1. Đọc giải thích nghĩa của từ mới bằng tiếng Anh (trừ từ chuyên ngành khó hiểu)
Thay vì dùng từ điển Anh-Việt (dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt), hãy chuyển qua dùng từ điển Anh-Anh (như Dictionary, Oxford, Cambridge,…). Cách khác là dùng cú pháp sau trên Google tìm kiếm: Từ cần tra + meaning, hoặc dùng AI của Google hay ChatGPT.
Việc đọc giải nghĩa của từ bằng tiếng Anh là cách giúp bạn luyện nghĩ bằng chính ngôn ngữ này. Đồng thời, từ điển hay AI đều cho bạn ví dụ dễ hiểu.
Ví dụ, khi đã quen đọc định nghĩa của từ bằng tiếng Anh, bạn sẽ không còn nghĩ từ “upset” là “thất vọng, bực bội, buồn phiền” nữa, thay vào đó bạn nghĩ từ này có nghĩa giống “disappointed, unhappy”.
2. Nghĩ đơn giản – tìm cách khác
Để bỏ qua thói quen dịch cố hữu, bạn phải học cách diễn đạt nghĩa của một từ bằng nhiều cách.
Ví dụ, khi định mô tả bộ phim “kịch tính” mà không biết diễn đạt sao, hãy vận dụng toàn bộ vốn từ bạn đang có. Thay vì nghĩ “Kịch tính tiếng Anh nói thế nào?”, hãy NGHĨ ĐƠN GIẢN, cố gắng giải thích trong khả năng vốn từ có thể.
Ví dụ: The movie made me feel very nervous. I kept wondering what would happen next (Bộ phim khiến tôi cảm thấy rất hồi hộp. Tôi cứ tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo).
Hoặc đơn giản là dùng từ exciting/interesting trong khả năng có thể: The movie was really exciting/interesting (Bộ phim thực sự rất hấp dẫn/thú vị).
3. Học CỤM TỪ, thay vì học từ lẻ
Ví dụ trong câu: I feel guity about lying to my brother (Tôi cảm thấy có lỗi vì đã nói dối anh trai mình). Thay vì học “guilty” (tội lỗi), hãy học cả cụm “to feel guilty about something/doing something” (cảm thấy áy náy/có lỗi) và đặt câu với cả cụm này.
Như vậy, khi nói, bạn sẽ không nghĩ từ lẻ, mà nghĩ theo cả cụm từ, tránh việc dịch trong đầu.
4. Nói dưới áp lực thời gian
Nếu phải nói về công việc của mình trong 5 phút, bạn dễ ậm ờ, vừa nói vừa nghĩ.
Nhưng nếu phải nói ngắn gọn những gì bạn đang làm để kiếm sống trong đúng 45 giây, và tưởng tượng đây là bài thi, bạn sẽ lập tức thấy não bộ linh hoạt hơn nhiều. Bạn không còn thời gian để nghĩ bằng tiếng Việt nữa.
5. Tập nghĩ bằng tiếng Anh (nghe/đọc bằng tiếng Anh)
Ngày 6.4, tại thành phố Đà Nẵng, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục mầm non, Ngân hàng Thế giới và Sở GD-ĐT thành phố Đà Nẵng tổ chức hội thảo "Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non".
Hội thảo thu hút gần 100 cán bộ quản lý đến từ các Sở GD-ĐT khu vực miền Trung cùng nhiều chuyên gia, tập trung trao đổi về nhu cầu và giải pháp phát triển giáo dục mầm non trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp.
Theo ban tổ chức, quá trình đô thị hóa nhanh, đặc biệt tại các khu công nghiệp, kéo theo sự gia tăng lực lượng lao động khiến nhu cầu gửi trẻ, chăm sóc và giáo dục mầm non cho con em người lao động, nhất là lao động nữ, tăng mạnh.
Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ mầm non bảo đảm chất lượng, an toàn và phù hợp với điều kiện làm việc vẫn còn nhiều hạn chế, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chính sách.
Tại hội thảo, các đại biểu được chia sẻ kết quả nghiên cứu đánh giá nhu cầu nhà trẻ, giáo dục mầm non tại các đô thị có khu công nghiệp; đồng thời giới thiệu chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045.
Nhiều ý kiến cũng tập trung đề xuất các giải pháp, khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong thời gian tới.
Phát biểu tại hội thảo, ông Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, nhấn mạnh giáo dục mầm non là nền tảng cho sự phát triển lâu dài của trẻ. Giai đoạn từ 3 - 6 tuổi được xem là "thời điểm vàng", khi trẻ phát triển nhanh nhất về thể chất, nhận thức và kỹ năng sống.
Theo ông Vinh, nhiều nghiên cứu cho thấy việc tiếp cận giáo dục sớm giúp trẻ đạt kết quả học tập tốt hơn ở các cấp học sau, kéo dài thời gian học tập và hình thành năng lực học tập suốt đời. Do đó, đầu tư cho giáo dục mầm non không chỉ bảo đảm công bằng mà còn là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Thời gian qua, nhiều chính sách quan trọng đã được ban hành, trong đó Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030 đặt mục tiêu mở rộng phổ cập cho trẻ từ 3 tuổi, tăng tỷ lệ trẻ đến trường và nâng cao chất lượng tại các địa bàn khó khăn, khu công nghiệp.
Đáng chú ý, năm 2026 bắt đầu triển khai thí điểm chương trình giáo dục mầm non mới với 7 điểm cải cách, theo hướng tiếp cận năng lực, liên thông với chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và chú trọng phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội cho trẻ. Chương trình khung cũng tăng quyền chủ động cho địa phương, phù hợp thực tiễn từng cơ sở, đồng thời bảo đảm chế độ dinh dưỡng và giảm áp lực cho giáo viên.
Tuy nhiên, theo các đại biểu, tại các đô thị đông dân, khu công nghiệp có tỷ lệ di cư lớn vẫn còn nhiều thách thức trong việc bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục mầm non. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ mà còn tác động đến việc làm của phụ nữ và sự ổn định xã hội.
Ông Lê Anh Vinh cho biết thêm, thông qua hội thảo, ban tổ chức mong muốn tiếp nhận thêm ý kiến từ cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục để hoàn thiện mô hình giáo dục mầm non tại các khu công nghiệp, khu chế xuất theo hướng sát thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của người dân.
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội vừa ban hành các quyết định giao chỉ tiêu tuyển sinh mầm non, lớp 1, lớp 6 và lớp 10 năm học 2026-2027, trong đó chỉ tiêu vào lớp 10 công lập và công lập chất lượng cao là 81.448 học sinh.
Theo Quyết định số 1666 ngày 31-3-2026, 124 trường trung học phổ thông công lập và công lập chất lượng cao được giao tổng cộng 1.830 lớp với 81.448 học sinh. Trong đó, 123 trường công lập được giao 1.820 lớp với 81.048 học sinh, một trường công lập chất lượng cao được giao 10 lớp với 400 học sinh.
Ở khối công lập, 4 trường chuyên được giao 78 lớp với 2.730 học sinh, còn lại 119 trường trung học phổ thông công lập tuyển 1.742 lớp với 78.318 học sinh.
Đối với khối ngoài công lập, theo Quyết định số 1665, 89 trường trung học phổ thông tư thục được giao 817 lớp với 34.059 học sinh.
Ngoài ra, 29 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên được giao tuyển 262 lớp với 11.675 học viên, theo Quyết định số 1664.
Với bậc học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở, theo Quyết định số 1663, Sở giao 2 trường mầm non trực thuộc tuyển 28 nhóm, lớp với 740 trẻ. Năm trường trực thuộc Sở tuyển sinh lớp 1 với 13 lớp, 367 học sinh và lớp 6 với 13 lớp, 460 học sinh.
Năm học 2026-2027, Hà Nội có thêm 6 trường trung học phổ thông đi vào hoạt động, dự kiến bổ sung hơn 3.000 chỗ học, góp phần giảm áp lực tuyển sinh lớp 10.
Trong đó khối công lập có 4 trường mới gồm Trung học phổ thông Hoàng Quán Chi, Trung học phổ thông Vĩnh Hưng, Trung học phổ thông Việt Hùng và Trung học phổ thông Xuân Khanh. Khối tư thục có thêm Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo và Trung học phổ thông Edison.
Kỳ thi vào lớp 10 trung học phổ thông công lập năm học 2026-2027 tại Hà Nội dự kiến diễn ra trong hai ngày 30 và 31-5. Thí sinh được đăng ký tối đa 3 nguyện vọng và dự thi 3 môn gồm toán, ngữ văn và ngoại ngữ.
Trường Đại học Hà Nội ngày 5/4 công bố thông tin tuyển sinh đại học năm 2026. Đây là năm đầu trường tính điểm chuẩn bằng cách nhân đôi điểm Toán hoặc Văn, tùy ngành thay vì chỉ nhân đôi môn tiếng Anh như mọi năm. Tổng điểm 3 môn thi sau khi nhân hệ số (tối đa 50 điểm) sẽ được quy đổi về thang điểm 40. Điểm sàn xét tuyển là 22/40.
Trường dự kiến tuyển 3.705 sinh viên cho 30 ngành học, tăng 285 so với năm ngoái. Hai ngành mới là Ngôn ngữ Anh - thương mại và Quan hệ quốc tế.
14 tổ hợp được sử dụng, gồm ba tổ hợp mới là D10 (Toán, Địa lý, tiếng Anh), D14 (Ngữ văn, Lịch sử, tiếng Anh), D15 (Ngữ văn, Địa lý, tiếng Anh), nhưng chỉ áp dụng với một số ngành.
Ba phương thức tuyển sinh gồm xét tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; xét tuyển kết hợp theo quy định của trường và xét bằng điểm thi tốt nghiệp THPT.
Ở phương thức xét tuyển kết hợp, thí sinh có IELTS đạt 6.0 trở lên hoặc tương đương hoặc thí sinh trường chuyên hay có điểm thi đánh giá đầu vào V-SAT. Mức điểm khuyến khích từ 0,5 đến 1,5 điểm.
Bảng tính điểm khuyến khích với IELTS và các chứng chỉ, học bạ của trường Đại học Hà Nội:
Học phí năm học 2026-2027 của trường Đại học Hà Nội dự kiến 0,86-1,75 triệu đồng/tín chỉ, cao nhất là ngành Công nghệ thông tin dạy bằng tiếng Anh.
Năm ngoái, điểm chuẩn vào trường dao động 22,1-34,35/40, đứng đầu là ngành Ngôn ngữ Trung Quốc.
Tổ hợp xét tuyển năm 2026 của trường Đại học Hà Nội