Theo tài liệu ĐHĐCĐ thường niên 2026, Lideco xác định năm 2026 tiếp tục không có doanh thu từ hoạt động kinh doanh bất động sản.
Trước đó, trong năm 2025, dù các dự án vẫn triển khai nhưng công ty cũng chưa ghi nhận doanh thu từ mảng cốt lõi này.
Thay vào đó, dòng tiền của NTL được duy trì nhờ hoạt động đầu tư tài chính như gửi ngân hàng và đầu tư chứng khoán, với tổng giá trị hơn 1.000 tỉ đồng, chiếm trên 50% tổng tài sản (tính đến hết quý 4-2026).
Trong đó, TCH là cổ phiếu được Lideco nắm nhiều nhất với giá gốc là 222,8 tỉ đồng, tương đương 14.880 đồng/cổ phiếu. Năm 2025, công ty ghi nhận lãi từ bán chứng khoán kinh doanh đạt 70,1 tỉ đồng và thu gần 42 tỉ đồng từ tiền gửi ngân hàng.
Dự kiến, trong năm 2026, NTL vẫn tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đầu tư. Vào ngày 10-03-2026, HĐQT đã phê duyệt nâng hạn mức đầu tư chứng khoán lên tới 650 tỉ đồng.
Công ty đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 là 30 tỉ đồng (thấp hơn mức 32,7 tỉ đồng thực hiện năm 2025).
Điểm đáng chú ý là Lideco không lựa chọn phương án “co cụm” về nhân sự. Trong năm 2025, NTL còn có thêm 1 nhân sự nâng tổng số lao động lên 97 người.
Báo cáo tài chính năm 2025 còn cho thấy thu nhập bình quân của người lao động ở mức 23 triệu đồng/người/tháng. Trong khi đó, nhóm lãnh đạo cấp cao có thu nhập cao hơn. Tổng cộng, 14 nhân sự chủ chốt của NTL nhận về hơn 30 tỉ đồng trong năm 2026, tương đương thu nhập bình quân hơn 180 triệu đồng/tháng.
Cùng với đó là những phúc lợi như xây dựng các sân tập thể thao ngay tại nơi làm việc như pickleball, bóng bàn, cầu lông, tổ chức giải thi đấu, nghỉ mát hè và khen thưởng cho con em nhân viên…
Ngoài chi nhân sự và phúc lợi, NTL đã tạm ứng cổ tức tiền mặt năm 2025 tỉ lệ 10% cho cổ đông, tương đương gần 122 tỉ đồng. Và dự kiến, sẽ tiếp tục chính sách chi trả cổ tức năm 2026 bằng tiền mặt với tỉ lệ tương tự.
Ban lãnh đạo NTL xác định triển khai kinh doanh dự án NOXH tại Quảng Ninh và thi công chung cư N0-11 Dịch Vọng (Hà Nội) là nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2026.
Dự án Nhà ở xã hội tại Quảng Ninh quy mô 850 căn hộ đang thi công phần móng và phấn đấu hoàn tất bán hàng ngay trong năm 2026. Còn N0-11 Dịch Vọng (Hà Nội) đặt mục tiêu hoàn thành móng và đủ điều kiện mở bán chậm nhất vào quý 1-2027.
Dù thị trường bất động sản đối diện với thách thức mặt bằng lãi suất và chi phí đầu vào ở mức cao, khó dự báo, giá neo cao tại đô thị, tuy nhiên NTL kỳ vọng dòng tiền thu từ hoạt động bán hàng là một yếu tố hỗ trợ.
Trên thị trường chứng khóan, cổ phiếu NTL đang giảm 15,3% từ đầu năm 2026 (tính đến hết phiên giao dịch 6-4). Ngoài NTL, hàng loạt mã khác như PDR, DIG, DXG đều đang giảm trên 10%.
Sau cuộc họp ngày 5/4, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) thống nhất tăng hạn ngạch sản xuất thêm 206.000 thùng một ngày trong tháng 5. Mức tăng này tương đương tháng 4.
Tuy nhiên, con số trên được đánh giá khiêm tốn và chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ, do các thành viên chủ chốt hiện khó nâng sản lượng. Tại vùng Vịnh, cơ sở hạ tầng đang chịu thiệt hại do các cuộc tấn công bằng tên lửa và thiết bị bay không người lái. Một số quan chức cho biết kể cả khi chiến sự chấm dứt và eo biển Hormuz được mở lại, các nước vẫn mất vài tháng để khôi phục hoạt động và đạt mục tiêu sản lượng.
Cuộc xung đột khiến eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa từ cuối tháng 2, chặn tuyến đường xuất khẩu của nhiều nước thành viên OPEC+ như Arab Saudi, UAE, Kuwait và Iraq. Đây là các quốc gia có khả năng nâng sản xuất mạnh nhất trước chiến sự.
Những nước khác trong OPEC+, như Nga, hiện cũng không thể tăng sản lượng, vì các lệnh trừng phạt của phương Tây và thiệt hại với cơ sở hạ tầng trong chiến sự Ukraine.
"Thực tế là số dầu được bổ sung ra thị trường rất ít. Khi eo biển Hormuz vẫn đóng, việc OPEC+ tăng sản xuất ít có ý nghĩa", Jorge Leon - cựu quan chức OPEC, hiện làm việc tại hãng tư vấn năng lượng Rystad Energy nhận định.
Mức tăng trên chỉ tương đương gần 2% lượng dầu bị thiếu hụt do eo biển Hormuz tê liệt. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy OPEC+ sẵn sàng nâng sản xuất ngay khi tuyến đường thủy này mở lại, các nguồn tin của Reuters cho biết.
Cuối tuần trước, Iran tuyên bố các tàu của Iraq được đi qua Hormuz. Dữ liệu vận tải ngày 5/4 cho thấy một tàu chở dầu thô của Iraq đã đi qua eo biển này.
JPMorgan tuần trước dự báo giá dầu có thể vượt 150 USD một thùng - cao nhất lịch sử, nếu dòng chảy năng lượng qua Hormuz gián đoạn đến giữa tháng 5.
Iran là một trong 22 thành viên của OPEC+. Tổ chức này giảm sản lượng từ 2022 nhằm ngăn dư cung trên thị trường khiến giá giảm. Từ tháng 4/2025, sản xuất của nhóm dần tăng lên, nhằm giành lại thị phần từ các đối thủ, như Mỹ. Tính đến hiện tại, họ tăng sản xuất thêm 2,9 triệu thùng một ngày.
Cảng quốc tế Chu Lai chính thức đưa vào vận hành hệ thống điện năng lượng mặt trời đầu tiên, từng bước ứng dụng năng lượng sạch trong hoạt động khai thác cảng
Dự án được triển khai theo 3 giai đoạn, với tổng công suất dự kiến đạt 5.100 kWp. Trong đó, giai đoạn 1 được triển khai theo 2 đợt liên tiếp trong năm 2026.
Cụ thể, đợt 1 bắt đầu từ tháng 1-2026 với công suất 700 kWp trên diện tích gần 5.000 m². Tiếp nối, trong tháng 4-2026, cảng triển khai đợt 2 với quy mô mở rộng thêm 800 kWp trên diện tích hơn 7.200 m².
Sau khi hoàn thành cả 2 đợt, tổng công suất giai đoạn 1 đạt 1.500 kWp với khoảng 2.300 tấm pin năng lượng mặt trời, sản lượng điện dự kiến khoảng 2,1 triệu kWh/năm.
Trong các giai đoạn tiếp theo, cảng sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng với tổng công suất bổ sung đạt 3.600 kWp (tương đương sản lượng điện khoảng trên 5 triệu kWh/năm), triển khai trên quy mô lớn tại hệ thống kho bãi và hạ tầng hiện hữu.
Khi hoàn thành, tổng công suất điện mặt trời tại Cảng quốc tế Chu Lai đáp ứng toàn bộ nhu cầu cung cấp điện cho hoạt động khai thác, đặc biệt là hệ thống container lạnh và chuỗi logistics nông nghiệp.
Nguồn điện năng lượng mặt trời được sử dụng trong các hoạt động xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, bãi tại cảng
Lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời
Với tổng diện tích 140 ha, trong đó khu kho bãi chiếm khoảng 20 ha, Cảng quốc tế Chu Lai có lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời áp mái. Kết hợp với điều kiện thời tiết khu vực miền Trung có số giờ nắng cao và bức xạ tốt, hệ thống này tạo ra nguồn điện ổn định, giúp duy trì liên tục hoạt động xếp dỡ, lưu trữ hàng hóa, hạn chế rủi ro gián đoạn trong khai thác.
Việc chủ động sử dụng nguồn điện tại chỗ giúp cảng giảm đáng kể chi phí điện năng - một trong những cấu phần chi phí lớn trong khai thác cảng, đặc biệt đối với vận hành container lạnh và hệ thống kho. Qua đó, tạo cơ sở quan trọng để cảng triển khai các chính sách giá linh hoạt và cạnh tranh hơn cho khách hàng.
Cảng quốc tế Chu Lai định hướng duy trì ổn định đơn giá dịch vụ trong dài hạn, hạn chế tối đa tác động từ biến động giá nhiên liệu và giá điện; đồng thời tối ưu chi phí lưu bãi, vận hành container lạnh và dịch vụ logistics liên quan, giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu - đặc biệt trong lĩnh vực nông sản - giảm áp lực chi phí chuỗi cung ứng, gia tăng hiệu quả kinh doanh.
Không chỉ mang lại lợi ích về chi phí, dự án còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống và từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển cảng xanh.
Đây là một trong những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của Cảng quốc tế Chu Lai trong bối cảnh ngành logistics đang chuyển dịch mạnh theo hướng bền vững.
Hệ thống điện năng lượng mặt trời giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh chi phí năng lượng liên tục gia tăng và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao, việc đầu tư hệ thống điện mặt trời không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là chiến lược dài hạn, giúp Cảng quốc tế Chu Lai chủ động nguồn lực, đồng hành cùng khách hàng tối ưu chi phí và phát triển bền vững.
Theo báo cáo mới nhất của Cushman & Wakefield, lĩnh vực trung tâm dữ liệu tại châu Á - Thái Bình Dương đang trải qua một sự dịch chuyển mang tính cấu trúc về chi phí phát triển, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) tăng tốc và định hình lại cách các cơ sở này được thiết kế, cấp điện và xây dựng.
Thông tin được nêu trong Cẩm nang Chi phí xây dựng Trung tâm dữ liệu tại châu Á - Thái Bình Dương 2026. Theo đó, Nhật Bản là thị trường có chi phí xây dựng cao nhất khu vực, ở mức 19,2 triệu USD/MW, tiếp theo là Singapore với 17,9 triệu USD/MW, trong khi Đài Loan ghi nhận mức thấp hơn, khoảng 7,9 triệu USD/MW.
Quy mô trung tâm dữ liệu không được đo bằng diện tích hay số lượng máy chủ, mà bằng tổng công suất điện có thể cung cấp cho hệ thống máy chủ. Vì vậy, chi phí xây dựng thường được tính theo đơn vị USD/W (USD trên mỗi watt công suất điện).
Việt Nam đang nổi lên trong làn sóng phát triển trung tâm dữ liệu tiếp theo của khu vực. Tại TP.HCM và Hà Nội, chi phí xây dựng dao động từ 5,7-8,7 triệu USD/MW, tương đương mức trung bình khoảng 7,2 triệu USD/MW.
Mức này tương đồng với ước tính trước đó của CBRE, cho rằng chi phí xây dựng trung tâm dữ liệu tại Việt Nam vào khoảng 7 USD/W.
Ông Andrew Green, Trưởng nhóm Trung tâm Dữ liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Cushman & Wakefield, nhận định nhu cầu AI đang tái định hình các tiêu chuẩn kỹ thuật của trung tâm dữ liệu, từ mật độ điện năng, hệ thống làm mát đến yêu cầu kết cấu.
Những thay đổi này kéo theo mức chi phí đầu tư tăng và có chênh lệch đáng kể giữa các thị trường, tùy thuộc vào khả năng cung ứng điện, nguồn nhân lực và điều kiện triển khai tại từng địa phương.
Khả năng tiếp cận nguồn điện ngày càng trở thành yếu tố then chốt đối với tính khả thi của các dự án trung tâm dữ liệu. Báo cáo cũng cho biết thời gian chờ để có nguồn điện mới cho dự án trung tâm dữ liệu quy mô 100MW tại các thị trường trọng điểm ở Việt Nam ước tính khoảng 2-3 năm.