Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 125/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục ĐH, áp dụng đối với cơ sở giáo dục ĐH, các đơn vị thuộc và trực thuộc cơ sở giáo dục ĐH, giảng viên, nghiên cứu viên, người học và tổ chức, cá nhân liên quan tham gia hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục ĐH.
Nghị định quy định trong cơ sở giáo dục ĐH được xây dựng các nhóm nghiên cứu tiềm năng và nhóm nghiên cứu mạnh.
Theo đó, nhóm nghiên cứu tiềm năng có ít nhất 3 thành viên, trong đó trưởng nhóm là giảng viên cơ hữu của trường và ít nhất 2 thành viên chủ chốt.
Còn nhóm nghiên cứu mạnh bao gồm ít nhất 5 thành viên, trong đó trưởng nhóm là giảng viên cơ hữu của trường và ít nhất 4 thành viên chủ chốt.
Nguyên tắc phát triển nhóm nghiên cứu theo hướng tạo ra sản phẩm khoa học có giá trị học thuật hoặc khả năng thương mại hóa; đồng thời tạo cơ hội cho giảng viên, nghiên cứu viên, người học, nhà khoa học, chuyên gia tham gia nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và bảo đảm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bên cạnh đó, tạo điều kiện để thúc đẩy hợp tác giữa các cơ sở giáo dục đại học, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Các nhóm nghiên cứu này sẽ được hưởng một số quyền lợi ưu đãi. Cụ thể, nhóm nghiên cứu tiềm năng sẽ được ưu tiên xem xét đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiệm vụ hợp tác quốc tế và hợp tác với doanh nghiệp; được ưu tiên hỗ trợ ươm tạo, nâng cao năng lực nghiên cứu nhằm phát triển lên nhóm nghiên cứu mạnh.
Trưởng nhóm nghiên cứu tiềm năng được giảm đến 50%, thành viên chủ chốt nhóm nghiên cứu tiềm năng được giảm đến 20% định mức giờ chuẩn giảng dạy hằng năm và được khấu trừ tương ứng vào định mức giảng dạy khi xét tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư.
Không những vậy, được trường ưu tiên bố trí không gian làm việc, điều kiện nghiên cứu và hỗ trợ kinh phí khởi động trong phạm vi nguồn lực và quyền tự chủ của cơ sở giáo dục ĐH.
Đối với nhóm nghiên cứu mạnh được hưởng các ưu đãi từ Nhà nước, đồng thời được trường bố trí kinh phí hoạt động thường xuyên, phòng làm việc và các phương tiện cần thiết; được hỗ trợ kinh phí theo khả năng của trường để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đã được phê duyệt.
Trưởng nhóm được giảm đến 80% định mức giờ chuẩn giảng dạy hằng năm; thành viên chủ chốt là giảng viên của trường chủ trì được giảm đến 50% định mức giờ chuẩn hàng năm và được khấu trừ vào định mức giảng dạy khi xét tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư.
Nghị định cũng làm rõ quyền và trách nhiệm của giảng viên, đặc biệt là giáo sư, phó giáo sư và giảng viên trẻ có trình độ tiến sĩ.
Theo đó, giảng viên được bảo đảm điều kiện nghiên cứu, tiếp cận nguồn tài trợ, giảm định mức giảng dạy và hưởng lợi ích tương xứng với kết quả nghiên cứu.
Đặc biệt, giảng viên có học vị giáo giáo sư có thể được giảm tới 60% giờ giảng, phó giáo sư giảm tới 40%, thậm chí được tạm dừng giảng dạy tối đa một năm để phục vụ nghiên cứu và hợp tác quốc tế.
Ngoài ra, giáo sư, phó giáo sư được ưu tiên đặt hàng, giao chủ trì nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với nhóm công nghệ chiến lược và những lĩnh vực mà Nhà nước ưu tiên.
Giảng viên có trình độ tiến sĩ từ 40 tuổi trở xuống được trường xem xét hỗ trợ kinh phí nghiên cứu trong 3 năm đầu kể từ khi được công nhận học vị tiến sĩ.
Đối với nghiên cứu sinh là giảng viên cơ hữu được trường nơi công tác bảo đảm các chế độ bao gồm chi trả học phí, được hưởng nguyên lương và các phụ cấp khác theo quy định. Đồng thời được cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh ưu tiên giao nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nếu thuộc chương trình đào tạo tài năng trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, công nghệ cao; được ưu tiên tham gia các hoạt động hỗ trợ giảng dạy hoặc nghiên cứu phù hợp với chương trình đào tạo với thù lao tương xứng.
Không chỉ với giảng viên, việc khuyến khích nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo còn mở rộng đối với cho sinh viên. Cụ thể, sinh viên có cơ hội tham gia nghiên cứu, sử dụng phòng thí nghiệm, hưởng quyền sở hữu trí tuệ và có thể được miễn, giảm học phí hoặc cấp học bổng khi đạt thành tích nghiên cứu xuất sắc.
Rời phòng thi ở trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM lúc hơn 11h, Thành Công, học sinh trường THPT Bình Chiểu, lập tức tìm nhóm bạn bàn về câu hỏi niêm luật (quy tắc về thanh điệu, gieo vần) trong khổ thơ Đường.
"Em chưa từng gặp câu hỏi này nên khoanh may rủi, xác định mất điểm", Thành Công nói.
Nam sinh nói đề dài 16 trang, cấu trúc tương tự đề minh họa. 30 câu hỏi Tiếng Việt trong phần Sử dụng ngôn ngữ khiến em bất ngờ vì độ khó cao hơn nhiều so các đề từng luyện. Câu hỏi dài với ngữ liệu chủ yếu là thơ văn trung đại khiến nam sinh mất thời gian đọc.
Ngoài ra, phần Toán học thách thức vì một số câu cho nhiều ẩn để "chống" bấm máy tính. Tổng quan, em đánh giá đề thi đánh giá năng lực khó gấp rưỡi so với đề minh họa của Đại học Quốc gia TP HCM. Nam sinh ước chừng đạt hơn 700/1200 điểm, chưa an toàn nên sẽ tiếp tục thi lần hai vào cuối tháng 5.
Đồng tình, Thùy Dương, THPT Nguyễn Hữu Huân, nói câu hỏi Tiếng Việt dài và đáp án gây nhiễu, "na ná nhau". Bù lại, Dương giải quyết tốt phần Tiếng Anh và Tư duy khoa học. Nữ sinh kỳ vọng đạt 900 điểm trở lên để đăng ký xét vào Đại học Kinh tế TP HCM và trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
"Đề khó gấp rưỡi, đặc biệt phần Tiếng Việt, nhiều câu em không hiểu đề", Dương nói.
Anh Thư, THPT Thủ Đức, rầu rĩ vì mất nhiều thời gian cho các câu hỏi Tiếng Việt. Nữ sinh dự định dành 30 phút nhưng cuối cùng mất 45 phút vẫn không chắc chắn toàn bộ đáp án cho phần này. Điều này cũng khiến em không kịp đọc kỹ những câu cuối, ước chừng 30 câu phải khoanh đáp án một cách may rủi.
"Lẽ ra em nên phân phối thời gian hợp lý hơn", Thư tiếc nuối và cho biết sẽ dự thi đợt sau để cải thiện kết quả.
Khảo sát 10 thí sinh tại điểm trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM, có 8 em nhận định phần Tiếng Việt dài và khó. Đặc biệt, câu hỏi niêm luật khiến nhiều em nhăn mặt vì ít phổ biến nên không để ý trong quá trình học.
Đề thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia TP HCM gồm 120 câu, thời gian làm bài 150 phút. Phần Tư duy khoa học có 30 câu gồm Logic - Phân tích số liệu và Suy luận khoa học. Phần Sử dụng ngôn ngữ gồm Tiếng Việt và Tiếng Anh với 60 câu. Cuối cùng là Toán học với 30 câu.
Câu hỏi được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin, số liệu, dữ kiện, từ đó yêu cầu thí sinh vận dụng, xác định kết quả thực nghiệm, dự đoán quy luật...
Theo thống kê của Đại học Quốc gia TP HCM, gần 133.500 thí sinh tham gia thi đánh giá năng lực sáng 5/4, tỷ lệ 98%. Công tác coi thi đúng quy chế, chưa ghi nhận trường hợp sai sót, sự cố. Kết quả sẽ được công bố vào ngày 17/4.
Đợt hai của kỳ thi sẽ diễn ra ngày 24/5. Kết quả kỳ thi được 118 trường đại học, cao đẳng dùng để xét đầu vào. Năm ngoái, em Mai Quang Minh Trí vượt qua 152.000 thí sinh giành vị trí thủ khoa với 1.122/1200 điểm.
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định tiêu chuẩn, quy trình chuyển thể, chỉnh sửa cập nhật sách giáo khoa bản in sang sách giáo khoa điện tử, tổ chức thẩm định sách giáo khoa điện tử.
Việc ban hành thông tư này nhằm cụ thể hóa những quy định về sách giáo khoa tại Luật Giáo dục, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.
Theo thông tư trên, sách giáo khoa điện tử được xây dựng trên cơ sở sách giáo khoa bản in đã được bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, bảo đảm tính khoa học, chính xác, sư phạm của nội dung dạy học.
Sách giáo khoa điện tử cũng phải phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, các quy định của pháp luật về bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, quy chuẩn bảo mật, quy chuẩn về lưu chiểu và các quy định của pháp luật có liên quan.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng khẳng định sách giáo khoa điện tử không thay thế sách giáo khoa bản in, không mang tính bắt buộc với cơ sở giáo dục, giáo viên và học sinh.
Sách giáo khoa điện tử được công nhận và sử dụng phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam và xu thế giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Thông tư trên nêu rõ sách giáo khoa điện tử không thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu người dùng trái quy định hiện hành. Người tổ chức sách giáo khoa điện tử phải đảm bảo bảo mật thông tin của cá nhân học sinh và giáo viên theo quy định của pháp luật.
Thông tư cũng quy định sách giáo khoa điện tử không chèn quảng cáo, nội dung kinh doanh, không chứa và không được hiển thị các liên kết độc hại hoặc nội dung không phù hợp với mục đích giáo dục.
Giao diện sách giáo khoa điện tử phải phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, hình ảnh, âm thanh, video trong sách giáo khoa điện tử được thiết kế và sử dụng như giải pháp sư phạm. Đây là ưu điểm của sách giáo khoa điện tử, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, tăng tính trải nghiệm trong học tập, góp phần phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Sách giáo khoa điện tử cũng phải tuân thủ các quy định hiện hành về kỹ thuật của xuất bản phẩm điện tử, khuyến khích sử dụng các chuẩn mở quốc tế cho xuất bản phẩm điện tử giáo dục.
Sách giáo khoa điện tử bảo đảm tính năng hỗ trợ sử dụng ngoại tuyến đối với nội dung tĩnh. Có thể sử dụng trên thiết bị cấu hình thấp, tích hợp các tính năng công nghệ hỗ trợ tiếp cận dành cho đối tượng học sinh khuyết tật và người yếu thế.
Về hạ tầng và bảo mật sách giáo khoa điện tử, thông tư trên quy định, hệ thống máy chủ lưu trữ dữ liệu đặt tại Việt Nam, có tên miền Internet Việt Nam, được bảo trì định kỳ và tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn hệ thống thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng theo quy định hiện hành.
Sách giáo khoa điện tử phải được hoạt động ổn định trên các thiết bị, nền tảng khác nhau, không phụ thuộc độc quyền vào công nghệ, cấu hình thiết bị riêng biệt, tuân thủ tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế về dữ liệu để tích hợp được với các hệ thống quản lý học tập.
Đồng thời sách giáo khoa điện tử phải có cơ chế đồng bộ dữ liệu thông suốt giữa chế độ trực tuyến và ngoại tuyến.
Sách giáo khoa điện tử chỉ được chỉnh sửa, cập nhật khi sách giáo khoa bản in được chỉnh sửa, cập nhật. Việc chỉnh sửa, cập nhật sách giáo khoa điện tử do đơn vị chuyển thể tổ chức thực hiện, bảo đảm các nội dung cập nhật không làm giảm mức độ tiếp cận đã đạt được tại các phiên bản trước đó.
Việc tổ chức thực nghiệm kỹ thuật và đánh giá trải nghiệm người dùng trên các nhóm đối tượng học sinh, giáo viên đại diện vùng miền.
Cụ thể, số tiết thực nghiệm ít nhất 5% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục có từ 105 tiết/năm học trở lên; ít nhất 10% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục có từ 70 tiết/năm học đến dưới 105 tiết/năm học; ít nhất 15% tổng số tiết đối với các môn học, hoạt động giáo dục còn lại.
Hình thức tổ chức thực nghiệm trực tiếp hoặc trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp và trực tuyến.
Đơn vị chuyển thể tổ chức chỉnh sửa, biên tập, hoàn thành bản mẫu sách giáo khoa điện tử và đề nghị với đơn vị tổ chức thẩm định, thẩm định bản mẫu sách giáo khoa điện tử.
1. Đọc giải thích nghĩa của từ mới bằng tiếng Anh (trừ từ chuyên ngành khó hiểu)
Thay vì dùng từ điển Anh-Việt (dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt), hãy chuyển qua dùng từ điển Anh-Anh (như Dictionary, Oxford, Cambridge,...). Cách khác là dùng cú pháp sau trên Google tìm kiếm: Từ cần tra + meaning, hoặc dùng AI của Google hay ChatGPT.
Việc đọc giải nghĩa của từ bằng tiếng Anh là cách giúp bạn luyện nghĩ bằng chính ngôn ngữ này. Đồng thời, từ điển hay AI đều cho bạn ví dụ dễ hiểu.
Ví dụ, khi đã quen đọc định nghĩa của từ bằng tiếng Anh, bạn sẽ không còn nghĩ từ "upset" là "thất vọng, bực bội, buồn phiền" nữa, thay vào đó bạn nghĩ từ này có nghĩa giống "disappointed, unhappy".
2. Nghĩ đơn giản - tìm cách khác
Để bỏ qua thói quen dịch cố hữu, bạn phải học cách diễn đạt nghĩa của một từ bằng nhiều cách.
Ví dụ, khi định mô tả bộ phim "kịch tính" mà không biết diễn đạt sao, hãy vận dụng toàn bộ vốn từ bạn đang có. Thay vì nghĩ "Kịch tính tiếng Anh nói thế nào?", hãy NGHĨ ĐƠN GIẢN, cố gắng giải thích trong khả năng vốn từ có thể.
Ví dụ: The movie made me feel very nervous. I kept wondering what would happen next (Bộ phim khiến tôi cảm thấy rất hồi hộp. Tôi cứ tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo).
Hoặc đơn giản là dùng từ exciting/interesting trong khả năng có thể: The movie was really exciting/interesting (Bộ phim thực sự rất hấp dẫn/thú vị).
3. Học CỤM TỪ, thay vì học từ lẻ
Ví dụ trong câu: I feel guity about lying to my brother (Tôi cảm thấy có lỗi vì đã nói dối anh trai mình). Thay vì học "guilty" (tội lỗi), hãy học cả cụm "to feel guilty about something/doing something" (cảm thấy áy náy/có lỗi) và đặt câu với cả cụm này.
Như vậy, khi nói, bạn sẽ không nghĩ từ lẻ, mà nghĩ theo cả cụm từ, tránh việc dịch trong đầu.
4. Nói dưới áp lực thời gian
Nếu phải nói về công việc của mình trong 5 phút, bạn dễ ậm ờ, vừa nói vừa nghĩ.
Nhưng nếu phải nói ngắn gọn những gì bạn đang làm để kiếm sống trong đúng 45 giây, và tưởng tượng đây là bài thi, bạn sẽ lập tức thấy não bộ linh hoạt hơn nhiều. Bạn không còn thời gian để nghĩ bằng tiếng Việt nữa.
5. Tập nghĩ bằng tiếng Anh (nghe/đọc bằng tiếng Anh)
Giải pháp này rất thực tế và trực tiếp. Bị bao vây bởi tiếng Anh là cách nhanh gọn nhất để chữa bệnh "dịch" dứt điểm.
Ví dụ, thay vì xem Facebook reels/Youtube shorts bằng tiếng Việt, hãy chuyển qua tiếng Anh. Hỏi ChatGPT bằng tiếng Anh thay vì tiếng Việt.
Việc luyện nghe/đọc bằng tiếng Anh giúp bạn huấn luyện não nghĩ bằng tiếng Anh nhiều hơn.