Mức phạt này được quy định tại Nghị định 90/2026 được Chính phủ vừa ban hành. Cụ thể, hành vi sử dụng thuốc lá điện tử hoặc thuốc lá nung nóng bị phạt từ 3 đến 5 triệu đồng. Đây là mức xử phạt trực tiếp áp dụng với người dùng trong bối cảnh các sản phẩm này ngày càng phổ biến, đặc biệt ở giới trẻ.
Không chỉ người sử dụng, cá nhân hoặc tổ chức “chứa chấp” người khác sử dụng các sản phẩm này tại địa điểm do mình quản lý cũng bị xử phạt nặng hơn, từ 5 đến 10 triệu đồng. Quy định này loại trừ trường hợp giữa các thành viên gia đình như cha mẹ, con cái, vợ chồng.
Ngoài tiền phạt, cơ quan chức năng còn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đối với người vi phạm.
Ở khía cạnh kinh doanh, các hành vi liên quan đến thuốc lá truyền thống cũng bị siết chặt. Cửa hàng không treo biển “không bán cho người dưới 18 tuổi” có thể bị phạt đến 3 triệu đồng. Việc bán thuốc lá cho người chưa đủ tuổi, trưng bày sai quy định hoặc bán sản phẩm không có cảnh báo sức khỏe bị phạt tới 5 triệu đồng, thậm chí đình chỉ kinh doanh 1-3 tháng.
Đáng chú ý, các vi phạm về in ấn, ghi nhãn cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá bị xử phạt rất nặng, lên tới 40 triệu đồng, kèm theo đình chỉ hoạt động đến 6 tháng và buộc thu hồi hoặc tiêu hủy sản phẩm vi phạm.
Quy định siết chặt quản lý được đưa ra trong bối cảnh tỷ lệ sử dụng thuốc lá thế hệ mới tại Việt Nam tăng nhanh ở mức đáng báo động. Thống kê giai đoạn 2019-2023 cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá điện tử ở học sinh 13-17 tuổi tăng vọt từ 2,6% lên 8,1%. Năm 2023, cả nước ghi nhận hơn 1.200 ca nhập viện do ngộ độc và các bệnh lý liên quan đến loại sản phẩm này.
Mới nhất, một nghiên cứu gần 2.500 sinh viên ở Hà Nội, Đà Nẵng, Huế và TP HCM cho thấy tuổi trung bình bắt đầu sử dụng các sản phẩm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng là 16,9. Khảo sát cũng cho thấy nhiều người trẻ tin rằng các sản phẩm này không chứa nicotine hoặc không gây hại cho sức khỏe. Tiến sĩ Trần Thị Phương Thảo, đại diện nhóm nghiên cứu, cho biết 37% sinh viên tin rằng thuốc lá điện tử không chứa nicotine, 15% cho rằng khói chỉ là “hơi nước” vô hại.
Trước thực trạng trên, tại kỳ họp tháng 11/2024, Quốc hội đã thống nhất cấm toàn diện việc sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng từ năm 2025. Việt Nam hiện là một trong số hơn 40 quốc gia cấm hoàn toàn thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng.
Ngày 7-4, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội chia sẻ vừa mổ lấy thai thành công cho sản phụ 56 tuổi mang song thai.
Ở tuổi 56, khi nhiều người đã an yên bên con cháu, bà T.O. (Hà Nội) lại bắt đầu hành trình làm mẹ thêm một lần nữa.
Trực tiếp theo dõi thai kỳ cho sản phụ, bác sĩ Hà Cẩm Thương, Phó khoa sản khoa tự nguyện, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cho hay sản phụ mang song thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) có tiền sử mổ đẻ cũ và mắc đái tháo đường thai kỳ, phải theo chỉ định của bác sĩ dùng thuốc insulin hằng ngày.
Quá trình mang thai, từng chỉ số đều được kiểm soát, từng nỗi lo đều được lắng nghe, để niềm tin dần lớn lên theo từng nhịp phát triển của hai con.
Chiều 6-4, khi thai kỳ bước sang tuần 38, sản phụ chuyển dạ và được chỉ định nhập viện mổ lấy thai.
Dù ca mổ tiềm ẩn nhiều nguy cơ, đặc biệt khó khăn trong gây tê, nhưng với kinh nghiệm và sự phối hợp nhịp nhàng, ê kíp đã đón hai bé chào đời an toàn.
Một bé trai 2,9kg, một bé gái 2,4kg, đều khỏe mạnh, phản xạ tốt. Sau ca mổ, sức khỏe sản phụ ổn định, hai bé được chăm sóc chu đáo.
Các bác sĩ khuyến cáo mang thai ở tuổi trên 50 có thể đối mặt với nhiều rủi ro cho cả mẹ và bé. Tuy nhiên việc sinh con và làm mẹ là quyền và thiên chức của mỗi người phụ nữ.
Do đó nếu bản thân mang thai khi đã lớn tuổi, người phụ nữ cần được chăm sóc tốt hơn, cần có được thông tin cụ thể về những biến chứng thường gặp khi mang thai để phòng tránh và giải quyết những rủi ro gặp phải.
Đồng thời phải theo dõi, quản lý thai chặt chẽ tại cơ sở y tế chuyên khoa có đội ngũ bác sĩ có kinh nghiệm để đảm an toàn cho cả mẹ và con.
Chiều 9/4, đại diện Sở Y tế TP HCM cho biết các học sinh có triệu chứng đau bụng, nôn ói, sốt, rối loạn tiêu hóa. Bệnh viện Nhân dân Gia Định tiếp nhận nhiều nhất với 27 ca, trong đó 5 em đã xuất viện, 22 em còn điều trị.
Trạm Y tế phường Bình Quới tiếp nhận hai ca nhẹ nên cấp thuốc và cho về theo dõi tại nhà. Bệnh viện Nhi Đồng 2 tiếp nhận 4 ca, một trường hợp đã lấy mẫu xét nghiệm xác định nguyên nhân, hiện chưa có kết quả.
Bệnh viện Đa khoa Bình Thạnh tiếp nhận 20 ca, chủ yếu tình trạng ổn định và điều trị ngoại trú, một trường hợp đang được theo dõi tại phòng cấp cứu.
BS.CKI Phạm Thị Hoàng Oanh, Phó trưởng điều hành Khoa Nhi Tổng hợp, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, cho biết phần lớn bệnh nhi được chuyển lên từ khoa cấp cứu. Triệu chứng chung là sốt cao liên tục khó hạ, đau bụng quặn từng cơn, cơ thể đừ nhiều, ăn uống kém kèm theo nôn ói và tiêu chảy liên tục.
"Các bé nhập viện đều có tình trạng nhiễm trùng tiêu hóa với mức độ trung bình đến nặng", bác sĩ nói. Kíp điều trị đã truyền kháng sinh và bù dịch ngay khi tiếp nhận, song một số trường hợp diễn tiến chưa ổn định, chưa thể ăn uống, còn mệt.
Một phụ huynh đang chăm con 7 tuổi nằm viện, cho biết bé học bán trú và ăn uống tại trường ngày 7/4. Tan học, bé uống thêm hộp sữa trước khi đi học thêm buổi tối. Khoảng 2-3h sáng 8/4 bé nôn ói, tiêu chảy và sốt, uống thuốc không giảm, sáng 9/4 được đưa vào viện. Hiện bé vẫn còn mệt, sốt và tiêu chảy, chưa rõ nguyên nhân gây triệu chứng bất thường.
Sở Y tế TP HCM yêu cầu các bệnh viện theo dõi sát, điều trị theo hướng dẫn và lấy mẫu xét nghiệm xác định tác nhân, đồng thời thông tin cho Sở An toàn thực phẩm TP HCM để kịp thời xử lý.
Cơ quan này cũng chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP HCM phối hợp với các đơn vị liên quan và Trường Tiểu học Bình Quới Tây điều tra dịch tễ, lấy mẫu xét nghiệm nhằm làm rõ nguyên nhân. Hiện chưa kết luận trẻ ngộ độc do ăn món gì và ăn ở đâu.
Lãnh đạo nhà trường cho hay ngay đầu giờ sáng 8/4 nhiều học sinh khối 1-3 đã có biểu hiện mệt, sốt. Cả ngày có hơn 100 lượt học sinh xuống phòng y tế, hơn 40 em nôn ói, đau bụng. Do triệu chứng xuất hiện từ đầu giờ sáng, khi chưa ăn trưa tại trường, chưa thể khẳng định nguyên nhân do suất ăn bán trú, đồng thời không loại trừ khả năng từ thức ăn bên ngoài hoặc nguồn nước.
Trường đã dừng tổ chức ăn bán trú, mẫu thức ăn ngày 7-8/4 được gửi xét nghiệm, dự kiến có kết quả ngày 14/4.
Trong nhiều năm, các yếu tố nguy cơ của đột quỵ thường được xác định dựa trên lối sống và tình trạng sức khỏe ở tuổi trưởng thành, như béo phì, hút thuốc hay tăng huyết áp. Tuy nhiên, nghiên cứu mới do các nhà khoa học từ University of Gothenburg thực hiện đã mở rộng góc nhìn: nguy cơ đột quỵ có thể đã được "lập trình" từ khi một người chào đời.
Công trình phân tích dữ liệu của gần 800.000 người sinh tại Thụy Điển trong giai đoạn 1973-1982, theo dõi đến năm 2022. Kết quả cho thấy những người có cân nặng khi sinh dưới mức trung bình (khoảng 3kg) có nguy cơ đột quỵ cao hơn rõ rệt khi bước vào tuổi trưởng thành.
Cụ thể, nhóm này có nguy cơ mắc tất cả các dạng đột quỵ tăng khoảng 21%, trong đó nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ tăng đáng kể, còn xuất huyết nội sọ, dạng đột quỵ nguy hiểm hơn, tăng tới 27%.
Điều đáng chú ý là mối liên hệ này không bị ảnh hưởng bởi chỉ số BMI khi trưởng thành hay tuổi thai lúc sinh, cho thấy cân nặng khi sinh là một yếu tố độc lập.
Các nhà khoa học cho rằng cân nặng khi sinh phản ánh môi trường phát triển trong tử cung. Khi thai nhi không nhận đủ dinh dưỡng hoặc gặp điều kiện bất lợi, cơ thể có thể "thích nghi" bằng cách thay đổi cấu trúc và chức năng của các cơ quan, bao gồm hệ tim mạch và mạch máu não.
Những thay đổi này có thể không biểu hiện ngay nhưng âm thầm làm tăng nguy cơ bệnh lý trong tương lai, đặc biệt là các bệnh liên quan đến tuần hoàn máu như đột quỵ.
Nói cách khác, cơ thể "ghi nhớ" điều kiện sống từ trong bụng mẹ, và điều đó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe suốt nhiều thập kỷ sau.
Mặc dù tỉ lệ đột quỵ đã giảm ở nhiều quốc gia phát triển, nhưng xu hướng này không rõ rệt ở người trẻ. Thậm chí, tại một số khu vực ở Đông Nam Á và các nước phát triển, tỉ lệ đột quỵ ở người trẻ và trung niên đang có dấu hiệu gia tăng.
Điều này khiến các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến những yếu tố nguy cơ "sớm" như cân nặng khi sinh, những yếu tố mà trước đây ít được chú ý trong đánh giá nguy cơ.
Không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể phòng ngừa tương lai. Đối với người trưởng thành hiện nay, cân nặng khi sinh là yếu tố không thể thay đổi. Tuy nhiên, việc nhận diện nguy cơ sớm có thể giúp chủ động phòng ngừa.
Những người từng sinh nhẹ cân nên chú ý hơn đến các yếu tố nguy cơ khác như huyết áp, chế độ ăn, vận động và kiểm tra sức khỏe định kỳ. Việc kiểm soát tốt các yếu tố này có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ đột quỵ.
Quan trọng hơn, phát hiện này mở ra cơ hội can thiệp từ sớm, ngay từ giai đoạn mang thai. Chăm sóc dinh dưỡng tốt cho mẹ bầu, theo dõi thai kỳ chặt chẽ và đảm bảo điều kiện phát triển tối ưu cho thai nhi có thể góp phần giảm nguy cơ bệnh tật cho thế hệ tương lai.
Nghiên cứu được trình bày tại European Congress on Obesity 2026 không chỉ cung cấp thêm bằng chứng về mối liên hệ giữa giai đoạn đầu đời và sức khỏe lâu dài, mà còn gợi ý rằng cân nặng khi sinh có thể được đưa vào các mô hình đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch.
Đây là một bước tiến trong cách tiếp cận y học dự phòng, không chỉ nhìn vào hiện tại, mà còn xem xét toàn bộ "lịch sử sinh học" của một con người.