Dữ liệu phân tích mới nhất tại khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á chỉ ra gánh nặng lớn từ virus hợp bào hô hấp (RSV) ở trẻ dưới 5 tuổi. Cụ thể, Việt Nam có tỷ lệ trẻ nhiễm RSV trong số các ca bệnh nhiễm trùng hô hấp chiếm 35,5%, đứng sau Myanmar và New Zealand. Loại mầm bệnh này lưu hành liên tục quanh năm tại nước ta thay vì chỉ bùng phát theo mùa.
Thảo luận tại hội nghị khoa học “Hành trình miễn dịch trọn đời” vừa diễn ra tại Quy Nhơn với sự tham gia của hơn 400 chuyên gia y tế trong nước và quốc tế, GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, cảnh báo RSV là tác nhân hô hấp rất phổ biến ở trẻ nhũ nhi, có thể gây ra các di chứng như hen suyễn và thở khò khè với tỷ lệ nhập viện cao hơn 5-16 lần so với cúm.
Mỗi năm có hàng chục triệu ca mắc RSV trên toàn cầu, với nguy cơ tử vong cao ở trẻ nhỏ, nhất là những bé có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện. Bệnh thường khởi phát giống cảm lạnh nhưng có thể nhanh chóng tiến triển thành viêm tiểu phế quản, viêm phổi và suy hô hấp.
Thực tế cho thấy phần lớn các ca nhập viện rơi vào nhóm trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi. Đây đa số là những em bé sinh đủ tháng và hoàn toàn khỏe mạnh trước khi mắc bệnh. Tình trạng này không chỉ đe dọa sức khỏe của trẻ mà còn vắt kiệt tài chính của nhiều gia đình và tạo áp lực lên hệ thống y tế. Vì vậy, giáo sư Tiến nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận diện nguy cơ sớm, trao đổi thông tin với nhân viên y tế một cách liên tục, bao gồm cả giai đoạn thai kỳ cho đến sau khi trẻ chào đời.
Bên cạnh trẻ nhỏ, các chuyên gia tại hội nghị cũng cảnh báo về rào cản dự phòng ở chiều ngược lại của vòng đời, tức nhóm người cao tuổi và người có bệnh nền. PGS.TS.BS Lê Khắc Bảo, Phó giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM, nhận định quá trình lão hóa khiến hệ miễn dịch suy giảm nhanh. Người từ 65 tuổi rất dễ mắc các bệnh nhiễm trùng hô hấp thể nặng. Đặc biệt, tình trạng đồng nhiễm cả virus và vi khuẩn có thể khiến bệnh tình chuyển biến xấu chớp nhoáng và đẩy nguy cơ tử vong lên mức cao.
Mặc dù rủi ro lớn, tỷ lệ người dân chủ động bảo vệ sức khỏe lại thấp. Khảo sát thực tế năm 2024 tại một cơ sở y tế ở Hà Nội cho thấy chỉ có 11,5% người lớn tiêm phòng phế cầu khuẩn. Thậm chí, theo khảo sát của Bộ Y tế năm 2023, chưa đến 6% người cao tuổi chủ động phòng ngừa cúm hàng năm.
Giáo sư Jana Shaw, Đại học Upstate, Mỹ, lý giải tỷ lệ dự phòng thấp không hẳn do thiếu dịch vụ y tế. Nguyên nhân đến từ tâm lý chần chừ và phân vân của người dân. Nhiều người trì hoãn việc phòng bệnh do chưa nhận thức đủ độ nguy hiểm của các loại virus, lo ngại về tính an toàn hoặc gặp rào cản về chi phí.
Để giải quyết bài toán này, GS.TS.BS Phan Trọng Lân, Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Trung ương, nhấn mạnh ngành y tế cần chuyển dịch sang chiến lược “miễn dịch trọn đời”. Khái niệm này đòi hỏi tiếp cận dự phòng theo vòng đời – tức xem xét rủi ro và nhu cầu bảo vệ sức khỏe theo từng giai đoạn phát triển, theo từng lứa tuổi và nhóm nguy cơ – thay vì chỉ nhìn theo từng bệnh riêng lẻ.
Chiều 13-4, Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM vừa phát đi cảnh báo về tình trạng có nơi làm giả thuốc của bệnh viện, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín đơn vị và tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe người bệnh.
Theo thông tin từ bệnh viện, thời gian gần đây xuất hiện các sản phẩm thuốc không rõ nguồn gốc được gắn nhãn mác giả mạo, khiến người bệnh dễ nhầm lẫn với thuốc do bệnh viện sản xuất và phân phối chính thức.
Bệnh viện khuyến cáo người dân cần lưu ý một số đặc điểm thường gặp ở thuốc giả như nhãn dán đơn giản, chất lượng in kém, chữ mờ, không có logo bệnh viện.
Các sản phẩm thuốc do Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM sản xuất và phân phối có các đặc điểm: bao bì thiết kế rõ ràng, chuyên nghiệp, thông tin đầy đủ gồm tên bệnh viện, địa chỉ và tiêu chuẩn sản xuất (GMP-WHO), chữ in sắc nét, có nhận diện thương hiệu chính thức, viên thuốc đồng đều, đóng gói đúng quy cách.
Bệnh viện khuyến cáo người dân chỉ mua thuốc tại hai cơ sở chính thức của bệnh viện, không mua thuốc trôi nổi, không rõ nguồn gốc. Khi có nghi ngờ về sản phẩm, liên hệ trực tiếp bệnh viện để được xác minh.
Bệnh viện cũng cung cấp số điện thoại nhà thuốc 0973.788.187 để hỗ trợ người dân kiểm tra thông tin và tư vấn khi cần thiết.
Hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7-4, báo Sức Khỏe & Đời Sống phối hợp tổ chức chương trình tọa đàm trực tuyến với chủ đề "Sàng lọc ung thư phổi - Từ câu chuyện người bệnh đến nhu cầu chính sách quốc gia".
Theo PGS.TS Đỗ Hùng Kiên - Phó giám đốc Bệnh viện K, thực tế điều trị cho thấy chỉ khoảng 20% bệnh nhân ung thư phổi đến viện ở giai đoạn sớm có thể phẫu thuật.
Phần lớn còn lại đã ở giai đoạn 3 hoặc 4. Khoảng 40 - 50% bệnh nhân ở giai đoạn 4; 25 - 30% ở giai đoạn 3. Khi đó mục tiêu điều trị không còn là chữa khỏi, mà chủ yếu kiểm soát bệnh, kéo dài sự sống.
Trong khi đó nếu phát hiện sớm, cơ hội sống thay đổi hoàn toàn. Tỉ lệ sống trên 5 năm ở giai đoạn 1 có thể lên tới 70 - 90%, thậm chí 92% ở giai đoạn rất sớm. Nhưng con số này giảm mạnh còn khoảng 10% ở giai đoạn 4.
Theo PGS Kiên, không chỉ khác biệt về cơ hội sống, phát hiện sớm còn giúp giảm đáng kể chi phí điều trị. Trường hợp người bệnh phát hiện ở giai đoạn rất sớm, chi phí phẫu thuật chỉ khoảng 20 - 30 triệu đồng nhờ có bảo hiểm. Nếu phát hiện muộn, chi phí điều trị kéo dài, có thể cao hơn rất nhiều lần.
Bên cạnh đó, PGS Kiên cũng cho rằng hiện nay với sự tham gia ngày càng lớn của trí tuệ nhân tạo (AI) trong y tế giúp phát hiện sớm tổn thương phổi.
Tại nhiều quốc gia như Nhật Bản, Malaysia, AI đã được ứng dụng trong phân tích hình ảnh X-quang, CT để phát hiện sớm tổn thương phổi.
AI có thể giúp phát hiện những tổn thương nhỏ mà mắt thường khó nhận ra, đồng thời rút ngắn thời gian đọc phim và hỗ trợ tuyến dưới.
"AI không thay thế bác sĩ, nhưng là công cụ rất quan trọng để mở rộng sàng lọc diện rộng, đặc biệt ở những nơi thiếu nhân lực", PGS Kiên chia sẻ.
Dù lợi ích rõ ràng nhưng theo các chuyên gia, việc phát hiện sớm ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân không chỉ nằm ở nhận thức người dân mà còn ở hệ thống. Hiện nay việc tầm soát chủ yếu diễn ra rải rác tại một số cơ sở y tế, hoặc dựa vào khám sức khỏe định kỳ tự phát.
TS Lê Thái Hà, Phó cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), cho rằng khó khăn lớn nhất là sự không đồng đều về năng lực y tế cơ sở, cả về nhân lực lẫn trang thiết bị.
"Sàng lọc cần triển khai từ tuyến cơ sở, nhưng hiện nay nhiều nơi còn thiếu thiết bị như X-quang, CT liều thấp, cũng như nhân lực được đào tạo bài bản. Bên cạnh đó chi phí cũng là rào cản. Các kỹ thuật sàng lọc hiệu quả như CT liều thấp vẫn còn đắt đỏ và chưa được bảo hiểm y tế chi trả rộng rãi", TS Hà nói.
Để triển khai hiệu quả tầm soát ung thư phổi, theo TS Hà, cần nhiều giải pháp đồng bộ như xây dựng chương trình sàng lọc ung thư phổi cấp quốc gia; ưu tiên nhóm nguy cơ cao; đầu tư trang thiết bị, đặc biệt tại y tế cơ sở; ứng dụng AI và kết nối tuyến trên - tuyến dưới. Ngoài ra cần có cơ chế hỗ trợ tài chính, mở rộng chi trả bảo hiểm và tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức.
Mục tiêu không chỉ là phát hiện bệnh mà còn giúp người dân nhận diện nguy cơ và chủ động quản lý sức khỏe.
Dự kiến trong thời gian tới, Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2028 mỗi người dân sẽ có hồ sơ sức khỏe điện tử, làm nền tảng cho việc theo dõi và sàng lọc lâu dài. Đồng thời các hướng dẫn chuyên môn về khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc sẽ được chuẩn hóa trên toàn quốc.
Hôm 6/4, tờ Maeil Business Newspaper đưa tin sự việc xảy ra vào tối ngày 1/3, khi người phụ nữ đang lưu trú tại một khách sạn ở Daegu thì xuất hiện những cơn đau bụng. Chồng cô, anh A, đã liên hệ với một phòng khám sản phụ khoa địa phương lúc 22h16 nhưng được hướng dẫn nên đến bệnh viện tuyến đại học vì cô chưa có hồ sơ khám bệnh tại đây.
Khoảng 1h hôm sau, khi cơn đau trở nên dữ dội, anh A gọi cấp cứu 119. 10 phút sau, xe cứu thương có mặt nhưng lại phải "chôn chân" tại chỗ suốt 50 phút do các nhân viên cứu hộ đã liên lạc với 7 bệnh viện lớn tại Daegu nhưng tất cả đều từ chối tiếp nhận với lý do "không có bác sĩ sản khoa trực" hoặc "thiếu trang thiết bị chăm sóc trẻ sơ sinh".
Không chờ đợi thêm, anh A quyết định tự lái xe đưa vợ đến Bệnh viện Đại học Quốc gia Seoul tại Bundang, nơi vợ anh từng thăm khám trước đó. Trên đường đi, gia đình vẫn không ngừng gọi điện cầu cứu các bệnh viện gần đó. Anh A kể: "Vợ tôi từng phải thực hiện thủ thuật khâu vòng cổ tử cung để ngăn sinh non. Khi cô ấy chuyển dạ, tính mạng của cả mẹ và hai con đều ngàn cân treo sợi tóc".
Hành trình tìm bệnh viện càng thêm rối ren do thiếu sự kết nối thông tin. Trong lúc anh A cầm lái, mẹ anh liên tục gọi cho 119 khu vực Gyeongbuk và Chungbuk. Đến 3h20, họ gặp được đội cứu hộ nhưng việc bàn giao bệnh nhân lại bị chậm trễ do thông tin không được truyền đạt chính xác giữa các đội. Mãi tới 4h42, sản phụ mới được chuyển sang xe cấp cứu để tăng tốc đến Bundang. Theo nhật ký cứu hộ lúc đó, sản phụ đã bị vỡ ối và huyết áp đang giảm sâu.
Cuối cùng, sau 4 giờ kể từ cuộc gọi cấp cứu đầu tiên, sản phụ mới đến được Đại học Quốc gia Seoul lúc 5h35. Người mẹ may mắn sống sót nhưng bé đầu tiên ra đời bằng phương pháp sinh mổ tử vong chưa đầy một ngày sau đó do thiếu oxy. Bé thứ hai hiện được điều trị tích cực tại phòng chăm sóc đặc biệt (NICU) với chẩn đoán tổn thương não.
"Trong lúc chăm sóc vợ, tôi nhận được cuộc gọi từ y tá nói rằng em bé khó lòng qua khỏi, hãy đến bế con lần cuối. Đó là cách tôi mất đi đứa con đầu lòng của mình", anh A nghẹn ngào.
Tình trạng các cơ sở y tế từ chối tiếp nhận bệnh nhân cấp cứu do thiếu nhân lực, thiết bị và giường bệnh đang gia tăng chóng mặt tại Hàn Quốc. Dữ liệu từ Trung tâm Y tế Quốc gia cho thấy số vụ thông báo "không thể tiếp nhận bệnh nhân" đã tăng hơn gấp đôi, từ gần 59.000 ca năm 2023 lên đến gần 120.000 ca vào năm ngoái.
Ông Lee Hyung-min, Chủ tịch Hiệp hội Y học Cấp cứu Hàn Quốc, chỉ trích phản ứng ban đầu của lực lượng 119 còn thiếu sót. "Những bệnh viện có đầy đủ trang thiết bị, nhân lực và giường bệnh để tiếp nhận các ca sản nguy cơ cao hiện nay đếm trên đầu ngón tay", chủ tịch Lee nhận định. "Lẽ ra, ngay từ lúc xuất phát, phía cấp cứu đã phải nắm rõ khả năng điều trị thực tế của các bệnh viện tại Daegu (để có phương án khác ngay lập tức)", ông nói thêm.
Tuy nhiên, ông Lee cũng chỉ ra nguyên nhân cốt lõi nằm ở rào cản pháp lý: "Các bệnh viện lo ngại phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu xảy ra tai nạn y khoa khi họ tiếp nhận bệnh nhân mà không có đủ năng lực điều trị cuối cùng. Nhà nước phải đứng ra chịu trách nhiệm trong việc cải thiện thể chế và phát triển cơ sở hạ tầng y tế".
Trước vụ việc này, người phát ngôn Bộ Y tế và Phúc lợi Hàn Quốc, ông Hyun Soo-yeop, khẳng định chính phủ đang xem xét vấn đề một cách nghiêm túc và có kế hoạch mở rộng dự án thí điểm đổi mới hệ thống vận chuyển bệnh nhân trên phạm vi toàn quốc.