật lý thiên văn.
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định tiêu chuẩn, quy trình chuyển thể, chỉnh sửa cập nhật sách giáo khoa bản in sang sách giáo khoa điện tử, tổ chức thẩm định sách giáo khoa điện tử.
Việc ban hành thông tư này nhằm cụ thể hóa những quy định về sách giáo khoa tại Luật Giáo dục, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.
Theo thông tư trên, sách giáo khoa điện tử được xây dựng trên cơ sở sách giáo khoa bản in đã được bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, bảo đảm tính khoa học, chính xác, sư phạm của nội dung dạy học.
Sách giáo khoa điện tử cũng phải phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, các quy định của pháp luật về bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, quy chuẩn bảo mật, quy chuẩn về lưu chiểu và các quy định của pháp luật có liên quan.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng khẳng định sách giáo khoa điện tử không thay thế sách giáo khoa bản in, không mang tính bắt buộc với cơ sở giáo dục, giáo viên và học sinh.
Sách giáo khoa điện tử được công nhận và sử dụng phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam và xu thế giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Thông tư trên nêu rõ sách giáo khoa điện tử không thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu người dùng trái quy định hiện hành. Người tổ chức sách giáo khoa điện tử phải đảm bảo bảo mật thông tin của cá nhân học sinh và giáo viên theo quy định của pháp luật.
Thông tư cũng quy định sách giáo khoa điện tử không chèn quảng cáo, nội dung kinh doanh, không chứa và không được hiển thị các liên kết độc hại hoặc nội dung không phù hợp với mục đích giáo dục.
Giao diện sách giáo khoa điện tử phải phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, hình ảnh, âm thanh, video trong sách giáo khoa điện tử được thiết kế và sử dụng như giải pháp sư phạm. Đây là ưu điểm của sách giáo khoa điện tử, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, tăng tính trải nghiệm trong học tập, góp phần phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Sách giáo khoa điện tử cũng phải tuân thủ các quy định hiện hành về kỹ thuật của xuất bản phẩm điện tử, khuyến khích sử dụng các chuẩn mở quốc tế cho xuất bản phẩm điện tử giáo dục.
Sách giáo khoa điện tử bảo đảm tính năng hỗ trợ sử dụng ngoại tuyến đối với nội dung tĩnh. Có thể sử dụng trên thiết bị cấu hình thấp, tích hợp các tính năng công nghệ hỗ trợ tiếp cận dành cho đối tượng học sinh khuyết tật và người yếu thế.
Về hạ tầng và bảo mật sách giáo khoa điện tử, thông tư trên quy định, hệ thống máy chủ lưu trữ dữ liệu đặt tại Việt Nam, có tên miền Internet Việt Nam, được bảo trì định kỳ và tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn hệ thống thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng theo quy định hiện hành.
Sách giáo khoa điện tử phải được hoạt động ổn định trên các thiết bị, nền tảng khác nhau, không phụ thuộc độc quyền vào công nghệ, cấu hình thiết bị riêng biệt, tuân thủ tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế về dữ liệu để tích hợp được với các hệ thống quản lý học tập.
Đồng thời sách giáo khoa điện tử phải có cơ chế đồng bộ dữ liệu thông suốt giữa chế độ trực tuyến và ngoại tuyến.
Sách giáo khoa điện tử chỉ được chỉnh sửa, cập nhật khi sách giáo khoa bản in được chỉnh sửa, cập nhật. Việc chỉnh sửa, cập nhật sách giáo khoa điện tử do đơn vị chuyển thể tổ chức thực hiện, bảo đảm các nội dung cập nhật không làm giảm mức độ tiếp cận đã đạt được tại các phiên bản trước đó.
Việc tổ chức thực nghiệm kỹ thuật và đánh giá trải nghiệm người dùng trên các nhóm đối tượng học sinh, giáo viên đại diện vùng miền.
Cụ thể, số tiết thực nghiệm ít nhất 5% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục có từ 105 tiết/năm học trở lên; ít nhất 10% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục có từ 70 tiết/năm học đến dưới 105 tiết/năm học; ít nhất 15% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục còn lại.
Hình thức tổ chức thực nghiệm trực tiếp hoặc trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp và trực tuyến.
Đơn vị chuyển thể tổ chức chỉnh sửa, biên tập, hoàn thành bản mẫu sách giáo khoa điện tử và đề nghị với đơn vị tổ chức thẩm định, thẩm định bản mẫu sách giáo khoa điện tử.